1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi cắt thận ở trên người sống cho thận ghép tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá: nhân 3 trường hợp đầu tiên

7 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 452,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung đánh giá kết quả bước đầu của phương pháp cắt thận nội soi trên người sống cho thận ghép tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa.

Trang 1

PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT THẬN TRÊN NGƯỜI SỐNG CHO

THẬN GHÉP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HOÁ:

NHÂN 3 TRƯỜNG HỢP ĐẦU TIÊN

Trương Thanh Tùng 1 ; Lê Nguyên Vũ 2

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá kết quả bước đầu của phương pháp cắt thận nội soi trên người sống cho

thận ghép tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả

3 trường hợp cắt thận nội soi trên người sống cho thận ghép tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh

Hoá từ 07 - 2018 đến 12 - 2018: Kết quả: chỉ số trung bình: lứa tuổi, BMI, thời gian thiếu máu

nóng, thời gian mổ và thời gian dùng thuốc giảm đau lần lượt là: 48,3 năm; 25,5 kg/m2; 5 phút

45 giây; 125 phút và 2,5 ngày Không gặp tai biến-biến chứng đáng kể Kiểm tra sau mổ 3

tháng không thấy nhiễm trùng hay thoát vị lỗ trocar Kết luận: phẫu thuật nội soi cắt thận trên

người sống cho thận ghép là phương pháp an toàn, ít xâm lấn, mang tính thẩm mỹ cao và giúp

người cho thận phục hồi sau mổ nhanh hơn Tuy mới chỉ thực hiện trên 3 trường hợp cắt thận

phải nội soi qua ổ bụng, nhưng kết quả mang lại cho người cho thận là khả quan

* Từ khoá: Cắt thận; Ghép thận; Phẫu thuật nội soi

Laparoscopic Live Donor Nephrectomy at Thanhhoa General

Hospital: The First 3 Cases

Summary

Objectives: Evaluation of initial results of laparoscopic live donor nephrectomy at Thanhhoa

General Hospital Subjects and methods: Description study on 3 laparoscopic liver donor

nephrectomy patients at Thanhhoa General Hospital from 7 - 2018 to 12 - 2018 Results: The mean of donor age, body mass index, warm ischemic time, operative time and analgesic

requirement time were: 48.3 years; 25.5 kg/m 2 ; 5 minutes 45 seconds; 125 minutes and 2.5 days, respectively No significant complications Three-month postoperative examination did

not detect any infections or hernia of wound of trocar Conclusions: Laparoscopic live donor

nephrectomy is a safer, less invasive, and aesthetic method, as well as more recovery for the

donor Although only three cases of laparoscopic live donor nephrectomy, but the results are

good for the donor

* Keywords: Nephrectomy; Kidney transplant; Laparoscopic surgery

1 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá

2 Bệnh viện Việt Đức

Người phản hồi (Correspongding): Trương Thanh Tùng (tungtnqy@gmail.com)

Ngày nhận bài: 17/12/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 08/01/2019

Ngày bài báo được đăng: 15/02/2019

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, ghép thận là phương pháp

hiệu quả và được ứng dụng rộng rãi để

điều trị cho bệnh nhân (BN) suy thận mạn

tính giai đoạn cuối Tại các nước Âu-Mỹ,

tỷ lệ ghép thận lấy từ người sống cho

thận chiếm khoảng 20 - 25% Tại Việt

Nam, nguồn lấy thận ghép chủ yếu từ

người sống cho thận [2]

Cắt thận nội soi trên người sống cho

thận được thực hiện lần đầu tiên vào năm

1995, đến nay đã trở thành kỹ thuật được

ưu tiên lựa chọn và áp dụng ở nhiều quốc

gia Tính đến năm 2006, ở Mỹ có khoảng

1.000 trường hợp cắt thận nội soi để

ghép [8] Ở nước ta, việc áp dụng kỹ

thuật này đã được thực hiện từ năm 2004

tại một số trung tâm: Bệnh viện Chợ Rẫy,

Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Nhi TW,

Bệnh viện TWQĐ 108… Bệnh viện Đa

khoa tỉnh Thanh Hoá đã thực hiện phẫu

thuật nội soi (PTNS) qua ổ bụng cắt thận

trên người sống cho thận ghép từ tháng

07 - 2018, qua 3 trường hợp đầu tiên

thực hiện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

này nhằm: Đưa ra một số nhận xét ban

đầu với vai trò định hướng cho những ca

tiếp theo

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

3 BN cho thận được PTNS cắt thận

qua ổ bụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh

Thanh Hoá từ tháng 07 - 2018 đến 12 -

2018 Ngoài các xét nghiệm để lựa chọn

cặp ghép (nhóm máu ABO, kháng thể

chống bạch cầu, HLA, phản ứng chéo…),

BN được kiểm tra trước mổ bằng MSCT

có dựng hình 3D mạch thận, hệ thống

đường bài xuất và xạ hình thận

Chọn bên lấy thận theo nguyên tắc: nếu 2 thận có chức năng giống nhau, giải phẫu bình thường thì ưu tiên lấy thận trái; nếu chức năng 1 bên kém hơn nhưng vẫn đảm bảo được chức năng thận sau ghép thì ưu tiên để lại thận tốt hơn cho người cho thận

2 Phương pháp nghiên cứu

Mô tả, tiến cứu Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu chung BN được lựa chọn, chuẩn bị và phẫu thuật theo quy trình thống nhất Kỹ thuật được cùng một kíp phẫu thuật viên thực hiện trên dàn máy nội soi 4K (Hãng Olympus)

Sử dụng dao siêu âm Hamonic scalpel-G11 (Hãng Ethicon Endo-Surgery)

* Chuẩn bị BN:

BN được gây mê nội khí quản, đặt huyết áp động mạch, đặt sonde dạ dày, sonde niệu đạo và làm sạch ruột trước

mổ

* PTNS qua ổ bụng cắt thận phải để ghép:

BN nằm nghiêng trái 900 có độn vùng thắt lưng, vai và hông cố định Đặt trocar đầu tiên (12 mm) theo phương pháp mở hoặc sử dụng kim Veress bơm CO2, sau

đó đặt trocar, điểm đặt trocar đầu tiên ở ngang rốn trên đường giữa đòn phải Duy trì bơm CO2 với áp lực 10 - 12 mmHg Dưới quan sát của ống kính soi, đặt tiếp trocar tại các vị trí như hình 1, bao gồm:

1 trocar 12 mm và 2 trocar 5,4 mm Rạch

và bóc mạc Told từ mức ngang động mạch chậu đi lên trên góc gan, hạ đại tràng lên, đại tràng góc gan để di động tối

đa và đẩy đại tràng vào trong, phẫu tích đẩy tiếp tá tràng vào trong bộc lộ cân Gerota, cơ Psoas, mặt trước thận và tĩnh mạch chủ dưới Bộc lộ niệu quản xuống

Trang 3

qua đoạn bắt chéo động mạch chậu, bóc

tách niệu quản, kẹp và cắt bằng clip

titanium hoặc Hem-o-lock Giải phóng

thận khỏi khoang thận Kẹp cắt động-tĩnh

mạch thận bằng clip titanium và

Hem-o-lock, riêng tĩnh mạch thận kẹp cắt bằng

dụng cụ cắt nối máy nội soi (Endo-GIA)

Lấy thận ghép ra ngoài qua đường rạch

hố chậu phải (dài khoảng 5 cm)

* PTNS qua ổ bụng cắt thận trái để

ghép:

Tương tự như bên phải nhưng phải hạ

đại tràng xuống và đại tràng góc lách

Trong thì xử lý mạch thận, hết sức lưu ý

đến các nhánh tĩnh mạch sinh dục, tĩnh

mạch thượng thận chính và tĩnh mạch

thắt lưng

soi qua ổ bụng để ghép

* Theo dõi:

- Tình trạng toàn thân, huyết động,

hô hấp và tại chỗ trong mổ Kháng sinh

dự phòng: nhóm cephalosporine kết hợp

nhóm quinolon Giảm đau: morphin và

non-steroid

- Thời gian thiếu máu nóng, thời gian

mổ, thời gian dùng thuốc giảm đau, thời

gian nằm viện (tính từ ngày mổ đến khi

ra viện)

- Các tai biến-biến chứng, kiểm tra chức năng thận ghép các ngày sau mổ, kiểm tra lại BN cho thận sau mổ 3 tháng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm BN

Tuổi trung bình 48,3, tỷ lệ nam/nữ = 2/1,

có quan hệ huyết thống giữa người cho

và người nhận, 02 trường hợp cắt thận phải, 01 trường hợp cắt thận trái nội soi qua ổ bụng Trần Ngọc Sinh (2008) nghiên cứu 38 trường hợp cắt thận nội soi sau phúc mạc để ghép: tuổi trung bình 33,94 ± 9,85, không cùng huyết thống 2,63%, lấy thận bên trái 68,42% Gao Zhen-Li (2007) nghiên cứu 19 trường hợp cắt thận nội soi qua ổ bụng để ghép: tuổi trung bình 42,3 ± 10,6, tỷ lệ nam/nữ =

8/11 [3, 8]

Chỉ số BMI trung bình 25,5 kg/m2,

01 trường hợp BMI = 27,5 kg/m2, cao hơn không ý nghĩa thống kê so với nghiên cứu của Gao Zhen-Li (2007) là 23,8 ± 4,3 kg/m2 BMI càng lớn, xác suất cuộc mổ càng khó Theo Guidelines của Anh (2000): khi BMI > 30 kg/m2: chống chỉ định tương đối, > 35 kg/m2: chống chỉ định tuyệt đối tiến hành PTNS [4, 8]

2 Quá trình tiến hành

Cả 3 trường hợp đều đặt trocar đầu theo phương pháp mở Đặt trocar đầu theo phương pháp mở hay cách sử dụng kim Veress hiện còn nhiều quan điểm, có tác giả cho rằng sử dụng kim Veress đơn giản hơn, số khác lại cho rằng đặt theo phương pháp mở an toàn hơn [1, 10]

Mặc dù số liệu chưa đủ để kết luận, nhưng qua kinh nghiệm từ những trường

Trang 4

hợp cắt thận bệnh lý lành tính nội soi,

chúng tôi thiên về cách đặt theo phương

pháp mở

Không gặp tai biến nào khi duy trì áp lực

bơm CO2 trong mổ ở mức 10 - 12 mmHg

trên BN Theo Trần Bình Giang (2003),

nên duy trì áp lực CO2 ≤ 12 mmHg để

tránh ảnh hưởng đến tuần hoàn và hô

hấp Theo Chung Hsiao-Jen (2009): nên

đặt BN ở tư thế Trendelenberg khi bắt

đầu bơm CO2 để tránh tắc mạch khí

thường xảy ra trong 5 - 8 phút đầu cuộc

mổ Trần Ngọc Sinh (2008) khuyên nên

duy trì áp lực CO2 ≤ 10 mmHg để tránh

ảnh hưởng đến thận ghép [1, 3, 7]

Vị trí đặt trocar hiện cũng có nhiều

cách: kiểu chữ L, kiểu hình kim cương…

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đặt 3 - 4

trocar theo kiểu hình bình hành hoặc chữ

L (hình 1) Theo Bollens R (2009), đây là

cách đặt trocar thuận lợi hơn cho cắt thận

nội soi qua ổ bụng để ghép [6, 7, 10]

* Bộc lộ thận, xử lý niệu quản và mạch

máu cuống thận:

Quá trình hạ đại tràng lên, đại tràng

góc gan sẽ quyết định việc bộc lộ mặt

trước thận và cuống thận [7, 10] BN

trong nghiên cứu đều được giải phóng

phúc mạc thành từ bờ đại tràng góc gan đến đoạn đại tràng lên, manh tràng và tận ngang mức mạch chậu nhằm di động và đẩy tối đa đại tràng vào trong Chúng tôi không gặp nhiều khó khăn do cả 3 BN có BMI không > 30 kg/m2, vì nếu quá cân sẽ

có nhiều mỡ bám cùng các dây chằng và lớp mỡ cạnh thận dày gây cản trở cho quá trình phẫu tích

Tìm và xử lý niệu quản được bắt đầu

từ ngang cực dưới thận, đi xuống giải phóng và cắt niệu quản ở ngang mức dưới chỗ bắt chéo mạch chậu Chúng tôi không gặp trường hợp nào bị niệu quản ngắn do cắt ở mức cao hơn chỗ bắt chéo mạch chậu, các niệu quản đều đủ để khâu nối được bằng cách trồng niệu quản-bàng quang kiểu Lich-Gregoire Theo Nogueira M (2005), Chung Hsiao-Jen (2009) và Breda A (2006), mức cắt niệu quản phải ở dưới chỗ bắt chéo mạch chậu mới đủ độ dài để ghép Cùng với

đó, việc giữ lại lớp mỡ quanh niệu quản

và lớp mỡ giữa niệu quản với tĩnh mạch sinh dục cũng rất quan trọng, vì đa số các mạch nuôi niệu quản đều xuất phát từ đây, nếu lấy đi lớp mỡ này, nguy cơ hẹp niệu quản sau ghép tăng đáng kể [5, 7, 10]

Trang 5

Hình 3: Kẹp cắt mạch cuống thận

Xử lý mạch cuống là vấn đề không dễ,

phải duy trì đủ độ dài cũng như sự toàn

vẹn các mạch Đối với động mạch, không

gặp trường hợp nào động mạch thận bị

ngắn hay 2 - 3 động mạch thận Trần

Ngọc Sinh (2008) cho rằng với trường

hợp có 2 - 3 động mạch thận vẫn có chỉ

định lấy thận nội soi để ghép, mặc dù thời

gian thiếu máu nóng kéo dài hơn, nhưng

vẫn đảm bảo ở mức cho phép [3]

Đối với tĩnh mạch thận, 1 trường hợp

cắt tĩnh mạch thận bị ngắn, nguyên nhân

do tĩnh mạch thận phải thường ngắn hơn

tĩnh mạch thận trái và khi cắt đã chưa

phẫu tích đến sát điểm đổ tĩnh mạch thận

vào tĩnh mạch chủ dưới, đây là ca đầu

tiên tiến hành PTNS lấy thận nên kinh

nghiệm còn hạn chế, tuy nhiên khi ghép

chỉ cần phẫu tích cắt các nhánh tĩnh mạc

chậu trong nhằm di động tối đa tĩnh mạch

chậu ngoài nên quá trình nối tĩnh mạch

thận ghép với tĩnh mạch chậu ngoài

không gặp khó khăn Chung Hsiao-Jen

(2009) cảnh báo nếu kẹp cắt các nhánh

tĩnh mạch tuyến thượng thận, sinh dục và

thắt lưng bằng clip nội soi hay Hem-o-lock

có thể là nguyên nhân gây thất bại khi sử

dụng Endo-GIA để kẹp cắt tĩnh mạch thận

ngay sau đó [7]

Số lượng clip nội soi hay Hem-o-lock

sử dụng cho mỗi mạch thận của chúng tôi phù hợp với quan điểm của Trần Ngọc Sinh (2008): mỗi động mạch hay tĩnh mạch thận dùng 1 Hem-o-lock + 2 clip titanium hoặc 2 Hem-o-lock và 1 clip titanium [3] Do mới triển khai cắt thận nội soi để ghép nên chúng tôi chủ trương sử dụng Endo-GIA để đảm bảo an toàn và tối ưu độ dài của tĩnh mạch thận, mặc dù dụng cụ này thường có giá thành cao và làm tăng chi phí cuộc mổ

* Giải phóng tổ chức quanh thận và lấy thận:

Theo Chung Hsiao-Jen (2009), không nên giải phóng toàn bộ thận ngay từ ban đầu mà chỉ sau khi kẹp cắt niệu quản Bollens R (2009) cho rằng nên giữ lại lớp

mỡ phía bờ thận để cắt sau cùng [6, 7]

BN trong nghiên cứu đều được giải phóng di động toàn bộ thận bằng dao siêu âm sau khi kẹp cắt niệu quản, các mạch cuống thận được kẹp cắt sau cùng (khi đã chuẩn bị sẵn sàng để lấy thận) Lấy thận bằng dụng cụ mổ mở qua vết rạch da 5 cm vùng hố chậu Theo Trần Ngọc Sinh (2008), ở điều kiện nước ta,

để tiết kiệm cho BN nên lấy thận hỗ trợ bằng tay [3]

Trang 6

Hình 4: Vết khâu chân trocar và

đường rạch lấy thận

* Một số kết quả:

Thời gian thiếu máu nóng trung bình

5 phút 45 giây, không trường hợp nào

kéo dài quá 7 phút Kết quả khác biệt

không đáng kể so với Trần Ngọc Sinh

(2008) là 5 phút 7 giây ± 2 phút 4 giây

Mặc dù mới triển khai kỹ thuật, nhưng

duy trì mức thời gian thiếu máu nóng như

vậy là chấp nhận được [3]

Thời gian mổ trung bình 125 phút

Khác biệt không có ý nghĩa thống kê so

với: Breda A (2006) là 180 ± 55 phút,

Nougueira M (2005) là 230 ± 29 phút Khi

so sánh mổ nội soi với mổ mở trong cắt

thận để ghép, Nougueira M (2005) nhận

thấy, mặc dù mổ nội soi có thời gian mổ

lâu hơn, nhưng lượng máu mất trong mổ

ít hơn so với mổ mở [5, 10]

Thời gian dùng thuốc giảm đau trung

bình 2,5 ngày Giảm đau dùng nhóm

non-steroid kết hợp với nhóm morphin trong

ngày đầu Nghiên cứu của Nougueira M

(2005) cho thấy, với mổ nội soi, lượng

thuốc cũng như số lượng thuốc giảm đau

giảm đáng kể so với mổ mở [10] Thời

gian nằm viện trung bình 7 ngày, tất cả

BN đều được chúng tôi giữ lại điều trị

nhằm nâng đỡ cơ thể và cắt chỉ xong mới cho xuất viện, không trường hợp nào phải

ở lại viện thêm ngày do biến chứng sau

mổ nội soi

Tai biến-biến chứng: do mới bước đầu triển khai kỹ thuật và số liệu còn ít nên chưa gặp tai biến-biến chứng nào đáng

kể Nghiên cứu của Gao Zhen-Li (2007),

tỷ lệ tai biến-biến chứng của mổ nội soi đường qua ổ bụng 5,3% Nougueira M (2005): tỷ lệ tai biến-biến chứng trong 200

ca đầu là 17%, trong đó tổn thương mạch máu thận nhiều nhất (2,3%) Halgrimson W.R (2010) tổng hợp hơn 37 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tai biến và biến chứng chung lần lượt là 5,2% và 6,7%, trong đó: tổn thương ruột 0,4%; tổn thương gan, mạc treo ruột và lách 0,7%; tràn khí màng phổi 0,1%; tổn thương mạch 1,4%; tắc ruột sau mổ 0,5% và nhiễm trùng chân trocar 1,4% [8, 9, 10]

Kiểm tra chức năng thận ghép các ngày sau mổ đều trong giới hạn cho phép Kiểm tra sau mổ 3 tháng được 2 BN, không có hiện tượng nhiễm trùng hay thoát vị chân trocar, BN đã trở về sinh hoạt bình thường

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi cắt thận trên người sống cho thận ghép là phương pháp an toàn, ít xâm lấn, mang tính thẩm mỹ cao

và giúp người cho thận phục hồi sau mổ nhanh hơn Tuy mới chỉ thực hiện được trên 3 trường hợp cắt thận phải nội soi qua ổ bụng, nhưng kết quả mang lại cho người cho thận là khả quan Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ chỉ định thường quy hơn cho những trường hợp cắt thận ghép trên người sống cho thận

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Bình Giang, Tôn Thất Bách PTNS

ổ bụng Nhà xuất bản Y học 2003

2 Lê Trung Hải Ghép tạng - một số kiến

thức chuyên ngành và quy trình kỹ thuật

Nhà xuất bản Y học 2009

3 Trần Ngọc Sinh và CS Kết quả cắt thận

nội soi qua ngả sau phúc mạc để ghép tại

Bệnh viện Chợ Rẫy Tạp chí Y học TP Hồ

Chí Minh 2008, 12 (4), tr.175-181

4 A working party of the British

Transplantation Society and the Renal

Association Giudelines for living donor kidney

transplantation 2000, Jan

5 Breda A, Bui M.H, Liao J.C, Albin G.H,

Schulam P.G Incidence of ureteral strictures

after laparoscopic donor nephrectomy The

Journal of Urology 2006, 176, pp.1065-1068

6 Bollens R Laparoscopic living donor nephrectomy Congress book of 17th annual meeting of FAUA 2009

7 Chung Hsiao-Jen Tips for a successful transperitoneal laparoscopic nephrectomy JTUA 2009, 20 (1), pp.4-9

8 Gao Zhen-Li et al Comparison of transperitoneal and retroperitoneal laparoscopic living donor nephrectomy Chin Med J 2007,

120 (4), pp.2314-2316

9 Halgrimson W.R et al Donor complications following laparoscopic compared to hand-assisted living donor nephrectomy: An analysis of the literature Journal of Transplantation 2010, p.10

10 Nogueira M, Kavoussi L.R, Bhayani S.B Laparoscopic live donor nephrectomy: Current status BJU International 2005, 95 (2), pp.59-64

Ngày đăng: 23/01/2020, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm