1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thay đổi của protein phản ứng C (CRP) trong bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ em

4 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 220,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài khảo sát sự thay đổi nồng độ CRP huyết thanh trên 150 bệnh nhi viêm não Nhật Bản được chẩn đoán xác định bằng sự hiện diện của IgM kháng virút này trong dịch não tủy. Kết quả cho thấy, lúc nhập viện có 64% bệnh nhi có nồng độ CRP ≥ 10mg/l, với nồng độ trung bình là 30mg/l. CRP tiếp tục tăng kéo dài 2 tuần sau đó ở những trường hợp diễn tiến phức tạp. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

THAY ĐỔI CỦA PROTEIN PHẢN ỨNG C (CRP) TRONG BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN Ở TRẺ EM

Đoàn Thịï Ngọc Diệp*

TÓM TẮT

Đề tài khảo sát sự thay đổi nồng độ CRP huyết thanh trên 150 bệnh nhi viêm não Nhật Bản được chẩn đoán xác định bằng sự hiện diện của IgM kháng virút này trong dịch não tủy Kết quả cho thấy, lúc nhập viện có 64% bệnh nhi có nồng độ CRP 10mg/l, với nồng độ trung bình là 30mg/l CRP tiếp tục tăng kéo dài 2 tuần sau đó ở những trường hợp diễn tiến phức tạp Nồng độ CRP lúc nhập viện không giúp tiên lượng diễn tiến bệnh nhưng có sự liên quan của CRP tiếp tục tăng trong quá trình điều trị với bội nhiễm, tử vong và di chứng ở bệnh nhi viêm não Nhật bản CRP là một thông số hữu ích giúp theo dõi và tiên lượng trong điều trị bệnh viêm não Nhật Bản

SUMMARY

THE ALTERATION OF SERUM CRP CONCENTRATION IN THE CHILDREN

WITH JAPANESE ENCEPHALITIS

Doan Thi Ngoc Diep * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 114 - 117

There were 150 children having a japanese encephalitis admitted at Nhi Dong I Hospital from

9/1997 to 11/2002 enrolled in the study At admission, 96 patients (64%) had the CRP level at least 10 mg/l, the mean was 30mg/l CRP level were still high in the cases with severe evolution There was the statistic relation between the increasing of CRP during the hospitalization with the nocosomial infection, the neurological sequela and the mortality (p <0,05) Conclusion: CRP is an usefull parameter to follow

up the evolution, especially the nosocomial infection, of the children patients with japanese encephalitis.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm não cấp do virút là nguyên nhân hàng đầu

trong bệnh lý nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương ở

trẻ em Tại Việt nam, virút viêm não Nhật Bản

(VNNB) là tác nhân quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ từ

20 – 60% các trường hợp viêm não do virút ở trẻ em

Bệnh nhi VNNB có thể tử vong do tình trạng tổn

thương nhu mô não do viêm, thiếu oxy, rối loạn điện

giải, phù não và đặc biệt là bội nhiễm trên bệnh nhi

hôn mê sâu CRP là một xét nghiệm giúp đánh giá

phản ứng viêm trong giai đoạn cấp Mục đích của đề

tài này nhằm khảo sát sự thay đổi của CRP trên bệnh

nhi VNNB và tìm sự liên quan của CRP với biến

chứng và diễn tiến bệnh

Mục tiêu chuyên biệt

1 Khảo sát sự thay đổi của nồng độ CRP ở những

bệnh nhi VNNB điều trị tại Khoa Nhiễm – Thần Kinh BV Nhi đồng I

2 Phân tích tìm sự liên quan giữa sự thay của CRP với các biến chứng và diễn tiến bệnh VNNB

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Các bệnh nhi VNNB điều trị tại Khoa Nhiễm – Thần kinh BV Nhi đồng I từ 9/97 đến 11/02

Tiêu chí chẩn đoán VNNB

Lâm sàng

Bệnh cảnh viêm não cấp với sốt và triệu chứng thần kinh xảy ra trong vòng 7 ngày sau khởi bệnh với

ít nhất 2 trong 3 triệu chứng: co giật khu trú hoặc lan tỏa, rối loạn tri giác, rối loạn hành vi

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

Dịch não tủy

Có sự hiện diện của kháng thể IgM kháng virút

VNNB

Tiêu chí loại trừ

Bệnh lý hệ thần kinh trung ương có sẵn hoặc có

bệnh lý khác đi kèm

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả cắt ngang có phân tích

Chọn mẫu theo kiểu thuận tiện

Tất cả bệnh nhi có sốt và hội chứng não cấp được

hỏi bệnh sử và khám lâm sàng theo bệnh án mẫu

Thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân

(IgM VNNB trong máu và DNT), chẩn đoán phân biệt

(cấy DNT, các xét nghiệm sinh hoá tế bào, nhuộm

gram, tìm kháng nguyên hoà tan trong DNT, cấy

máu), đánh giá phản ứng viêm không đặc hiệu (CRP,

số lượng bạch cầu, tốc độ lắng máu), chức năng gan,

ion đồ máu và nước tiểu, X quang phổi Khi kết quả

IgM kháng VNNB dương tính trong DNT và không có

tiêu chí loại trừ, bệnh nhi được đưa vào lô nghiên cứu

CRP được thức hiện lúc nhập viện và lặp lại lúc bệnh

diễn tiến nặng hơn và mỗi tuần đến khi trị số trở về

bình thường hoặc đến khi xuất viện Bệnh nhi được

điều trị theo phác đồ hường dẫn của BV Nhi đồng I

Phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS 10.0

KẾT QUẢ

Tổng số bệnh nhi được đưa vào lô nghiên cứu là

150 trường hợp

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 7 tuổi

Bệnh nhi nhỏ nhất 5 tháng tuổi, lớn nhất 15 tuổi Có

62,7% (94 bệnh nhi) là nam Tuyệt đại đa số (136

bệnh nhi, chiếm tỉ lệ 90,7%) được chuyển đến từ các

tỉnh, nhiều nhất là Tiền giang, Đồng nai, Tây ninh,

Long an và Bình thuận Chỉ có 14 bệnh nhi (9,3%) cư

ngụ tại TP Hồ Chí Minh, chủ yếu ở các huyện ngoại

thành 87,5% các trường hợp sống ở vùng nông thôn

Đặc điểm lâm sàng bệnh VNNB:

Các bệnh nhi trong lô nghiên cứu nhập viện

trung bình vào ngày thứ năm của bệnh, sớm nhất là ngày thứ nhất và trễ nhất là ngày thứ 25 Có 111 ca (74%) đã được điều trị ở tuyến trước hơn 24 giờ Các triệu chứng lâm sàng gồm có: co giật 109 ca (72,7%), gồng chi 80 ca (56,6%), liệt nửa người 69 ca (46%), liệt VII 18 ca (12%), liệt 2 chi dưới 6 ca (4%), rối loạn cơ vòng 10 ca (6,7%), rối loạn hô hấp 41 ca (27,3%) và phù gai thị 36 ca (24%)

Trong quá trình điều trị, 34 bệnh nhi (22,7%) có biến chứng suy hô hấp, 21 bệnh nhi (14%) có biến chứng sốc, 11 bệnh nhi (7,3%) có xuất huyết tiêu hóa, và 52 bệnh nhi (34,7%) có bằng chứng nhiễm trùng bệnh viện (viêm phổi hoặc nhiễm trùng huyết)

Tình trạng lúc xuất viện

Lúc xuất viện, có 72 bệnh nhi (48%) phục hồi hoàn toàn, không có bất kỳ triệu chứng thần kinh nào Các trường hợp còn lại, 16 bệnh nhi (10,7%) có

di chứng nhẹ, 17 bệnh nhi (11,3%) di chứng trung bình Đặc biệt, có đến 15 bệnh nhi (10%) có di chứng nặng, và 4 bệnh nhi (2,7%) phải sống ở trạng thái thực vật Tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi là 17,3% (26/150 ca)

Sự thay đổi của CRP

Nồng độ CRP trung bình của bệnh nhi VNNB

Lúc nhập viện, có 96 bệnh nhi (64%) có nồng độ CRP ≥ 10mg/l Nồng độ CRP trung bình vào thời điểm này là 30 mg/l 66 bệnh nhi được làm xét nghiệm sau 1 tuần và 16 bệnh nhi làm lại sau 2 tuần cho thấy nồng độ CRP trung bình vẫn còn cao

Bảng 1: Nồng độ CRP trung bình của bệnh nhi VNNB

Nồng độ CRP (mg/l) Thời điểm Số ca

Trung bình Thấp nhất Cao nhất

Lần thứ hai (ngày trung bình:11)

Lần thứ ba (ngày trung bình18)

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Sự liên quan giữa CRP với các biến

chứng

CRP lúc nhập viện ≥ 20 mg/l có liên quan đến

biến chứng bội nhiễm (Fischer test, p<0,05, OR: 1,1

– 4,4)

CRP lúc nhập viện ≥ 40 mg/l có liên quan đến

biến chứng sốc (χ2, p<0.01, OR: 1,9 – 30,3) và suy hô

hấp (χ2, p< 0,05, OR: 1,07 –5,25)

CRP tiếp tục tăng trong quá trình nằm viện có

liên quan đến biến chứng bội nhiễm (Fischer test,

p<0,05, OR: 1,66 – 30,42), sốc (Fischer test, p<0,05,

OR:1,43 – 69,98) và suy hô hấp (Fischer test, p<0,05,

OR: 1,86 –37,39)

Bảng 2: Sự liên quan giữa CRP với các biến chứng

trong quá trình nằm viện

Nồng độ

CRP Bội nhiễm Sốc XHTH Suy hô hấp

Lúc nhập

viện ≥ 20

P < 0.05 (F)

OR: 1,13 –

4,44

LNV ≥ 40 P <0.05

OR: 1,07 –

4,55

P<0,01 OR: 1,92 – 30,33

P<0,05 OR: 1,07 – 5,25 Tăng lúc

nằm viện

P<0,05 (F)

OR:1,66 –

30,42

P <0,05 (F) OR:1,43 – 69,98

OR:1,86 – 37,39

Liên quan giữa CRP với tử vong và di

chứng

Lúc nhập viện, nồng độ CRP không giúp tiên

lượng được diễn tiến bệnh Ngược lại, CRP tiếp tục

tăng trong quá trình điều trị có liên quan đến tử vong

và di chứng nặng của bệnh nhi VNNB (Fischer test, p

<0,05, OR: 1,4 – 68,8)

Bảng 3: Sự liên quan giữa CRP và bạch cầu vời diễn

tiến bệnh:

CRP tiếp tục tăng OR: 1,43 – 68,79 P <0,05 (F) OR; 1,74 – 28,24 P <0,05

Bạch cầu tiếp tục

tăng

P <0,05 OR: 1,16 – 11,04 BCĐNTT tiếp tục

tăng

P <0,001 OR: 2,82 – 34,77

Sự liên quan giữa CRP với tốc độ máu lắng (VS) và bạch cầu máu, BC đa nhân trung tính máu

Lúc nhập viện, có sự liên quan giữa CRP ≥ 40mg/l với VS ≥ 50mm giờ đầu (F, p<0,05; OR: 1,62 –34,12)

Trong nghiên cứu của chúng tôi không thấy sự liên quan giữa CRP tăng với bạch cầu máu tăng hay bạch cầu đa nhân trung tính tăng

BÀN LUẬN Dân số nghiên cứu

Không có sự khác biệt về tuổi trung bình, giới tính và nơi cư ngụ của bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu khác ở cả hai miền nam bắc nước ta Do đặc điểm sinh thái của vectơ truyền bệnh cũng như của các động vật mang virút VNNB trong thiên nhiên, bệnh VNNB thường xảy ra ở vùng nông thôn, nơi có đồng ruộng, chim chóc và heo Vì vậy bệnh nhi của chúng tôi tuyệt đại đa số sống ở nông thôn Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 7 tuổi Trẻ em ở lứa tuổi này thường có những hoạt động vui chơi ngoài trời, nhất là vào

lúc chạng vạng tối, thời điểm mà muỗi Culex

tritaeniorhynchus hoạt động mạnh nhất để hút máu

người

Sự thay đổi của CRP

CRP là một loại protein phản ứng viêm do gan tổng hợp trong giai đoạn cấp dưới tác động của các lymphokin, chủ yếu là IL-1β, IL-6 và TNF Sau khi hiện tượng viêm bắt đầu, CRP tăng trong vòng 4 đến

6 giờ đầu và đạt đỉnh cao nhất vào giờ thứ 36 –50 CRP tiếp tục tăng nếu phản ứng viêm hoặc quá trình phá hủy mô tiếp tục diễn tiến Ngược lại, nếu điều trị có đáp ứng thì CRP sẽ giảm nhanh vì CRP có thời gian bán hủy rất ngắn, chỉ từ 4 đến 7 giờ CRP tăng sớm nhất trong giai đoạn cấp của phản ứng viêm Đỉnh cao của VS đạt tới muộn hơn, khoảng 7 ngày sau khi phản ứng viêm xuất hiện và trở về bình thường cũng chậm hơn Vì vậy, trên lâm sàng, CRP giúp theo dõi đáp ứng điều trị trong các bệnh lý nhiễm trùng cấp tính tốt hơn VS

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

Các nghiên cứu cho thấy CRP tăng cao trong

bệnh lý nhiễm vi trùng hơn là nhiễm virút Tuy

nhiên, Hasson (1993), nhận thấy có 10% bệnh nhân

viêm màng não do virút có nồng độ CRP huyết thanh

tăng cao từ 50 – 150 mg%, đặc biệt trong ng hợp có

hoại tử mô kèm theo Wallach (1992) cũng nhận thấy

CRP tăng cao trong bệnh lý nhiễm vi trùng nhưng

cũng có thể tăng rất cao trong nhiễm virút

Lúc nhập viện, có 96 bệnh nhi (64%) có nồng độ

CRP ≥ 10mg/l, với nồng độ trung bình là 30 mg/l Các

trường hợp được tiếp tục theo dõi CRP đó là những

bệnh nhi có diễn tiến phức tạp, nên nồng độ CRP

trung bình vẫn còn cao CRP tăng trong nghiên cứu

của chúng tôi có thể liên quan đến bội nhiễm Tuy

nhiên, có một số trường hợp CRP tăng lúc nhập viện

nhưng bệnh nhi không có nằm viện tuyến trước và

sau đó cũng không có bằng chứng bội nhiễm

Sự liên quan giữa CRP với diễn tiến

bệnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi CRP lúc nhập

viện tăng ≥ 10mg/l không liên quan đến bội nhiễm

Nhưng nếu nồng độ CRP ≥ 20mg/l thì có liên quan

đến bội nhiễm (p<0,05) Có 111 bệnh nhi đã được

điều trị ở bệnh viện tuyến trước trên 24 giờ trước khi

chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng I Tuy nhiên, không

có liên quan giữa điều trị tuyến trước với biến chứng

bội nhiễm trong nghiên cứu của chúng tôi Điều đó

cho thấy CRP cao lúc nhập viện không hẵn là do

nhiễm trùng từ tuyến trước Khi theo dõi sự thay đổi

của CRP vào những ngày sau đó, chúng tôi nhận thấy

CRP tiếp tục tăng trong quá trình điều trị là một yếu

tố tiên lượng nặng, có liên quan chặt chẽ với tử vong

và di chứng bệnh VNNB Điều này có thể do bội

nhiễm vi trùng trong bệnh viện hoặc do tổn thương

hoại tử mô tiếp tục diễn tiến trong quá trình điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số lượng bạch

cầu máu, bạch cầu đa nhân trung tính máu và VS

tăng lúc nhập viện hoặc tiếp tục tăng trong quá trình

điều trị hoặc có sự hiện diện của bạch cầu đũa trong máu ngoại biên không liên quan đến tử vong, ngay cả với biến chứng bội nhiễm vi trùng trong bệnh viện

KẾT LUẬN

CRP là một xét nghiệm hữu ích giúp theo dõi điều trị bệnh VNNB CRP tiếp tục tăng trong quá trình điều trị cần phải được tầm soát các nguyên nhân nhiễm trùng bệnh viện Khi CRP tiếp tục tăng có nghĩa là bệnh đang diễn tiến nặng, có liên quan đến tử vong và di chứng bệnh VNNB

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Triệu An, Homberg J.C (1998), Miễn dịch học,

Nhà xuất bản Y học, Hà nội

2 Huỳnh Đình Chiến (1998), Miễn Dịch Học Lâm Sàng,

Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội

3 Trần Thị Chính (1997), “Miễn dịch chống nhiễm vi

sinh vật”, Miễn dịch học, Trường Đại học Y Hà nội,

Nhà xuất bản Y học, tr 173 –194

4 Nguyễn Chương (2000), Viêm não Nhật bản ở trẻ em,

Nhà xuất bản Y học Hà nội

5 Đỗ Quang Hà (1999) “ Hội chứng não cấp và bệnh viêm não Nhật bản ở các tỉnh phía nam từ 1976 –

1998”, Thời sự Y dược học, Hội Y dược học Thành phố

Hồ Chí Minh, tháng 8/1999, số 4, tr 208- 212

6 Đỗ Đại Hải (1999), “Viêm”, Miễn dịch - Sinh lý bệnh,

Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, tr 120 – 133

7 Tạ Thị Ánh Hoa (1998), “C- Reactive Protein”, Miễn dịch lâm sàng trẻ em, Đại học Y dược Thành phố Hồ

Chí Minh, Nhà xuất bản Đà nẵng, tr 71-77

8 Phan Thị Ngà, Lê Kim Phượng, Huỳnh Phương Liên (1992), “Aùp dụng nghiệm pháp miễn dịch enzim phát hiện IgM kháng virút viêm não Nhật bản trong chẩn

đoán huyết thanh học”, Tạp chí Vệ sinh phòng dịch,

tập II, số 2, tr 26 – 30

9 Pepys M.B (1981), “C- reactive protein fifty years on”,

The Lancet (21), pp 653 – 656

10 Sigal L.H., Ron Y (1994), “The acute phase response

to inflammation”, Immunology and Inflammation – Basic mechanisms and clinical consequences, Mc Graw

Hill international editions, pp 287 –301

11 Wallach J (1992), Interpretation of Diagnostic Test,

5 th ed, Little Brown, pp 76

12 Yaye D.L., Waites K.B (1997), “ Clinical applications

of C- reactive protein in pediatrics”, Pediatric Infectious Diseases Journal, Vol.16, (8), pp 735 – 747

Ngày đăng: 23/01/2020, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w