1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vi phẫu điều trị túi phình động mạch đốt sống dạng hình thoi: 28 trường hợp

8 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 453,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài với mục tiêu nghiên cứu về túi phình động mạch đốt sống là bệnh lý tương đối hiếm gặp, thuộc nhóm túi phình tuần hoàn sau, là bệnh lý nguy hiểm có tỷ lệ tử vong và di chứng nặng nề nếu không can thiệp điều trị. Điều trị nhóm bệnh lý này còn nhiều thách thức cho cả phẫu thuật viên thần kinh và các chuyên gia can thiệp nội mạch. Tại bệnh viện Chợ Rẫy bệnh lý túi phình được điều trị chủ yếu bằng phương pháp phẫu thuật nên cần nghiên cứu đánh giá lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị bệnh lý này.

Trang 1

DẠNG HÌNH THOI: 28 TRƯỜNG HỢP 

Lê Khâm Tuân*, Nguyễn Minh Anh**, Nguyễn Phong*** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: túi phình động mạch đốt sống là bệnh lý tương đối hiếm gặp, thuộc nhóm túi phình tuần hoàn 

sau, là bệnh lý nguy hiểm có tỷ lệ tử vong và di chứng nặng nề nếu không can thiệp điều trị. Điều trị nhóm bệnh 

lý này còn nhiều thách thức cho cả phẫu thuật viên thần kinh và các chuyên gia can thiệp nội mạch. Tại bệnh viện  Chợ Rẫy bệnh lý túi phình được điều trị chủ yếu bằng phương pháp phẫu thuật nên cần nghiên cứu đánh giá 

lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị bệnh lý này. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiền cứu28 bệnh nhân với 28 túi phình động mạch đốt sống 

dạng hình thoi đã được điều trị bằng phẫu thuật trong khoảng thời gian 7 năm (07/2007‐ 07/2014) tại bệnh viện  Chợ Rẫy. Trong đó có 24 trường hợp túi phình vỡ và 4 trường hợp túi phình chưa vỡ. Túi phình được loại bỏ  bằng kẹp tắc động mạch đốt sống mang túi phình. Sau mổ được đánh giá và theo dõi theo thang điểm GOS, chụp  DSA hoặc CTA mạch máu não kiểm tra. Thời gian theo dõi trung bình 18,7 tháng (1‐ 59 tháng). 

Kết quả: Sau khi ra viện tình trạng tốt theo thang điểm (GOS 4 ‐ 5) có 22 trường hợp (78,8%), trung bình 

(GOS 3) có 4 trường hợp (15,2%), xấu (GOS 2) 2 trường hợp (7,1%). Tử vong 1 trường hợp (3,6%). Tất cả các  túi phình được loại bỏ hoàn toàn trên phim mạch máu kiểm tra. Trong quá trình theo dõi không trường hợp nào 

túi phình vỡ lại, tỷ lệ GOS 4‐5 đạt 82,4%. 

Kết luận: Túi phình động mạch đốt sống dạng hình thoi là bệnh lý nguy hiểm cần phải can thiệp điều trị. Vi 

phẫu thuật loại bỏ túi phình ra khỏi hệ thống tuần hoàn cho kết quả sau mổ và tỷ lệ biến chứng có thể chấp nhận  được. Điểm đặc biệt lưu ý là đánh giá hình ảnh học trước mổ để chọn lựa đường mổ phù hợp và cách kẹp tắc  động mạch mang túi phình. 

Từ khóa: túi phình động mạch đốt sống, túi phình dạng hình thoi, kẹp tắc động mạch đốt sống, liệt dây thần 

kinh sọ thấp. 

ABSTRACT 

SURGICAL MANAGEMENT OF FUSIFORM VERTEBRAL ARTERY ANEURYSMS:  

REPORT ON 28 CASES. 

Le Kham Tuan, Nguyen Minh Anh, Nguyen Phong  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 342 – 349 

Objective:  Vertebral  artery  (VA)  fusiform  aneurysms  are  the  quite  rare  lesions,  belong  to  posterior 

circulation  aneurysms,  which  are  high  morbidity  and  mortality  without  treatment.  Management  of  the  aneurysms  is  still  challenged.  At  the  Cho  Ray  hospital,  almost  intracranial  aneurysms  have  been  treated  microsurgically so we describe the clinical signs, neuroimaging and outcome of VA fusiform aneurysms. 

Methods:  Prospective  description  reports  with  28  patients  with  28  VA  fusiform  aneurysms,  who  were 

managed by microsurgical trapping at Cho Ray hospital during the 5 years (07/2007‐ 07/2014). There were 24  ruptured  and  4  unruptured  aneurysms.  The  aneurysms  were  eliminated  by  trapping  VA.  We  used  GOS  to 

* Bộ môn ngoại thần kinh ĐH Y Dược TP.HCM 

** Khoa ngoại thần kinh, bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM 

*** Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy, Bộ môn ngoại thần kinh ĐH Y Dược TP.HCM 

Trang 2

Results: At discharge, the outcome was good (GOS 4‐5) in 22 cases (78.8%). Moderate (GOS 3) in 4 cases 

(15.2%),  bad  (GOS  2)  in  2  cases  (7.1%)  and  1  case  died  (3,6%).  All  of  aneurysms  were  eliminated  on  angiography post‐op. At the end of follow‐up period, the patients with GOS 4 – 5 were 82.4%. 

Conclusion:  VAfusiform  aneurysms  are  dangerous  lesions  that  must  be  treated.  The  management  ofthis 

disease is trapping the parent artery that givesacceptable outcomes. Evaluating the neuroimaging before operation  makes us choose the appropriate approaches and trap the VA at the right locations. 

Key words: vertebral artery, fusiform aneurysms, trapping vertebral artery, lower cranial nerve deficit. 

ĐẶT VẤN ĐỀ: 

Bệnh  lý  túi  phình  động  mạch  não  tùy  theo 

mục  đích  mà  có  thể  phân  chia  theo  nhiều  cách 

khác  nhau.  Trong  phẫu  thuật  thần  kinh,  quan 

trọng  nhất  là  vị  trí  túi  phình  và  hình  dạng  túi 

phình. Vị trí túi phình sẽ quyết định đường tiếp 

cận  túi  phình  và  dạng  túi  phình  sẽ  quyết  định 

cách  thức  loại  bỏ  túi  phình.  Túi  phình  động 

mạch  đốt  sống  khá  hiếm  gặp,  thuộc  nhóm  túi 

phình tuần hoàn sau, chỉ chiếm khoảng 1‐ 5% túi 

phình nội sọ. 

Túi phình động mạch đốt sống đoạn trong 

sọ  có  ba  dạng  chính:  túi  phình  dạng  túi 

(saccular), túi phình dạng hình thoi (fusiform), 

túi phình dạng bóc tách (dissecting). Nguy  cơ 

xuất  huyết  của  các  túi  phình  này  cũng  giống 

như các túi phình vị trí khác trong sọ và còn có 

phần  nguy  hiểm  hơn  vì  khi  đã  vỡ  tỷ  lệ  vỡ  lại 

khoảng 83% trong năm đầu tiên. Túi phình vị 

trí  này  cần  phải  can  thiệp  điều  trị  để  tránh 

nguy cơ vỡ túi phình(2). 

Túi  phình  dạng  túi  thì  phương  pháp  loại 

túi phình ra khỏi hệ thống tuần hoàn tốt nhất 

vẫn  là  kẹp  cổ  túi  phình,  bảo  tồn  động  mạch 

mang túiphình. Túi phình động mạch đốt sống 

dạng hình thoi chiếm tỷ lệ đáng kể, cho nên để 

điều trị loại túi phình này cần phải làm tắc cả 

động mạch mang túi phình, đây là thách thức 

nhất  đối  với  điều  trị  túi  phình  loại  này.  Tuy 

nhiên,  động  mạch  đốt  sống  có  thể  tắc  được. 

Dựa  vào  tuần  hoàn  bàng  hệ  và  nghiệm  pháp 

tắc  thử  động  mạch  đốt  sống  trong  qua  trình 

chụp DSA sẽ cho biết động mạch đốt sống có 

thể  tắc  được  hay  không.  Nguyên  tắc  cơ  bản 

trong tắc động mạch đốt sống là phải bảo tồn  được động mạch tiểu não sau dưới (PICA), vì  theo Rhoton đây là nhánh cho rất nhiều nhánh  xuyên cho thân não, cho nên đây là động mạch  không thể gây tắc được.  

Đối  với  trường  hợp  kẹp  tắc  động  mạch  đốt  sống trước gốc PICA thì phải đảm bảo tuần hoàn  bàng hệ động mạch đốt sống đối bên cấp đủmáu  cho động mạch PICA này. Trong đánh giá bàng 

hệ này ngoài xem xét kích thước động mạch đốt  sống  đối  bên  còn  phải  dùng  nghiệm  pháp  tắc  thử,  nếu  như  bệnh  nhân  dung  nạp  được  thì  sẽ  tắc  được  vĩnh  viễn  động  mạch  đốt  sống  này.  Ngược lại nếu như tình trạng bàng hệ không cho  phép  tắc  thì  trước  khi  loại  túi  phình  phải  đảm  bảo  cấp  máu  cho  PICA  bằng  phẫu  thuật  bypass.(10) 

Túi  phình  động  mạch  đốt  sống  dạng  hình  thoi  cũng  giống  túi  phình  nội  sọ  khác,  đều  có  nguy cơ vỡ, tỷ lệ vỡ trung bình khoảng 0,5 ‐1%  /năm.  Do  đó,  ở  bệnh  nhân  tuổi  càng  trẻ,  thời  gian sống còn dài thì nguy cơ vỡ túi phình tích  lũy càng cao. Khuyến cáo chỉ định can thiệp làm  tắc đối với túi phình chưa vỡ phát hiện tình cờ  khi bệnh nhân có túi phình kích thước > 5mm và 

ở bệnh nhân <70 tuổi (7).  Túi  phình  động  mạch  đốt  sống  đã  vỡ,  thì  cũng như túi phình tuần hoàn sau khác, nguy cơ 

vỡ lại trong năm đầu tiên khoảng 83%. Đối với  túi  phình  động  mạch  đốt  sống  khi  đã  vỡ  cần  phải  can  thiệp  loại  túi  phình  ra  khỏi  hệ  tuần  hoàn, tùy điều kiện cụ thể mà chỉ định can thiệp  nội mạch hay phẫu thuật(5,6). 

Trang 3

Túi  phình  động  mạch  đốt  sống  dạng  hình 

thoi có kích thước lớn ngoài nguy cơ vỡ, một số 

trường  hợp  có  huyết  khối  trong  lòng  túi  phình 

và huyết khối này có thể gây chèn ép tại chỗ tại 

thân  não  hoặc  có  thể  trôi  theo  dòng  máu  gây 

huyết  tắc  não.  Huyết  khối  lòng  túi  phình  gây 

hiệu ứng chèn ép cũng là một chỉ định cần phải 

can thiệp phẫu thuật(2,5). 

Phương  pháp  loại  bỏ  túi  phình  động  mạch 

đốt  sống  dạng  hình  thoi  này  hiện  tại  còn  khá 

mới trong điều kiện nước ta. Tại khoa ngoại thần 

kinh  bệnh  viện  Chợ  Rẫy  hàng  năm  có  khoảng 

300‐400 trường hợp phẫu thuật điều trị túi phình 

động  mạch  não,  thì  túi  phình  loại  này  chiếm 

khoảng 1%. Đây là bệnh lý lành tính có thể điều 

trị được và có đặc điểm riêng về cách tiếp cận túi 

phình cũng như cách loại bỏ túi phình ra khỏi hệ 

thống tuần hoàn não nên chúng tôi nghiên cứu 

đề tài này để đánh giá đặc điểm lâm sàng, hình 

ảnh học và kết quả điều trị túi phình động mạch 

đốt sống dạng hình thoi này. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Tất  cả  bệnh nhân  nhập viện Chợ  Rẫy  trong 

khoảng thời gian 7/2007 ‐7/2014, được chẩn đoán 

túi  phình  động  mạch  đốt  sống  dạng  hình  thoi, 

được  phẫu  thuật  kẹp  động  mạch  đốt  sống  để 

loại bỏ túi phình.  

Phương pháp nghiên cứu là mô tả tiền cứu, 

không  đối  chứng.  Các  thông  tin  lâm  sàng  và 

hình ảnh học trước mổ được thu thập và mô tả. 

đánh  giá  tình  trạng  bệnh  nhân  trước  mổ  bằng  phân  độ  Hunt  –  Hess.  Mô  tả  các  phương  pháp 

mổ như  đường mổ,  cách  loại  bỏ túi  phình. Các  biến chứng sau mổ được thu thập, đánh giá kết  quả  điều  trị  qua  thang  điểm  GOS  (Glasgow  Outcome  Score)  khi  ra  viện  và  chụp  DSA  kiểm  tra saumổ. Bệnh nhân được theo dõi và đánh giá  kết quả điều trị sau 3, 6 tháng và mỗi năm theo  thang điểm GOS.  

KẾT QUẢ 

Trong 28 trường hợp tỷ lệ phân bố giới tính  nữ/nam = 1/1,5, các bệnh nhân nam chiếm đa số.  Tuổi trung bình 48,9 ± 7,9, tuổi nhỏ nhất là 38 và  lớn nhất 68. 

Hầu hết bệnh nhân nhập viện vì túi phình đã 

vỡ, 24 trường hợp chiếm 85,7%. Các trường hợp  này  có  23  trường  hợp  nhập  viện  vì  bệnh  cảnh  đột quị với biểu hiện đau đầu đột ngột dữ dội,  buồn nôn, nôn, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê. Còn  lại 1 trường hợp vỡ túi phình nhập viện vì đau  đầu, sốt và lơ mơ được chẩn đoán nhầm là viêm  màng não, được chọc dò thắt lưng thấy dịch não  tủy có nhiều hồng cầu và được chẩn đoán xuất  huyết dưới nhện. Trong số các túi phình vỡ có 4  trường  hợp  túi  phình  vỡ  lần  thứ  2  trước  khi  được  can thiệp  phẫu  thuật.  Bốn  trường hợp túi  phình chưa vỡ nhập viện chủ yếu là do các triệu  chứng  chèn  ép  thân  não  như  tê  và  yếu  tứ  chi,  nuốt khó. 

Hình 1: Các hình ảnh chẩn đoán trước mổ. A: CT đầu không cản quang có xuất huyết dưới nhện, xuất huyết não 

thất IV. B: MRI T1W, khối choáng chỗ chèn ép thân não. C: CTA có hình ảnh túi phình dạng hình thoi. D: DSA 

có túi phình động mạch đốt sống hình thoi sau PICA. 

Trang 4

Tất  cả  24 trường hợp  được  chụp  CT  sọ  não 

không  cản  quang,  thời  gian  chụp  sau  đột  quị 

trung  bình  31,5  giờ  (sớm  nhất  1  giờ  và  muộn 

nhất  170  giờ).  Xuất  huyết  dưới  nhện  23  trường 

hợp  chiếm  95,8%.  Xuất  huyết  não  thất  IV  20 

trường hợp chiếm 82,6%, đây là dấu hiệu rất có 

giá  trị  trong  chẩn  đoán  xuất  huyết  do  vỡ  túi 

phình tuần hoàn sau, đặc biệt là túi phình động 

mạch đốt sống. 

Các trường hợp túi phình chưa vỡ nhập viện 

vì  dấu  hiệu  chèn  ép  thân  não  nên  được  chẩn 

đoán  ban  đầu  bằng  MRI  sọ  não  có  tiêm 

gadolinum.  Có  3  trường  hợp  đều  có  hình  ảnh 

khối  choán  chỗ  chèn  ép  vùng  thân  não  (hình  1 

B). Khi được tái tạo hình ảnh mạch máu cho thấy 

có  hình  ảnh  túi  phình  động  mạch  đốt  sống. 

Ngoài  ra  MRI  còn  cho  chẩn  đoán  phân  biệt  túi 

phình  dạng  hình  thoi  hay  túi  phình  bóc  tách. 

MRI  sọ  não  được  chỉ  định  trong  11/28  trường 

hợp  túi  phình.  Một  trường  hợp  túi  phình  chưa 

vỡ  được  phát  hiện  do  vỡ  túi  phình  động  mạch 

thông  sau,  được  chụp  DSA  và  phát  hiện  có  túi 

phình động mạch đốt sống. 

Tất cả 28 trường hợp được chụp DSA mạch 

não  xác  định  chẩn  đoán.  Trong  24  trường  hợp 

túi  phình  vỡ  thời  gian  chụp  DSA  sau  vỡ  trung 

bình  6,7±  4,5  ngày,  sớm  nhất  1  ngày  và  muộn 

nhất 17 ngày. Túi phình được xác định sự tương 

quan  với  động mạch tiểu  não  sau dưới  (PICA). 

Trong đó, túi phình sau gốc PICA 16 trường hợp 

(chiếm 59%), túi phình trước gốc PICA 2 trường 

hợp (7,1%), túi phình có gốc PICA cắm ngay trên 

thành  túi  phình  5  trường  hợp  (17,8%)  còn  lại  5 

trường  hợp  (17,8%)  không  thấy  được  sự  tương 

quan  này  trên  DSA  hoặc  do  PICA  bên  có  túi 

phình thiểu sản hoặc không có. 

Đánh  giá  tình  trạng  bệnh  nhân  trước  mổ 

bằng  phân  độ  Hunt‐  Hess.  Tại  thời  điểm  nhập 

viện  có  3  trường  hợp  Hunt‐  Hess  độ  3  và  2 

trường hợp độ 4, các bệnh nhân sẽ được hồi sức 

nội khoa, khi tình trạng tốt hơn (hunt‐ hess 1‐2) 

chúng  tôi  mới  tiến  hành  phẫu  thuật  kẹp  túi 

phình. Tại thời điểm trước mổ Hunt‐ hess độ 1 

có19  trường  hợp  (67,7%),  Hunt‐  Hess  độ  2có  6  trường hợp (chiếm 21,4 %) còn lại 3 trường hợp  túi  phình  chưa  vỡ,  không  có  bệnh  nhân  nào  có  tình trạng nặng trước khi phẫu thuật. 

Thời điểm can thiệp phẫu thuật đối với các  bệnh nhân có túi phình vỡ trung bình là 15,5±  8,3 ngày, sớm nhất là 7 ngày và muộn nhất là 

34 ngày. 

Đường mổ dùng để tiếp cận túi phình là sau  xoang  sigma  (retrosigmoid)  17  trường  hợp  (60,7%),  đường  xuyên  lồi  cầu  (transcondylar)  9  trường hợp (32,2%) và 2 trường hợp còn lại tiếp  cận động mạch đốt sống đoạn ngoài sọ trước khi 

nó chui qua màng cứng ở lỗ chẩm (hình 2). 

  Hình 2: Thắt động mạch đốt sống ngoài sọ 

Phương pháp loại bỏ túi phình: kẹp tắc 2 đầu  túi  phình  21  trường  hợp  (75%),chỉ  kẹp  tắc  đầu  gần túi phình đoạn động mạch đốt sống trong sọ 

5  trường  hợp  (17,9%)  và  2  trường  hợp  còn  lại  kẹp  tắc  động  mạch  đốt  sống  mang  túi  phình  đoạn ngoài sọ (7,1%). 

Sau khi ra viện tình trạng tốt có thang điểm  (GOS 4 ‐ 5) là 22 trường hợp (78,8%), trung bình  (GOS 3) là 3 trường hợp (10,7%), xấu (GOS 2) 2  trường hợp (7,1%), tử vong 2 trường hợp (7,1%).   Biến  chứng  sau  mổ  thường  gặp  nhất  là  liệt  dây  thần  kinh  sọ  thấp.  Trong  26trường  hợp  phẫu thuật mở sọ, liệt thần kinh sọ thấp mức độ  nặng 5 trường hợp (20%), không liệt hoặc liệt ở  mức độ nhẹ, trung bình là 24 trường hợp (80%).  Trong quá trình theo dõi 5 trường hợp liệt thần 

Trang 5

độ  nhẹ  trung  bình  1,8  ±  1  tháng  (sớm  nhất  là  2 

tuần  và  lâu  nhất  là  3  tháng),  bệnh  nhân  có  thể 

nuốt được mà không cần trợ giúp. 

Một  số  biến  chứng  khác  gồm  có  viêm  phổi 

sau  mổ  3  trường  hợp  (10,7%),  liệt  nửa  người  3 

trường  hợp  (10,7%),  viêm  màng  não  1  trường 

hợp (3,6%), dò dịch não tủy qua vết mổ 1 trường 

hợp  (3,6%),  1  trường  hợp  (3,6%)  não  úng  thủy 

cần phải đặt V‐P shunt. 

DSA  mạch  máu  não  hoặc  CTA  mạch  máu 

não được chụp kiểm tra 26/28 trường hợp. Phim 

kiểm tra cho thấy tất cả túi phình được kẹp tắc 

hoàn toàn 100%, trong đó thấy được PICA chiếm 

61,1% (hình 3). 

 

Hình 3: bảo tồn PICA sau kẹp tắc động mạch đốt 

sống 

Quá  trình  theo  dõi  được  thực  hiện22 

trường  hợp  /  26  trường  hợp  mổ  sống,  đạt 

84,6%, có 3 trường hợp bệnh nhân không quay 

lại tái khám, 1 trường hợp bệnh nhân tử vong 

do nguyên nhân bệnh lý khác. Thời gian theo 

dõi  trung  bình  29,7  tháng  (ngắn  nhất  1  tháng 

và dài nhất 54 tháng). Trong quá trình theo dõi 

tình  trạng  tốt  (GOS  4  –  5)  18  trường  hợp 

(chiếm tỷ lệ 18/22 = 82,4%). 

BÀN LUẬN 

Trong 28 trường hợp của chúng tôi hầu hết 

các  trường  hợp  được  chỉ  định  do  túi  phình  đã 

vỡ.Một số trường hợp còn lại túi phình chưa vỡ  nhưng có triệu chứng chèn ép thân não được chỉ  định phẫu thuật. 

Phẫu thuật loại bỏ túi phình là phương pháp  xâm  lấn  hơn  so  với  can  thiệp  nội  mạch,  tuy  nhiên  hiệu  quả  điều  trị  lâu  dài  triệt  để  hơn.  Ngoài ra, trong điều kiện hiện tại phẫu thuật có  chi  phí  thấp  hơn  nhiều  so  với  can  thiệp  nội  mạch, nên phù hợp với tình hình kinh tế đại đa 

số người dân nước ta. Do đó trong chọn lọc bệnh 

để phẫu thuật chúng tôi chỉ tiến hành ở những  bệnh nhân có tình trạng lâm sàng tương đối tốt 

có khả năng chịu được cuộc mổ để có tiên lượng  tốt  sau  mổ.  Nếu  như  tình  trạng  bệnh  nhân  lúc  nhập  viện  nặng  (Hunt‐Hess  3‐4)  chúng  tôi  sẽ  điều trị nội khoa nếu bệnh nhân có cải thiện khá  hơn,  Hunt hess 1‐2  thì  chúng tôi mới  tiến  hành  phẫu  thuật.  Trong  28  trường  hợp  này  đều  có  Hunt‐ Hess trước mổ dưới 3. 

Chọn  lựa  thời  điểm  phẫu  thuật  đối  với  túi  phình  tuần  hoàn  sau  nói  chung  và  túi  phình  động mạch đốt sống còn có nhiều điểm khác so  với các túi phình thông thường thuộc tuần hoàn  trước.  Một  đặc  điểm  quan  trọng  là  động  mạch  đốt sống đoạn nằm hố sọ sau chật hẹp, liên quan  đến các cấu trúc quan trọng như hành não, cầu  não, các dây thần kinh sọ (VII. IX, X, XI). Những  ngày  đầu  sau  xuất  huyết  dưới  nhện  não  phù  nhiều, trong khi mổ đòi hỏi phải vén não, nên dễ  làm tổn thương các cấu trúc não và thần kinh lân  cận. Phẫu thuật càng sớm thì tỷ lệ biến chứng và 

tử  vong  sau  mổ  càng  cao.  Hầu  hết  các  tác  giả  đều  cho  rằng mổ  sau  7 ngày  là thời  điểm  thích  hợp  nhất(5,6).  Tất  cả  các  trường  hợp  chúng  tôi  nghiên  cứu  được  tiến  hành  phẫu  thuật  sau  7  ngày kể từ lần vỡ túi phình gần nhất. 

Chọn lựa đường mổ tiếp cận túi phình vị trí  này cũng phải đảm bảo được nguyên tắc cơ bản 

là  có  thể  khống  chế  đầu  gần  (proximal  control) 

và  tiếp  cận  được  túi  phình.  Đường  mổ  dưới  chẩm sau xoang sigma (retrosigmoid) và đường 

mổ xuyên lồi cầu (transcondylar) được dùng để  tiếp  cận túi phình  vị  trí này.  Mỗi đường mổ  có 

Trang 6

quyết định chính chọn lựa đường mổ là khoảng 

cách túi phình so với bờ lỗ chẩm và khoảng cách 

túi  phình  so  với  đường  giữa  (càng  gần  đường 

giữa  túi  phình  càng  nằm  phía  trước  thân  não). 

Đường  mổ  xuyên  lồi  cầu  cho  thấy  có  nhiều  ưu 

điểm  hơn  đối  với  túi  phình  loại  này,  có  thể 

khống  chế  được  động  mạch  nuôi  từ  bên  ngoài 

sọ, tiếp cận được túi phình thấp sát bờ lỗ chẩm 

hoặc  cho  tiếp  cận  ra  phía  trước  thân  não  tốt 

hơn(3).  Tuy  nhiên,  đường  mổ  này  đòi  hỏi  phải 

mất  nhiều  thời  gian  và  ít  quen  thuộc  với  nhiều 

phẫu  thuật  viên.  Đường  mổ  dưới  chẩm  sau 

xoang  sigma  quen  thuộc  với  hầu  hết  các  phẫu 

thuật  viên  thần  kinh,  thời  gian  mở  sọ  nhanh,  ít 

mất máu. Tuy nhiên, đường mổ này chỉ áp dụng 

cho những túi phình có vị trí cao hơn bờ lỗ chẩm 

1  cm  và  cách  đường  giữa  ít  nhất  0,5  cm  trên 

phim mạch máu não(5,6,8,9). Ngoài ra trong nghiên 

cứu chúng tôi còn có 2 trường hợp kẹp tắc động 

mạch  túi  phình  đoạn  ngoài  sọ.  Đây  là  những 

trường hợp được đánh giá không thể kẹp tắc hai 

đầu túi phình, thay vì kẹp tắc đầu gần trong sọ 

chúng tôi bóc tách động mạch đốt sống tại vị trí 

trước  khi  chui  vào  màng  cứng  tại  lỗ  chẩm  trên 

cung sau C1, tại đây động mạch đốt sống mang 

túi phình bị thắt bỏ để giảm nguy cơ xuất huyết 

lại do vỡ túi phình. 

Kẹp tắc động mạch đốt sống một bên có thể 

thực  hiện  được  mà  không  gây  biến  chứng,  tuy 

nhiên phải đảm bảo PICA phải được bảo tồn để 

tránh  nhồi  máu  các  nhánh  xuyên  thân  não  và 

tuần hoàn bàng hệ với động mạch đốt sống đối 

bên, bàng hệ với tuần hoàn trước phải tốt(9). Để 

đánh  giá  tuần  hoàn  bàng  hệ  này  dựa  vào  hình 

ảnh  DSA  vàthủ  thuật  tắc  thử  động  mạch  đốt 

sống trong khi chụp DSA (baloon test), đánh giá 

khả  năng  dung  nạp  của  bệnh nhân khi  tắc  một 

động mạch đốt sống. Đối với túi phình sau gốc 

PICA thì không cần làm test tắc thử chỉ cần đánh 

giá  hình  ảnh  động  mạch  đốt  sống  đối  bên  và 

tuần hoàn trước. Túi phình vị trí này sẽ ưu tiên 

được kẹp tắc hai đầu vì sẽ loại bỏ hoàn toàn túi 

tắc  hai  đầu,  tuy  nhiên  cần  phải  đánh  giá  khả  năng dung nạp trước vì sau tắc, PICA lúc này sẽ  nhận  máu  từ  động  mạch  đốt  sống  đối  bên.  Trường  hợp  túi  phình  có  PICA  xuất  phát  ngay  trên  thành  túi  phình  thì  nguyên  tắc  điều  trị  là  phải  kẹp  tắc  hai  đầu  sau  đó  bypass  cắm  lại 

được  loại  bypass  này  nên  để  giảm  nguy  cơ  vỡ  túi  phình  chúng  tôi  chỉ  tắc  đầu  gần  túi  phình  (trong  sọ  hoặc  ngoài  sọ),  chờ  cho  túi  phình  bị  huyết  khối  tắc  dần  và  hình  thành  dần  bàng  hệ  sau khi PICA tắc dần theo túi phình. Khi tắc chỉ  tắc đầu gần túi phình dạng hình thoi thì vẫn còn  một  tỷ  lệ  nhỏ  túi  phình  vỡ  lại,  và  nguy  cơ  bị  huyết  tắc  do  huyết  khối  hình  thành  trong  lòng  túi phình trôi theo dòng máu(5,6). 

Biến  chứng  sau  mổ  thường  gặp  đối  với  túi  phình  vị  trí  này  là  liệt  dây  thần  kinh  sọ  thấp.  Theo  Hisam  thì  mức  độ  liệt  thần  kinh  sọ  thấp  chia  ra  các  mức  độ:  không  liệt,  liệt  nhẹ  (bệnh  nhân chỉ khàn giọng và các chức năng nuốt bình  thường),  liệt  trung  bình  (không  nuốt  được  cần  phải hỗ trợ bằng cho ăn qua thông dạ dày hoặc 

mở dạ dày) và liệt nặng (không thở được do tắc  đường  hô  hấp  trên,  cần  phải  thở  qua  nội  khí  quản  hoặc  mở  khí  quản).  Đối  với  tổn  thương  một bên thường chỉ liệt ở mức độ nhẹ hoặc trung  bình  và  hầu  hết  điều  sẽ  hồi  phục  sau  đó  hoặc  phản  xạ  nuốt  được  bù  trừ  bởi  bên  đối  diện)(1).  Trong các trường hợp liệt thần kinh sọ thấp của  chúng tôi kể cả mức độ nặng cũng đều hồi phục  sang mức độ nhẹ và thời gian hồi phục này tối 

đa  là  3  tháng.  Do  biến  chứng  này  có  thể  tắc  đường  thở  nên  tất  cả  các  trường  hợp  sau  mổ  chúng tôi lưu nội khí quản ít nhất 24 giờ sau đó  đánh giá tình trạng tri giác và các dấu hiệu thần  kinh khu trú khác trước khi rút nội khí quản. Có 

1 trường hợp tắc đường thở khi rút nội khí quản  sau 7 ngày, phải tiến hành mở khí quản và chờ 

sự bù trừ và hồi phục dần. 

Tỷ lệ tử vong và di chứng nặng 15%. Trường  hợp tử vong thứ nhất do tổn thương vùng thân  não  do  vén  tiểu  não  quá  mức  trong  quá  trình 

Trang 7

của  đường đi  động  mạch  đốt sống, động  mạch 

đốt  sống  bên  mang  túi  phình  đi  lệch  nhiều  về 

phía đối diện do đó trong quá trình tiếp cận kẹp 

đầu  xa  túi  phình  đã  vén  não  nhiều.  Những 

trường  hợp  này  không  nhất  thiết  phải  kẹp  tắc 

hai đầu túi phình mà chỉ cần kẹp đầu gần sẽ an 

toàn  hơn  và  cũng  tác  dụng  làm  tắc  túi  phình. 

Trường hợp tử vong còn lại do trong quá trình 

phẫu thuật làm tổn thương nhiều dây thần kinh 

sọ thấp trong lúc bóc tách và tiếp cận túi phình 

sau mổ bị liệt thần kinh sọ thấp nặng gây viêm 

phổi  hít  và  không  đáp  ứng  với  điều  trị.  Do  đó 

cầnphải đánh giá mức độ tổn thương thần kinh 

sọ  thấp  sau  mổ,  nếu  cần  lưu  nội  khí  quản  lâu 

hơn hoặc phải mở khí quản. Các trường hợp liệt 

dây thần kinh sọ thấp mức độ trung bình, bệnh 

nhân  được  nuôi  ăn  bằng  sond  dạ  dày  chờ  đến 

khi chức năng nuốt được hồi phục. 

Ngoài 3 trường hợp sau mổ xấu còn lại tỷ 

lệ GOS 4‐5 là 65% và GOS 3 là 20%. Đây là tỷ lệ 

khá  cao  và  có  thể  chấp  nhận  được.  Trong 

những  trường  hợp  có  GOS  3  có  3  trường  hợp 

liệt dây thần kinh sọ thấp sau mổ cần phải hỗ 

trợ nuôi ăn và như đã nói trên thì biến chứng 

này sẽ hồi phục. 

Trong  quá  trình  theo  dõi  cho  thấy  không 

trường hợp nào túi phình vỡ lại. Có 3 bệnh nhân 

có  GOS  3  đều  cải  thiện  sang  GOS  4  ‐5,  chỉ  trừ 

một  trường  GOS  3  do  yếu  nửa  người  là  không 

hồi  phục  (do  tổn  thương  nhồi  máu  PICA). 

Không  có  trường  hợp  nào  diễn  tiến  xấu  hơn 

trong quá trình theo dõi ngoại trừ 1 trường hợp 

sau mổ có GOS 2 tử vong. 

KẾT LUẬN 

Túi  phình  động  mạch  đốt  sống  dạng  hình 

thoi  là  túi phình  khá hiếm  gặp,  tuy nhiên  cũng 

như túi phình nội sọ khác cũng có nguy cơ vỡ, 

và khi đã vỡ thì tỷ lệ vỡ lại cao và một số trường 

hợp có huyết khối lòng túi phình có thể gây chèn 

ép  thân  não  cho  nên  cần  phải  can  thiệp  loại  bỏ 

túi phình. 

Bệnh lý này có thể điều trị được bằng phẫu 

thuật tắc động mạch mang túi phình, với kết quả 

điều  trị  có  GOS  lúc  ra  viện  tốt  đạt  65%  và  sau  thời gian theo dõi tỷ lệ GOS 4‐5 chiếm 77,8%.  Biến chứng thường gặp nhất là liệt dây thần  kinh  sọ  thấp  sau  mổ,  do  đó  cần  phải  đánh  giá  mức độ liệt sau mổ để chọn thời điểm rút nội khí  quản thích hợp hoặc mở khí quản để tránh biến  chứng viêm phổi hít. Tuy nhiên biến chứngnày 

đa  số  sẽ  hồi  phục  trong  vòng  3  tháng  sau  mổ  nhờ  sự  hồi  phục  và  cơ  chế  bù  trừ  của  các  dây  thần kinh sọ thấp đối bên.  

Các  biến  chứng  như  nhồi  máu,  thiếu  máu  não, huyết tắc não, tái thông túi phình, đặc biệt 

là vỡ túi phình lại chưa thấy trong quá trình theo  dõi,  nhất  là  đối  với  các  trường  hợp  chỉ  kẹp  tắc  đầu  gần  túi  phình,  nên  cần  phải  theo  dõi  thời  gian  lâu  dài  và  với  số  lượng  bệnh  nhiều  hơn.  Nhưng với tỷ lệ vỡ lại túi phình 83% trong năm  đầu tiên đối với túi phình đã vỡ không điều trị  thì  với  kết  quả  này  có  thể  kết  luận  túi  phình  động  mạch  đốt  sống  dạng  túi  có  thể  điều  trị  được  bằng  kẹp  tắc  động  mạch  mang  túi  phình  với kết quả sau mổ có thể chấp nhận được. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Al‐khayate H, Beshay J, Manner D, White J (2005). Vertebral  artery‐ posteriorinferior cerebellar artery aneurysms: Clinical  and lower cranial nerve outcome in 52 patients.Neurosurgery  56: 2‐11 

2 Andol T, Shirakami S, Nakasmisa T (1992). Clinical of analysis 

of a series of vertebral artery aneurysm cases. Neurosurgery  31: 987‐ 993. 

3 Bragg  TM,  EA  Duckworth  (2008).  Contralateral  far‐lateral  approach for clipping of a ruptured vertebral artery‐posterior 

inferior cerebellar artery aneurysm. Neurosurg Focus25(6): E9. 

4 Coert  BA,  Chang  SD,  Do  HM,  Marks  MP,  Steinberg  GK(2007).  Surgical  and  endovascular  management  of 

symptomatic  posterior  circulation  fusiform  aneurysms.  J 

Neurosurg106(5): 855‐865. 

5 Hoh  LB  (2004).  Vertebral  artery,  posterior  inferior  cerebellar  artery,  and  vertebrobasilar  junction  aneurysms.  In:  Youman,  Neurological  Surgery,  5 th   edition,  pp  2007‐2023,  Saunder,  New York. 

6 Kobayashi  S,  Goel  A,  Hongo  K  (1997).  Verteral  Artery  Aneurysm.In Neurosurgery of Complex Tumors & Vascular  Lesion, pp: 114‐ 125, Churchill Livingstone, New York. 

7 Komota  RJ,  Mocco  J,  Solomon  RA  (2008).  Guidelines  for  the  surgical treatment of unruptured intracranial aneurysms: the  first annual J. Lawrence poll memorial reaearch symposium‐  controversies  in  the  management  of  the  cerebral  aneurysms.Neurosurgery62: 183–194. 

Trang 8

8 Michael  TL  (2004).  Surgical  approaches  for  posterior 

circulation  aneurysms.In:  Youman,  Neurological  Surgery, 5 th  

edition, pp 1971‐ 2005, Saunder, New York. 

9 Rhoton  AL  J  (2000).  The  far‐lateral  approach  anh  its 

transcondylar,  supracondylar  and  paracondylar  extensions. 

Neurosurgery supplement 47: S197‐ S209 

10 ShiX,  Qian  H,  Singh  KC,  Zhang  Y,  Zhou  Z,  Sun  Y,  Liu 

F(2013). Surgical management of vertebral and basilar artery 

aneurysms:  a  single  center  experience  in  41  patients.  Acta 

Neurochir (Wien) 155(6): 1087‐1093. 

 

Ngày nhận bài báo:       20/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   2/11/2014  Ngày bài báo được đăng:    5/12/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w