Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị ung thư tiền liệt tuyến tại khoa tiết niệu, Bệnh viện Việt Đức. Nghiên cứu tiến hành đối với 119 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tiền liệt được điều trị tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011.
Trang 1NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN TẠI KHOA TIẾT NIỆU BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC TỪ THÁNG 01/2010
ĐẾN THÁNG 01/2011
Vũ Nguyễn Khải Ca*, Hoàng Long*, Nguyễn Hoài Bắc*, Trần Quốc Hòa**, Nguyễn Đức Minh*,
Chu Văn Lâm*, Lê Nguyên Vũ*, Trịnh Hoàng Giang*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Ung thư tiền liệt tuyến (UTLT) là một trong các loại ung thư tiết niệu thường gặp ở nam giới
lớn tuổi
Mục đích: Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị ung thư tiền liệt tuyến tại Khoa Tiết niệu, Bệnh viện
Việt Đức
Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Đánh giá hồi cứu đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị của
119 bệnh nhân được chẩn đoán UTLT được điều trị tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011
Kết quả: Tuổi trung bình là 72,1 Tất cả các bệnh nhân đều có triệu chứng rối loạn đường tiểu dưới Thăm
trực tràng TLT đều có nhân cứng ở 1 hoặc 2 thùy hay toàn bộ TLT cứng chắc 98,2% có PSA huyết thanh trên 10ng/ml 100% các trường hợp đều có kết quả GPB là carcinoma 39 trường hợp mổ nội soi cắt TLT kèm cắt tinh hoàn, 34 trường hợp mổ dẫn lưu bàng quang kèm cắt tinh hoàn, 21 trường hợp mổ nội soi cắt TLT đơn thuần kết hợp dùng thuốc kháng androgen, 4 trường hợp đã mổ nội soi TLT được cắt tinh hoàn, 13 bệnh nhân được điều trị đơn thuần bằng thuốc kháng androgen, 8 trường hợp được phẫu thuật cắt toàn bộ TLT tận gốc
Kết luận: Việc đối chiếu giữa lâm sàng và cận lâm sàng, giữa PSA và kết quả sinh thiết TLT, giữa tuổi
bệnh nhân và giai đoạn bệnh sẽ đưa ra cách điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân bị UTLT
Từ khóa: Ung thư tuyến tiền liệt, thăm trực tràng, PSA
ABSTRACT
EVALUATE THE CLINICAL AND MANAGEMENT CHARACTERISTICS OF PATIENT WITH
PROSTATIC CANCER AT VIET DUC UNIVERSITY HOSPITAL
Vu Nguyen Khai Ca, Hoang Long, Nguyen Hoai Bac, Tran Quoc Hoa, Nguyen Duc Minh,
Chu Van Lam, Le Nguyen Vu, Trinh Hoang Giang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 294 - 298
Introduction: Prostatic cancer is one of the most prevalence urinary tract cancer
Objectives: To reviews the clinical features and the treatment of prostate cancer at the Department of
Urology – Viet Duc hospital
Materials and methods: In study 119 patients were diagnosed and treated prostate cancer at the
Department of Urology – Viet Duc hospital from 01/2010 to 01/2011 We evaluated clinical, clinical, prostate biopsy results, and the treatment to identify and provide proper treatment most
Results: The average age is 72.1 All patients had symptoms of lower urinary tract disorders Prostates were
* Khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức ** Khoa Ngoại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Tác giả liên lạc: PGS TS Hoàng Văn Tùng ĐT: 0913594851 Email: tunghoahue@yahoo.com
Trang 2hard at 1 or 2 lobes or solid whole 98.2% had serum PSA above 10ng/ml 100% of cases had the prostate biopsy results carcinoma 39 cases had endoscopic prostatectomy and orchiectomy together, 34 cases had cystotomy and orchiectomy, 21 cases had endoscopic prostatectomy combined anti-androgen drugs, 4 cases which had had endoscopic prostatectomy had orchiectomy, 13 patients were treated with anti-androgen drugs alone, 8 cases had radical prostatectomy
Conclusions: The comparison between clinical and subclinical, between PSA and prostate biopsy results,
between patient age and stage of disease will provide the appropriate treatment for each patient with prostate cancer
Key words: Prostatic cancer, digital rectal examination, PSA
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tiền liệt tuyến (UTLT) là loại ung thư
thường gặp nhất của hệ tiết niệu ở nam giới trên
50 tuổi Bệnh có tỷ lê tử vong cao, đứng hàng thứ
hai sau ung thư phổi tại các nước công nghiệp
phát triển Bệnh UTLT thường tiến triển âm thầm
từ nhiều năm, khi đã có triệu chứng lâm sàng thì
bệnh đã ở giai đoạn muộn Bệnh UTLT thường
gia tăng theo tuổi, tuổi càng cao tỷ lệ ung thư này
cũng tăng lên
Việc chẩn đoán UTLT dựa vào thăm trực
tràng, định lượng PSA huyết thanh và sinh
thiết tiền liệt tuyến (TLT) Điều trị UTLT tùy
thuộc vào giai đoạn chẩn đoán bệnh, độ biêt
hóa của tế bào và toàn trạng của người bệnh
Nếu UTLT còn ở giai đoạn khu trú thì tỷ lệ
sống sau 10 năm khoảng 80 đến 85% nếu được
điều trị triệt để bằng cắt toàn bộ TLT tận gốc
kèm nạo vét hạch Trong khi đó, đối với các
trường hợp đến muộn, tình trạng UTLT đã lan
rộng ra khỏi bao TLT, di căn hạch thì tỷ lệ sống
sau 5 năm và 10 năm chỉ còn 60% và 40% Ở
Việt Nam, tỷ lệ UTLT có chiều hướng tăng lên
Theo thống kê của Phạm Thị Hoàng Anh,
Nguyễn Bá Đức(2001), tỷ lệ UTLT đã tăng từ
1,5 – 2,3/100000 nam giới giai đoạn 1995 – 1996
lên 2,3 – 2,5/100000 nam giới giai đoạn 2002 –
2003
Bệnh nhân UTLT thường đến muộn do vậy
việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn và phức tạp
Bệnh viện Việt Đức đã điều trị cho các bệnh nhân
UTLT từ nhiều năm nay Tuy nhiên trong những
năm gần đây số bệnh nhân UTLT đã tăng lên
đáng kể Phân tích những bệnh nhân đến khám
và điều trị UTLT chúng tôi nghiên cứu đề tài“Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị ung thư tiền liệt tuyến tại Khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011” với mục tiêu:
- Nhận xét về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân UTLT
- Phân tích việc điều trị UTLT ở các bệnh nhân này
ĐỐ I TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi cứu tất cả các bệnh nhân được điều trị UTLT từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011 tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức
Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân UTLT được điều trị ở các bệnh viện khác
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011, khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức đã điều trị cho 119 bệnh nhân được chẩn đoán UTLT trong đó có 27 bệnh nhân ở Hà Nội và 92 bệnh nhân ở các tỉnh lân cận(30/92 là người ở vùng sâu, vùng xa các tỉnh phía Bắc)
Tuổi
Tuổi trung bình là 72,1 tuổi; cao nhất là 93 tuổi, thấp nhất là 42 tuổi
Nhóm độ tuổi:
+ <60 tuổi có 18 bệnh nhân(15,1%) + 61 – 70 tuổi có 30 bệnh nhân(25,2%) + 71 – 80 tuổi có 47 bệnh nhân(39,5%) + >80 tuổi có 24 bệnh nhân(20,2%) Như vậy nhóm bệnh nhân có độ tuổi từ 71 trở lên chiếm tỷ lệ 59,7%
Trang 3Triệu chứng lâm sàng
Chẩn đoán UTLT chủ yếu dựa vào triệu
chứng lâm sàng và cận lâm sàng Tất cả bệnh
nhân đến khám đều có triệu chứng rối loạn đường
tiểu dưới(91,5% có triệu chứng tắc nghẽn, 82% có
triệu chứng kích thích)
Triệu chứng đau xương chậu gặp ở 43,5%
bệnh nhân
Thăm trực tràng: 12/119 trường hợp có
nhân cứng ở một thùy tuyến tiền liệt, còn lại
107 trường hợp khi thăm trực tràng phát hiện
TLT đã có nhân cứng cả hai thùy hoặc toàn bộ
TLT chắc cứng
Xét nghiệm PSA huyết thanh
Xét nghiệm PSA huyết thanh cho kết quả:
+ PSA <10 ng/ml có 1 bệnh nhân (0,8%)
+ PSA 10 – 50 ng/ml có 15 bệnh nhân (12,6%)
+ PSA >50 – 100ng/ml có 62 bệnh nhân
(52,1%)
+ PSA >100 ng/ml có 41 bệnh nhân (34,5%)
+ PSA thấp nhất là 5,6 ng/ml
+ PSA cao nhất là 10800 ng/ml
Sinh thiết TLT
Tất cả bệnh nhân đều được sinh thiết TLT
dưới siêu âm qua trực tràng có kết quả dương
tính carcinoma TLT (trong đó có 4 trường hợp đã
đươc mổ nội soi TLT chẩn đoán giải phẫu bệnh là
carcinoma)
Điều trị
Về phương pháp điều trị, trong 119 bệnh
nhân có:
+ 39 trường hợp mổ nội soi cắt TLT kèm cắt
tinh hoàn,
+ 34 trường hợp mổ dẫn lưu bàng quang kèm
cắt tinh hoàn,
+ 21 trường hợp mổ nội soi cắt TLT đơn thuần
kết hợp dùng thuốc kháng androgen,
+ 4 trường hợp đã mổ nội soi TLT được cắt
tinh hoàn,
+ 13 bệnh nhân được điều trị đơn thuần bằng
thuốc Zoladex
+ 8 trường hợp được phẫu thuật cắt toàn bộ TLT tận gốc
Tất cả các bệnh nhân được hẹn tái khám định
kỳ hàng tháng bằng các xét nghiệm PSA huyết thanh, siêu âm… để theo dõi và tư vấn tiếp tục
BÀN LUẬN
Bệnh UTLT trong những năm gần đây được nhiều quốc gia quan tâm vì nó khá phổ biến, hay gặp ở người cao tuổi và gây tử vong cao Ở Việt Nam, số lượng bệnh nhân được phát hiện UTLT ngày càng nhiều Chỉ tính trong vòng 1 năm từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011, khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức đã điều trị cho 119 trường hợp UTLT Đây là những trường hợp chắc chắn UTLT
vì tất cả đều được sinh thiết TLT dưới siêu âm qua trực tràng Các bệnh nhân đến viện đều có biểu hiện rối loạn đường tiểu dưới mức độ từ vừa đến nặng: đái khó, bí đái, đái máu, suy thận…hoặc đã được dẫn lưu bàng quang ở tuyến dưới Trong số
119 bệnh nhân UTLT, chỉ có 27 bệnh nhân ở Hà Nội, 92 bệnh nhân ở các địa phương trong đó phải kể đến có 30/92 là các bệnh nhân ở các vùng sâu, vùng xa ở các tỉnh phía Bắc Đó là nơi còn thiếu thốn về điều kiện chăm sóc y tế, trình độ dân trí còn thấp, khó khăn về kinh tế nên phần
đông bệnh nhân thường phát hiên muộn
Nhóm tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu: Có 59,7% trường hợp có độ tuổi từ 71 trở lên Điều này cũng là phù hợp với các nghiên cứu trước đây, là UTLT bắt đầu xuất hiện từ độ tuổi 50 và đỉnh cao của căn bệnh này là khoảng 80 tuổi Do vậy, tuổi thọ càng cao thì khả năng gặp bệnh nhân UTLT càng nhiều hơn Trong nghiên cứu chỉ có một bệnh nhân ở độ tuổi 42 và bệnh nhân cao tuổi nhất là 93 tuổi
Ngoài các triệu chứng tắc nghẽn và kích thích, nghiên cứu cho thấy có 43,5% trường hợp
có triệu chứng đau xương chậu Đây là biểu hiện UTLT ở giai đoạn muộn, chứng tỏ đã có di căn xa Việc điều trị chỉ còn tạm thời và mang tính điều trị triệu chứng
Chẩn đoán UTLT đã được đề cập nhiều: Đó
là việc thăm trực tràng, định lượng PSA huyết thanh và sinh thiết TLT 119 bệnh nhân UTLT
Trang 4trong nhóm nghiên cứu có 12/119 bệnh nhân
có nhân cứng ở một bên thùy TLT Còn các
trường hợp khác TLT đã chắc cứng hoặc có
nhân cả 2 bên thùy
Việc thăm trực tràng phải coi là thăm khám
bắt buộc khi khám cho một bệnh nhân nam trên
50 tuổi có triệu chứng của đường tiểu dưới Theo
Catalona(1994), khi thăm trực tràng nghi vấn là
UTLT với trị số PSA từ 4 – 10 ng/ml, đã có
khoảng 40 – 50% số bệnh nhân bị UTLT Định
lượng PSA huyết thanh đã được làm thường quy
tại BV Việt Đức trong nhiều năm, kết hợp với
thăm trực tràng, việc định lượng PSA huyết
thanh sẽ giúp cho việc chẩn đoán UTLT được
chính xác hơn Theo Carter(1992), PSA được sử
dụng trong chẩn đoán UTLT có độ nhạy 80% và
độ đặc hiệu là 61% Trong nghiên cứu chỉ có 1
bệnh nhân có PSA 5,6 ng/ml được chẩn đoán là
UTLT do kết hợp với sinh thiết TLT qua trực
tràng Có 15 bệnh nhân (12,6%) có PSA từ 10– 50
ng/ml, 62 bệnh nhân có PSA>50 ng/ml, 41 bệnh
nhân có PSA>100 ng/ml, trong đó có 1 bệnh
nhân có PSA là 10800 ng/ml Sự kết hợp giữa
thăm trực tràng đánh giá TLT và định lượng PSA
huyết thanh được làm thường quy thì chắc chắn
số lượng bệnh nhân UTLT sẽ được phát hiện
nhiều hơn 92 bệnh nhân ở các địa phương được
khoa Tiết niệu BV Việt Đức chẩn đoán UTLT đòi
hỏi cần xem lại việc khám lâm sàng và cận lâm
sàng ở các tuyến cơ sở nhằm phát hiện sớm
những trường hợp UTLT khi còn ở giai đoạn sớm
có thể có thể mổ cắt TLT tận gốc Sinh thiết TLT
dựa vào siêu âm qua trực tràng được coi là
phương pháp chẩn đoán duy nhất làm bằng
chứng mô học của UTLT Dựa vào kết quả sinh
thiết kết hợp với triệu chứng lâm sàng, cận lâm
sàng, PSA để đưa ra cách điều trị thích hợp cho
bệnh nhân Phân tích trong 119 bệnh nhân có 39
bệnh nhân được mổ cắt TLT nội soi kèm cắt tinh
hoàn Phẫu thuật nhằm cải thiện chức năng tiểu
tiện của bệnh nhân kèm theo hạn chế sự phát
triển của UTLT Việc tư vấn cho bệnh nhân sau
mổ là cần thiết với điều trị bằng Casodex
0,5mg/ngày nhằm ức chế toàn bộ Androgen Tuy
nhiên sẽ rất khó khăn vì đại đa số bệnh nhân
trong nhóm nghiên cứu ở các địa phương còn khó khăn về kinh tế Có 34 bệnh nhân được dẫn lưu bàng quang và cắt tinh hoàn Đây là những bệnh nhân UTLT ở giai đoạn muộn, tình trạng sức khỏe xấu không đủ khả năng gây mê để mổ Việc điều trị chỉ là vấn đề điều trị triệu chứng Có
4 bệnh nhân được mổ cắt tinh hoàn là những bệnh nhân đã được mổ TLT nội soi, chẩn đoán UTLT đã được làm giải phẫu bệnh sau mổ Có 21 bệnh nhân được mổ cắt nội soi TLT đơn thuần, sau đó được dùng thuốc kháng Androgen Các bệnh nhân này không muốn cắt tinh hoàn và có điều kiện để dùng thuốc Nghiên cứu có 13 bệnh nhân chỉ điều trị đơn thuần bằng thuốc kháng Androgen Đây là những bệnh nhân có PSA huyết thanh trên 100ng/ml có tuổi trên 80 tuổi do vậy khả năng sống thêm không còn nhiều Chỉ
có 8 bệnh nhân có khả năng mổ cắt TLT tận gốc với kết quả tốt Sau mổ bệnh nhân có PSA xuống thấp dưới 0,5ng/ml, không bị đái rỉ Điều này chứng tỏ nếu bệnh nhân được chẩn đoán sớm có trị số PSA huyết thanh thấp, điểm Gleason thấp
và ở giai đoạn mô bệnh học từ T1 đến T3a thì kết quả điều trị sẽ hứa hẹn tỉ lệ khỏi bệnh cao Nghiên cứu cho thấy việc tầm soát và phát hiện sớm UTLT cho phép điều trị có hiệu quả tốt nhất cho các bệnh nhân UTLT Việc đối chiếu giữa lâm sàng và cận lâm sàng, giữa PSA và kết quả sinh thiết TLT, giữa tuổi bệnh nhân và giai đoạn bệnh
sẽ đưa ra cách điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân bị UTLT
KẾT LUẬN
Trong 2 năm, khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức đã điều trị cho 119 bệnh nhân bị UTLT, chỉ
có 8 bệnh nhân còn ở giai đoạn sớm còn khả năng cắt toàn bộ TLT tận gốc; còn đại đa số bệnh nhân đến muộn, việc điều trị sẽ phức tạp và tiên lượng của các bệnh nhân này là hết sức dè dặt Vì
có trên 50% các bệnh nhân có tuổi từ 71 tuổi trở lên, định lượng PSA huyết thanh trên 50 ng/ml
có 86,3% trường hợp Do vậy, việc nghiên cứu để tầm soát UTLT là cấp thiết trong việc phát hiện sớm những bệnh nhân bị căn bệnh hiểm nghèo này
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Carter V (1992), Instrumentation and endoscopy prostate biopsy,
Campbell’s urology, 6 th edition, tom I, pp 338-341
2 Catalona W.J (1991), Measurement of prostate-specific antigen
in serum as a screening test for prostate cancer, N.Engl J Med,
324, pp 1156-1161
3 Chaztiez E (2002), Cancer de la prostate, Urology, 4e ed Esten,
pp 125-141
4 Karazanashvili G (2003), Prostate specific antigen and human
glandular kallikrein early detection of prostate cancer, The
journal of urology, 169, pp 445-457
5 Lepoz H (2003), Practical consideration in radical retropubic
prostatectomy, Uro Clin North Am, 30 (2), pp 363-368
6 Lodding P et al (1998), Characteristics of screening detected prostate cancer in men 50 to 66 years old with 3 to 4 ng/ml prostate specific antigen, J Uro, 159, pp 849-903
7 Nguyễn Bửu Triều (2002), Ung thư tiền liệt tuyến, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản y học, 1, tr 316
8 Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Bá Đức (2001), Tình hình ung thư ở Việt Nam năm 2001, Thông tin y dược, 2, tr 19-25
9 Schneidez H.B (2007), Impact of low prostate specific antigen on prostate cancer – a rare case report, Eur Med Res, 12, pp
311-313
10 Wilkinson B.A (2001), State of art staging in prostate cancer, BJU, 87, pp 423-431