Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: U mô đệm đường tiêu hóa (GIST: Gastrointestinal stromal tumor) là u trung mô thường gặp nhất của đường tiêu hóa, thường có CD117 (+). Đột biến gen KIT gặp trong khoảng 60-80% trường hợp GIST, là đích điều trị của imatinib. Mặc dù thuốc này đã được chỉ định tại Việt Nam, nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát đột biến gen KIT trong GIST.
Trang 1XÁC ĐỊNH ĐỘT BIẾN GEN KIT TRONG U MÔ ĐỆM
ĐƯỜNG TIÊU HÓA BẰNG KỸ THUẬT GIẢI TRÌNH TỰ CHUỖI DNA
Hoàng Anh Vũ * , Hoàng Đức Trình ** , Ngô Quốc Đạt *** , Hứa Thị Ngọc Hà ***
TÓM TẮT
Giới thiệu: U mô đệm đường tiêu hóa (GIST: Gastrointestinal Stromal Tumor) là u trung mô thường gặp
nhất của đường tiêu hóa, thường có CD117 (+) Đột biến gen KIT gặp trong khoảng 60 – 80% trường hợp GIST,
là đích điều trị của imatinib Mặc dù thuốc này đã được chỉ định tại Việt Nam, nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát đột biến gen KIT trong GIST
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 32 trường hợp GIST chẩn đoán tại Bộ môn Giải Phẫu Bệnh, Đại
học Y Dược TP.Hồ Chí Minh từ tháng 1/2010 đến 3/2011 được khảo sát đột biến KIT tại 4 exon 9, 11, 13 và 17 Sau khi khuếch đại thành công bằng PCR từ bệnh phẩm là mô vùi nến, đột biến của KIT được xác định bằng kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA
Kết quả: 22 bệnh nhân có đột biến KIT (68,7%) Đột biến gặp ở mọi vị trí GIST được khảo sát bao gồm dạ
dày, ruột non, ruột già, mạc treo và sau phúc mạc Cả 9 trường hợp u lớn hơn 10 cm đều có đột biến so với chỉ 4 đột biến được phát hiện ở 10 trường hợp u nhỏ hơn 5 cm Đột biến nhạy với imatinib ở exon 11 thường gặp nhất (17/22) và rất đa dạng, bao gồm đột biến điểm, đột biến mất đoạn, chèn đoạn và đột biến phức tạp Các đột biến ít nhạy với imatinib cũng được phát hiện ở exon 9 (1 bệnh nhân) và exon 17 (4 bệnh nhân)
Kết luận: Kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA có thể ứng dụng trong chẩn đoán đột biến KIT, giúp lựa chọn
bệnh nhân GIST trong chỉ định điều trị imatinib
Từ khóa: đột biến gen c-kit, u mô đệm đường tiêu hóa, giải trình tự chuỗi DNA
ABSTRACT
C-KIT GENE MUTATIONS IN GIST BY DNA SEQUENCING METHOD
Hoang Anh Vu, Hoang Duc Trinh, Ngo Quoc Dat, Hua Thi Ngoc Ha
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 66 - 73
Background: Gastrointestinal stromal tumor (GIST) is the most common mesenchymal tumor of the
intestinal tract, often showing CD117 expression About 60 –80% of GISTs have activating mutations of the KIT gene, which are therapeutic targets for imatinib Although imatinib has recently been indicated for GIST patients
in Vietnam, KIT mutations were not investigated
Material and method: Tumors from 32 patients with GIST diagnosed at Department of Pathology from
January 2010 to March 2011 were searched for mutations in KIT exons 9, 11, 13, and 17 PCR was used to amplify 4 exons from DNA of paraffin-embedded tissue samples, followed by direct DNA sequencing
Results: In total, 22 mutations were detected in all sites of GIST including stomach, small intestine, colon,
mesentery, and retroperitoneum All 9 tumors more than 10 cm in size have mutations, in comparison with 4 of
10 tumors less than 5 cm have mutations Imatinib-sensitive mutations in exon 11 are the most common mutations detected (17 out of 22), which include point mutation, deletion, insertion, and complex mutation In
* Bộ môn Mô – Phôi, Đại học Y Dược TP.HCM ** Bộ môn Giải Phẫu Bệnh, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
*** Bộ môn Giải Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược TP.HCM
Tác giả liên lạc: TS.BS Hoàng Anh Vũ ĐT: 01222993537 Email: hoangvuxinh@yahoo.com
Trang 2addition, 1 mutation was found in exon 9 and 4 in exon 17
Conclusion: DNA sequencing can detect KIT mutations for selecting GIST patients benefit from imatinib
therapy
Key words: c-kit mutation, Gastrointestinal Stromal Tumor (GIST), direct DNA sequencing
ĐẶT VẤN ĐỀ
U mô đệm đường tiêu hóa (GIST:
gastrointestinal stromal tumor) tương đối hiếm
gặp, chiếm < 1% u ác tính của đường tiêu hóa(2)
U xuất phát từ tế bào kẽ của Cajal, thường biểu
hiện CD117 trong bào tương và bề mặt tế bào
Ngoài phẫu thuật là điều trị chuẩn cho những
trường hợp chưa di căn, u thường đề kháng với
hóa trị liệu kinh điển và xạ trị
Phần lớn GIST có mang đột biến của gen
KIT hoặc gen PDGFRA, là hai gen cùng thuộc
gia đình receptor tyrosine kinase Trong tế
bào bình thường gen KIT và gen PDGFRA chỉ
được hoạt hóa khi có gắn với chất truyền tín
hiệu ngoại bào (SCF: Stem Cell Factor) Đột
biến của KIT xảy ra trong 60 – 80% trường
hợp GIST và khi đó gen KIT được hoạt hóa
liên tục một cách độc lập với SCF(14) Trong
nhóm GIST không có đột biến KIT, khoảng
phân nửa số bệnh nhân có đột biến PDGFRA
Đột biến của cả 2 gen này đều là đích điều trị
của imatinib Tuy nhiên, mức độ nhạy với
imatinib không phải giống nhau giữa các kiểu
đột biến Đột biến của KIT thường gặp nhất ở
exon 11 và nhạy với imatinib; các đột biến ở
exon 9, 13 và 17 hiếm gặp hơn và ít nhạy với
imatinib(5) Vì thế, việc xác định đột biến của
KIT rất có ý nghĩa trong điều trị imatinib cho
bệnh nhân
Tại Việt Nam, mặc dù imatinib đã được
chỉ định điều trị cho GIST giai đoạn tiến xa
với những đáp ứng ban đầu đầy triển vọng
được báo cáo trong thời gian gần đây(17), vẫn
chưa có nghiên cứu nào khảo sát đột biến KIT
trên bệnh nhân GIST Nghiên cứu này nhằm
xác lập quy trình kỹ thuật giải trình tự chuỗi
DNA để xác định đột biến KIT từ bệnh phẩm
là mô vùi nến và mô tả đặc điểm đột biến KIT
của bệnh nhân Việt Nam
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
32 trường hợp GIST được chẩn đoán tại Bộ môn Giải Phẫu Bệnh – Đại học Y Dược TP.HCM trong thời gian từ tháng 1/2010 đến 3/2011 Chẩn đoán GIST được xác định bằng tiêu bản nhuộm Hematoxylin – Eosin và nhuộm hóa mô miễn dịch với dấu ấn CD117 dương tính (+++)
Tách chiết genomic DNA
Bệnh phẩm là mô vùi nến đã dùng để chẩn đoán giải phẫu bệnh Vùng mô ung thư được đánh dấu trên lam giải phẫu bệnh để phân biệt với vùng mô lành xung quanh rồi được cạo vào tube ly tâm 1,5 mL nhằm tăng khả năng chẩn đoán được đột biến Xylene (Merck, Đức) được thêm vào tube ly tâm 2 lần để khử nến, sau đó được rửa lại bằng ethanol tuyệt đối và để khô trước khi ủ với proteinase K (Invitrogen, Mỹ) ở
480C trong 16 giờ Tinh sạch sản phẩm DNA sau khi ủ proteinase K được thực hiện bằng phenol – chloroform (Invitrogen, Mỹ) Cuối cùng, kết tủa DNA bằng ethanol tuyệt đối trong muối
NH4OAC và định nồng độ DNA bằng spectrophotometer
Khuếch đại các exon bằng PCR
Các đoạn mồi được thiết kế bằng phần mềm Oligo 4.1 dựa trên trình tự chuẩn của
KIT mang accession number NG_007456 trong
GenBank (Bảng 1) Trong mỗi tube PCR có tổng thể tích 50 µL, các thành phần gồm có PCR buffer, dNTP (250 µM cho mỗi loại), 2 loại mồi xuôi và ngược (0,5 µM cho mỗi loại), 1,25 unit TaKaRa TaqTM HotStart Polymerase (Takara, Nhật Bản) và 20 ng genomic DNA Chu kỳ luân nhiệt được thực hiện trên máy GeneAmp® PCR system 9700 (Applied Biosystems, Mỹ) bao gồm giai đoạn biến tính ban đầu ở 980C trong 2 phút, theo sau bằng 40 chu kỳ gồm biến tính ở 980C trong 10 giây,
Trang 3gắn mồi ở 600C trong 15 giây, tổng hợp chuỗi
DNA ở 720C trong 1 phút và kết thúc bằng
giai đoạn kéo dài sản phẩm ở 720C trong 5
phút Sản phẩm PCR được phát hiện bằng
điện di trên thạch agarose 2% có nhuộm
ethidium bromide và quan sát dưới màn soi
gel Pringraph (Atto, Nhật Bản) Sản phẩm
PCR được tinh sạch bằng QIAquick Gel
Extraction kit (Qiagen, Mỹ) và được kiểm tra
lại bằng điện di trên thạch agarose 2%
Bảng 1: Các đoạn mồi dùng trong nghiên cứu đột
biến KIT
Tên mồi Trình tự DNA (5’ -3’) Exon
được khuếch đại
Sản phẩm PCR (bp)
KIT-9F AGTATGCCACATCCCAAGTG
KIT-11F CCAGAGTGCTCTAATGACTG
KIT-13F CATCAGTTTGCCAGTTGTGC
KIT-17F GAACATCATTCAAGGCGTAC
Thực hiện giải trình tự chuỗi DNA
Sản phẩm PCR đã được tinh sạch sẽ được
thực hiện phản ứng cycle sequencing với
BigDye V3.1 từ Applied Biosystems, theo 2
chiều xuôi và ngược cho mỗi exon Sản phẩm
sau đó được kết tủa bằng ethanol, hòa tan trong
Hi-Di formamide, biến tính ở 950C trong 2 phút
trước khi làm lạnh đột ngột Trình tự DNA được
đọc bằng máy ABI 3130 Genetic Analyzer, với
POP-7 polymer và capillary 50 cm (Applied
Biosystems, Mỹ) Kết quả được phân tích bằng
phần mềm SeqScape, so sánh với trình tự tham
chiếu của KIT mang accession number
NG_007456 để chẩn đoán tình trạng đột biến của
các exon
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Về giải trình tự gen KIT trên mô u vùi nến
Gen KIT gồm 21 exon, mã hóa cho protein
cùng tên có 976 acid amin, thuộc gia đình thụ
thể tyrosine kinase loại III Protein này có thể
được phát hiện bằng nhuộm hóa mô miễn dịch
với kháng thể kháng protein KIT, hay còn gọi là kháng thể kháng CD117 GIST có thể dương tính
với dấu ấn CD117 trong cả trường hợp KIT đột biến và KIT không đột biến(13)
Đột biến KIT có thể gặp trong nhiều loại ung
thư khác nhau như bệnh bạch cầu cấp dòng tủy(6), u tế bào mầm tinh hoàn và buồng trứng(3,11) Trong GIST, đột biến KIT chủ yếu xảy
ra trong 4 exon 9, 11, 13 và 17(8,16)
Để có thể giải trình tự chuỗi DNA, bước quyết định là phải khuếch đại được các exon muốn tìm đột biến từ mô vùi nến Chúng tôi thiết kế các cặp mồi đặc hiệu cho từng exon, và thành công trong việc khuếch đại các exon này bằng PCR (Hình 1A) Trong điều kiện PCR đã được thiết lập, nhiệt độ bắt cặp của cả 4 cặp mồi
là 600C, giúp khuếch đại cùng lúc 4 exon bằng một chương trình luân nhiệt rất thuận lợi Trong một số trường hợp, kết quả điện di trên thạch agarose đã cho thấy các băng có kích thước bất thường, tương ứng với đột biến mất hoặc thêm nucleic acid
Bản chất của các đột biến được xác định bằng kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA Chúng tôi phát hiện 22 trường hợp có đột biến trong 32 trường hợp đã khảo sát (68,7%), tương đương với số liệu của hầu hết các nghiên cứu khác có
sử dụng mô vùi nến(7,13,16) Bảng 2 cho thấy các đột biến có khuynh hướng thường gặp trên những khối u lớn hơn 10 cm (9/9), ít gặp trên u nhỏ hơn 5 cm (4/10) Tuy nhiên, vì số liệu nghiên cứu này còn nhỏ, chúng tôi cần thêm nhiều trường hợp hơn để rút ra kết luận về mối liên quan giữa đột biến và kích thước u Về bản chất, các đột biến được phát hiện rất đa dạng, bao gồm đột biến điểm, đột biến mất đoạn, chèn đoạn và đột biến phức tạp (Hình 1B – D) Kết quả này chứng tỏ kỹ thuật của chúng tôi đáng
tin cậy trong việc phát hiện đột biến của KIT từ
bệnh phẩm giải phẫu bệnh đã qua thời gian dài lưu trữ Đây là bệnh phẩm thường được sử dụng nhất khi chẩn đoán trên lâm sàng, vì thế nghiên cứu của chúng tôi có thể ứng dụng cho
những trường hợp cần xác định đột biến KIT
Trang 4cho bệnh nhân GIST muốn được điều trị bằng
imatinib Tỷ lệ đột biến trong một số báo cáo có
thể cao hơn, thường do được khảo sát đột biến
từ mô tươi, khảo sát toàn bộ các exon của KIT
hoặc khảo sát ở mức RNA(1) Tuy nhiên các điều kiện này không dễ thực hiện trong thực hành lâm sàng
C
D
C
D
Hình 1: Phát hiện các đột biến KIT bằng giải trình tự chuỗi DNA (A) Khuếch đại 4 exon 9, 11, 13 và 17 (các
giếng 1 – 4) trên bệnh nhân 6 và 7 bằng PCR Bệnh nhân 7 có băng thêm đoạn ở exon 11 (giếng 2) (B) Hình ảnh đột biến thêm đoạn của exon 9 (C) Đột biến điểm của exon 17 (D) Các đột biến điểm và mất đoạn của exon 11
Về ý nghĩa lâm sàng – giải phẫu bệnh của
các trường hợp đột biến KIT
Trong 22 trường hợp có đột biến, 17 đột
biến ở exon 11 – chiếm 53,1% (Bảng 2 và 3)
Trong tất cả các nghiên cứu về GIST, đột biến
exon 11 thường gặp nhất và đều là những đột
biến nhạy với imatinib(7,10) Với những bệnh
nhân này, liều điều trị imatinib được khuyến
cáo là 400 mg/ngày(4) Bảng 2 cho thấy đột
biến ở exon 11 xuất hiện với tỷ lệ tương
đương ở bệnh nhân nam và nữ, có thể gặp ở
tất cả mọi vị trí của GIST được khảo sát, bao
gồm dạ dày, ruột non, ruột già, sau phúc mạc
và mạc treo Mặc dù đột biến có khuynh
hướng hay gặp hơn ở những u có kích thước lớn, sự xuất hiện đột biến không liên quan tới đặc điểm mô học của u hay chỉ số phân bào Kết quả này gợi ý rằng đột biến ở exon 11 nên được khảo sát cho tất cả các trường hợp GIST
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng – giải phẫu bệnh và đột
biến KIT trong nghiên cứu
Có đột biến Exon 9 Exon 11 Exon 17
Không đột biến
Giới
Vị trí
Trang 5Có đột biến Exon 9 Exon 11 Exon 17
Không đột biến
Sau phúc mạc
(2)
Dạng biểu mô
(5)
Loại tế
bào
Kích
thước u
Có đột biến Exon 9 Exon 11 Exon 17
Không đột biến
< 5 PB/50 QTL (17)
5-10 PB/50 QTL (5)
Chỉ số phân bào
> 10 PB/50 QTL (10)
Bảng 3: Đặc điểm giải phẫu bệnh GIST có đột biến KIT trong nghiên cứu
STT Mã số GPB Vị trí đột
biến
Số
ca Loại đột biến Vị trí u
Kích thước (cm)
Loại mô học
Phân bào
Giai đoạn u TNAT
Exon 11
Exon 17
(DD: Dạ dày; RN: ruột non; ĐT: Đại tràng; MT: Mạc treo; DBM: Dạng biểu mô; HH: Hỗn hợp; TNAT: Tiềm năng ác tính; KKT: Không khu trú; KT: Khu trú; DCPM: Di căn phúc mạc; DCG: Di căn gan)
Tương quan giữa tình trạng đột biến KIT
với đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh
Về mối tương quan giữa tình trạng đột biến
KIT với đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh
cũng như giá trị tiên lượng, sau khi tổng hợp nhiều nghiên cứu khác nhau, tác giải Lasota có bảng nhận xét như sau (Bảng 4)(13):
Bảng 4: Tổng hợp y văn các đặc điểm lâm sàng – giải phẫu bệnh của GIST liên quan tới đột biến KIT
Trang 6Vị trí đột
biến
Đột biến ở mức độ
protein Biểu hiện lâm sàng Loại mô học Giá trị tiên lượng
GIST của ruột non
Ưu thế loại tế bào hình thoi
Không có giá trị tiên lượng trong GIST
ruột Trp557_Lys558del
Mất đoạn Mất đoạn-Chèn đoạn
Biểu hiện ác tính hơn, đặc biệt là
GIST dạ dày Đột biến điểm
GIST ở mọi nơi trong ống tiêu hóa
Loại tế bào hình thoi và loại biểu
mô
Biểu hiện ít ác tính hơn khi u ở dạ dày Exon 11
dày
lần GIST ở nơi khác
Ưu thế loại tế bào hình thoi
Không có giá trị tiên lượng
Về đột biến KIT ở exon 11
Hiện nay, vẫn còn nhiều bất đồng về giá
trị tiên lượng của những đột biến KIT tại exon
11 Các nghiên cứu trước đây ghi nhận những
đột biến này thường gặp ở các GIST kích
thước lớn, có hoạt động phân bào mạnh, vì
vậy có mối liên quan với GIST ác tính Tuy
nhiên, những nghiên cứu về sau ghi nhận đột
biến ở exon 11 có thể thấy ở cả GIST lành tính,
GIST phát hiện tình cờ và ác tính, do đó
không có mối liên quan rõ rệt giữa những đột
biến exon 11 và tiềm năng ác tính(7,13)
Theo Bảng 3, 17 ca đột biến exon 11 của
chúng tôi có 5 ca đột biến điểm và 12 ca không
phải đột biến điểm (mất đoạn, đảo đoạn, chèn
đoạn, đột biến phức tạp) Trong 5 ca đột biến
điểm, chỉ có 1 ca có tiềm năng ác tính cao, 4 ca
còn lại có tiềm năng ác tính thấp hoặc trung
bình Ngược lại, 12 ca không phải đột biến điểm
chỉ có 3 ca có tiềm năng ác tính thấp hoặc trung
bình, còn lại 9 ca đều có tiềm năng ác tính cao
Cũng theo Bảng 3, về đặc điểm giai đoạn u,
chúng tôi ghi nhận 5 ca đột biến điểm có 3 ca u
ở giai đoạn không khu trú (thủng tạng hoặc xâm
lấn cơ quan lân cận), 2 ca ở giai đoạn khu trú
Trong 12 trường hợp không đột biến điểm chỉ
có 3 ca ở giai đoạn khu trú, 7 ca giai đoạn không
khu trú, 2 ca có di căn (1 ca di căn gan, 1 ca di
căn khắp phúc mạc thành bụng), nghĩa là những
trường hợp không phải đột biến điểm cũng có
xu hướng xâm lấn mạnh hơn
Như vậy nghiên cứu của chúng tôi bước đầu
ghi nhận kết quả cũng khá phù hợp với y văn,
đột biến điểm ở exon 11 có tiên lượng tốt hơn các loại đột biến mất đoạn, chèn đoạn, đảo đoạn
Về đột biến KIT ở exon 9 và exon 17
Đa số các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tỷ lệ đột biến ngoài exon 11 rất thấp, chỉ khoảng dưới 10%(12,18) Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy sự phân bố tần suất các đột biến có thể thay đổi theo chủng tộc Đột biến thêm 2 acid amin ở exon 9 (Y503-F504 ins AY) hiếm gặp trong GIST của dạ dày ở bệnh nhân
Âu – Mỹ, nhưng tương đối thường gặp (32%) ở bệnh nhân gốc châu Á(12) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ phát hiện được 1 bệnh nhân có đột biến của exon 9 (3,1%), không có bệnh nhân nào đột biến ở exon 13, nhưng tỷ lệ đột biến exon 17 cao hơn hẳn các nghiên cứu khác (3 bệnh nhân
có đột biến N822K và 1 bệnh nhân có đột biến A794T, 12,5%) Các số liệu bước đầu này gợi ý rằng các đột biến gen trong ung thư của từng quần thể khác nhau sẽ mang những đặc trưng riêng biệt và cần được khảo sát thêm
Về ý nghĩa của đột biến KIT với tình trạng
nhạy imatinib
Kể từ năm 2000, khi bệnh nhân GIST đầu tiên được điều trị thành công với thuốc ức chế tyrosine kinase là imatinib mesylate (Glivec, Norvatis), nhiều bệnh nhân GISTs đã được điều trị thành công với liệu pháp nhắm trúng đích phân tử này(13) Tuy nhiên, đáp ứng điều trị với imatinib còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng
đột biến KIT (Bảng 5)(13)
Trang 7Theo Bảng 5, chúng ta thấy ý nghĩa rất lớn
của việc giải trình tự gen KIT với hiệu quả của
liệu pháp nhắm trúng đích phân tử bằng
imatinib, cả về phương diện tiên đoán đáp ứng
điều trị và liều điều trị
So với đột biến exon 11 thì đột biến exon 9
kém nhạy với imatinib hơn, nên liều điều trị
được khuyến cáo là 800 mg/ngày thay vì 400
mg/ngày, hoặc thay bằng sunitinib(5,18) Tuy
hiếm gặp, nhưng chẩn đoán đột biến exon 9
thật sự cần thiết trong quyết định điều trị
imatinib Tỷ lệ đột biến cao ở exon 17 cũng
đáng chú ý trên bệnh nhân Việt Nam vì
N822K là đột biến kháng imatinib(9,13,15), bệnh
nhân cần được lựa chọn một mô thức điều trị
thích hợp khác ngoài loại thuốc này
Bảng 5: Liên quan kiểu đột biến KIT với mức độ
nhạy imatinib trên thực nghiệm và đáp ứng với
imatinib trong điều trị theo các nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng của Mỹ và Châu Âu
Exon Kiểu đột biến KIT (n) Mức độ nhạy imatinib
nghiệm Đáp ứng hoàn toàn (5%);
đáp ứng một phần (29%);
bệnh ổn định (47%), bệnh tiến triển (17%) (nghiên cứu pha III EORTC)
Liều cao gia tăng thời gian
lui bệnh
đoạn-chèn đoạn
Đột biến điểm
Nhân đoạn
Là những loại đột biến nhạy imatinib thường gặp nhất trên thực nghiệm Đột biến hiếm gặp Val559Ile kháng imatinib trên thực nghiệm Đáp ứng hoàn toàn (6%);
đáp ứng một phần (61%);
bệnh ổn định (25%), bệnh tiến triển (3%) (nghiên cứu pha III EORTC)
Glu635Lys (1)
Nhạy với imatinib trên thực
nghiệm Đáp ứng một phần hoặc bệnh ổn định ở cả 9 ca
Asn822Lys (2)
Asn822His (2)
Asn822Lys và Asn822His nhạy imatinib trên thực nghiệm Đáp ứng một phần (4 ca):
Asn820Tyr, Asn822Lys, Asn822His Kháng imatinib nguyên phát: Asn822Lys
Theo Bảng 5, GIST có KIT không đột biến
cũng có đáp ứng với điều trị imatinib nhưng
không hiệu quả bằng GIST có đột biến gen KIT
trên exon 11 Nghiên cứu của chúng tôi có 10
trường hợp KIT không đột biến, cần được khảo sát thêm đột biến của gen PDGFRA Các trường
hợp không có đột biến ở cả 2 gen được dự báo đáp ứng không tốt với imatinib
KẾT LUẬN
Đột biến KIT gặp trong 68,7% trường hợp
GIST và rất đa dạng, bao gồm các đột biến ở exon 11 nhạy với imatinib và các đột biến ít nhạy hoặc kháng imatinib ở ngoài exon 11 Giải
trình tự chuỗi DNA để khảo sát đột biến KIT
nên được thực hiện trước khi khởi đầu điều trị imatinib cho bệnh nhân GIST
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Andersson J, Sjogren H, Meis-Kindblom JM, Stenman G, Aman
P, Kindblom LG (2002) The complexity of KIT gene mutations and chromosome rearrangements and their clinical correlation in gastrointestinal stromal (pacemaker cell) tumors Am J Pathol;160(1):15-22
2 Antonescu CR (2011) The GIST paradigm: lessons for other kinase-driven cancers J Pathol;223(2):251-61
3 Biermann K, Goke F, Nettersheim D, Eckert D, Zhou H, Kahl P,
et al (2007) c-KIT is frequently mutated in bilateral germ cell tumours and down-regulated during progression from intratubular germ cell neoplasia to seminoma J Pathol;213(3):311-8
4 Blanke CD, Rankin C, Demetri GD, Ryan CW, von Mehren M, Benjamin RS, et al (2008) Phase III randomized, intergroup trial assessing imatinib mesylate at two dose levels in patients with unresectable or metastatic gastrointestinal stromal tumors expressing the kit receptor tyrosine kinase: S0033 J Clin Oncol;26(4):626-32
5 Blay JY, von Mehren M, Blackstein ME (2010) Perspective on updated treatment guidelines for patients with gastrointestinal stromal tumors Cancer;116(22):5126-37
6 Cairoli R, Beghini A, Grillo G, Nadali G, Elice F, Ripamonti CB,
et al (2006) Prognostic impact of c-KIT mutations in core binding factor leukemias: an Italian retrospective study Blood;107(9):3463-8
7 Corless CL, McGreevey L, Haley A, Town A, Heinrich MC (2002) KIT mutations are common in incidental gastrointestinal stromal tumors one centimeter or less in size Am J Pathol;160(5):1567-72
8 Gomes AL, Gouveia A, Capelinha AF, de la Cruz D, Silva P, Reis
RM, et al (2008) Molecular alterations of KIT and PDGFRA in GISTs: evaluation of a Portuguese series J Clin
Pathol;61(2):203-8
9 Heinrich MC, Corless CL, Blanke CD, Demetri GD, Joensuu H, Roberts PJ, et al (2006) Molecular correlates of imatinib
Trang 8resistance in gastrointestinal stromal tumors J Clin
Oncol;24(29):4764-74
10 Heinrich MC, Maki RG, Corless CL, Antonescu CR, Harlow A,
Griffith D, et al (2008) Primary and secondary kinase genotypes
correlate with the biological and clinical activity of sunitinib in
imatinib-resistant gastrointestinal stromal tumor J Clin
Oncol;26(33):5352-9
11 Hoei-Hansen CE, Kraggerud SM, Abeler VM, Kaern J,
Rajpert-De Meyts E, Lothe RA (2007) Ovarian dysgerminomas are
characterised by frequent KIT mutations and abundant
expression of pluripotency markers Mol Cancer;6:12
12 Lasota J, Miettinen M (2006) KIT and PDGFRA mutations in
gastrointestinal stromal tumors (GISTs) Semin Diagn
Pathol;23(2):91-102
13 Lasota J, Miettinen M (2008) Clinical significance of oncogenic
KIT and PDGFRA mutations in gastrointestinal stromal
tumours Histopathology;53(3):245-66
14 Lasota J, Wozniak A, Sarlomo-Rikala M, Rys J, Kordek R, Nassar
A, et al (2000) Mutations in exons 9 and 13 of KIT gene are rare
events in gastrointestinal stromal tumors A study of 200 cases
Am J Pathol;157(4):1091-5
15 Liegl B, Kepten I, Le C, Zhu M, Demetri GD, Heinrich MC, et al (2008) Heterogeneity of kinase inhibitor resistance mechanisms
in GIST J Pathol;216(1):64-74
16 Miettinen M, Makhlouf H, Sobin LH, Lasota J (2006) Gastrointestinal stromal tumors of the jejunum and ileum: a clinicopathologic, immunohistochemical, and molecular genetic study of 906 cases before imatinib with long-term follow-up Am
J Surg Pathol;30(4):477-89
17 Nguyễn Duy Phúc, Phạm Xuân Dũng, Trần Nguyên Hà, Nguyễn Diệp Kiều Hạnh (2010) Khảo sát hiệu quả và an toàn của imatinib mesylate trong điều trị bướu mô đệm đường tiêu hóa tái phát, di căn: cập nhật sau 3 năm điều trị Y học TP Hồ Chí Minh;14(4):239-246
18 Pierotti MA, Tamborini E, Negri T, Pricl S, Pilotti S (2011) Targeted therapy in GIST: in silico modeling for prediction of resistance Nat Rev Clin Oncol;8(3):161-70
19 Sakurai S, Oguni S, Hironaka M, Fukayama M, Morinaga S, Saito K (2001) Mutations in c-kit gene exons 9 and 13 in gastrointestinal stromal tumors among Japanese Jpn J Cancer Res;92(5):494-8