1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng đặt máy tạo nhịp tim một buồng (VVI) và hai buồng (VDD‐DDD‐DDDR) trên bệnh nhân rối loạn nhịp tim chậm tại tỉnh Bình Định

7 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 442,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát các đặc điểm lâm sàng ‐ cận lâm sàng ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim chậm. Đánh giá kết quả đặt máy tạo nhịp tim tạm thời và vĩnh viễn trong điều trị rối loạn nhịp tim chậm. Nghiên cứu tiến hành trên bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim chậm mạn tính hoặc bởi những nguyên nhân không hồi phục được.

Trang 1

VÀ HAI BUỒNG (VDD‐DDD‐DDDR) TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN 

NHỊP TIM CHẬM TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 

Phan Nam Hùng* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng ‐ cận lâm sàng ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim chậm. Đánh giá kết 

quả đặt máy tạo nhịp tim tạm thời và vĩnh viễn trong điều trị rối loạn nhịp tim chậm. 

Đối tượng: Bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim chậm mạn tính hoặc bởi những nguyên nhân không hồi phục 

được. 

Phương pháp nghiên cứu: Can thiệp. 

Kết quả: Có 106 trường hợp đặt máy tạo nhịp tạm thời và vĩnh viễn, tuổi bệnh nhân lớn nhất là 96 tuổi, trẻ 

nhất là 19 tuổi, có 18 bệnh nhân bị Block AV độ 3 và 1 trường hợp block AV độ II Mobitz II được đặt máy tạo  nhịp tạm thời trong đó có 16 trường hợp sau đó đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Phương pháp gây tê tại chỗ là chủ  yếu. Đặt máy tạo nhịp tạm thời qua đường tĩnh mạch dưới đòn phải, 1 trường hợp qua tĩnh mạch cảnh trong  phải. Đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn qua đường tĩnh mạch dưới đòn trái, có 4 trường hợp qua tĩnh mạch dưới đòn  phải. Có 103 trường hợp đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn, trong đó 89 trường hợp theo phương thức VVI, 14 trường  hợp tạo nhịp 2 buồng theo phương thức VDD, DDD và DDDR. Ngưỡng và các thông số khác của máy trong  điều kiện cho phép. Tạo nhip tạm thời, ngưỡng thấp nhất là 0,5 volt, cao nhất là 1 volt là giới hạn cho phép.  Không có trường hợp nào bị biến chứng: rung thất, tụ máu, tràn máu màng phổi tràn khí màng phổi, nhiễm  trùng… 

Kết luận: Hiện tại, chỉ có một cách duy nhất làm tăng nhịp tim kéo dài là dùng máy tạo nhịp để gửi tín hiệu 

điện đến kích thích tim. Máy tạo nhịp vĩnh viễn cần thiết ở những bệnh nhân bị chậm nhịp tim mạn tính hoặc do  những nguyên nhân không thể phục hồi được.

Từ khóa: Tạo nhịp tạm thời,tạo nhịp vĩnh viễn,nhịp tim chậm.  

ABSTRACTS 

THE APPLICATION OF PACEMAKER PLACEMENT ONE CHAMBER WITH (VVI) METHOD AND 

TWO CHAMBER WITH (VDD‐DDD‐DDDR) METHOD IN TREATMENT OF BRADYCARDIA IN 

BINHDINH PROVINCE

Phan Nam Hung* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 196 ‐ 202 

Objective:  Study  on  the  clinical  and  paraclinical  characteristics  and  result  of  temporary  and  permanent 

pacemaker placement in treatment of bradycardia. 

Patients: Patients with chronic bradycardia or by unrecoverable causes. 

Method: Clinical intervention study. 

Results: There are 106 patients who receive temporary and permanent pacemakers, the oldest patient is 96 

years old, the youngest one is 19 years old. There is 18 cases with AV blocking stage III and 1 case in stage II‐  Mobitz II that need emerged device placement, including 16 cases of temporary pacemaker placing for waiting the 

* Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định 

Tác giả liên lạc: BSCKII. Phan Nam Hùng ĐT: 0982214219 Email: dr.hphan@gmail.com

Trang 2

permanent device. The main anesthetic method is local anesthesia. For temporary pacemaker placement with the  right subclavian vein input, 1 case use right internal jugular vein; for permanent pacemaker placement we use  left subclavian vein input. 4 vascular disorder case had to use right subclavian vein input. There are 103 cases  need permanent pacemaker placement including 89 case use one chamber method with VVI, 14 case with  two  chamber method with VDD, DDD, and DDDR, the myth and other index meet the permitted criteria. The lowest  rhythm  is  0.5  volt,  highest  is  1volt  as  the  permitted  level.  No  case  of  following  complications:  ventricular  fibrillation, hematoma, pneumothorax or hemothorax, infection, wire breakage. All cases of pacemaker placement  have stable hemodynamic and good rhythm setting. 

Conclusion:  Currently, there is only way to increase the heart rhythm permanently is use the pacemaker 

sending  the  signal  to  stimulate  the  heart.  The  permanent  pacemaker  is  necessary  in  patients  with  chronic  bradycardia or unrecoverable causes. 

Keyword: Temporary pacemaker, permanent pacemaker placement, bradycardia.

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bước  sang  thiên  niên  kỷ  mới,  chúng  ta  vui 

mừng chứng kiến và tiếp thu những thành tựu 

phát  triển  của  khoa  học  kỹ  thuật  nhằm  không 

ngừng nâng cao tuổi thọ và cải thiện chất lượng 

cuộc sống cho con người. 

Tuy vậy, chúng ta cũng không khỏi lo âu bởi 

mô  hình  bệnh  tật  đã  có  những  thay  đổi  theo 

chiều hướng của các nước phát triển. Trong các 

loại bệnh lý đó, rối loạn nhịp chậm là một trong 

những bệnh có xu hướng tăng nhanh một cách 

rõ rệt theo tuổi thọ và theo sự phát triển nền y 

học thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. 

Khi tim đập quá chậm, máu đến các cơ quan 

trong cơ thể không đủ. Sự cung cấp thiếu oxy và 

chất dinh dưỡng có thể dẫn đến suy các cơ quan. 

Cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tình trạng 

thiếu oxy và glucose là não. Những triệu chứng 

gây ra bởi thiếu máu cung cấp cho não bao gồm 

chóng  mặt,  hay  quên,  mất  ý  thức.  Những  triệu 

chứng xảy ra do thiếu máu cung cấp cho cơ bao 

gồm mệt mỏi, khó chịu. Giảm cung cấp máu cho 

những  cơ  quan  khác  có  thể  dẫn  đến  suy  tim, 

thận  và  gan.  Do  chậm  nhịp  tim  có  thể  gây  ra 

nhiều triệu chứng và/hoặc suy cơ quan nên việc 

điều trị trở nên rất cần thiết. Không có  thuốc  ở 

dạng uống có thể dùng đều đặn nhằm tăng nhịp 

tim. Hiện tại, chỉ có một cách duy nhất làm tăng 

nhịp tim kéo dài là dùng máy tạo nhịp để gửi tín 

hiệu điện đến kích thích tim. Máy tạo nhịp vĩnh 

viễn cần thiết ở những bệnh nhân bị chậm nhịp 

tim  mạn  tính  hoặc  do  những  nguyên  nhân  không  thể  phục  hồi  được.  Nguyên  nhân  gây  chậm nhịp tim thường gặp nhất là sự thoái hóa  của  hệ  thống  dẫn  truyền  do  tác  động  của  tuổi  tác.  Do  đó,  người  ta  càng  cần  có  máy  tạo  nhịp  hơn khi lớn tuổi, vừa có thể là do tác động của  tuổi tác  vừa  có  thể  là  do  những  bệnh  nhân  lớn  tuổi thường có nhiều vấn đề về sức khỏe có thể  gây chậm nhịp tim hơn(4,1). 

Máy tạo nhịp cấy vào cơ thể đầu tiên diễn ra  vào tháng 10‐1958 ở Stockholm, Thụy Điển dưới 

sự  chỉ  đạo  của  Bs  Ake  Sening,  tuy  nhiên  máy  hoạt động không lâu dài được vì phải nạp điện 

từ bên ngoài  vào  1959  ở  NewYork  Bs  chardack 

đã thành công đặt máy tạo nhịp chạy bằng pin  (kẽm  và  thủy  ngân)  máy  hoạt  đông  trong  hai  năm.  Đến  năm  1962,  Bs  Nathan  cùng  với  cộng 

sự ở bang Florida Hoa Kỳ cấy máy tạo nhịp theo  dạng VAT đầu tiên (máy nhận cảm ở nhĩ và kích  thích ở thất). 

Vào năm 1973, lần đầu tiên nước ta đặt được  máy  tạo  nhịp  tim.  Những  năm  đầu,  các  ca  đặt  máy tạo nhịp được tiến hành với sự kết hợp nội  khoa  và  ngoại  khoa  và  chuẩn  bị  như  một  cuộc 

mổ  lớn.  Từ  năm  1988,  nhờ  những  tiến  bộ  mới, 

kỹ thuật đặt máy tạo nhịp đã phổ biến tại Viện  tim  mạch  Quốc  gia  Việt  Nam.  Hiện  nay,  mỗi  năm có hàng trăm bệnh nhân được đặt máy tạo  nhịp  tim  và  số  người  được  đặt  máy  trên  toàn  quốc đã lên tới hàng nghìn. 

Ở tỉnh Bình Định chưa áp dụng kỹ thuật đặt  máy tạo nhịp tạm thời và vĩnh viễn, bệnh nhân 

Trang 3

rối  loạn  nhịp  chậm  phải  chuyển  lên  tuyến  trên 

để đặt máy tạo nhịp, do vậy chúng tôi muốn áp 

dụng  kỹ  thuật  này  trong  việc  điều  trị  rối  loạn 

nhịp chậm, nhằm mục tiêu sau: 

Muc tiêu nghiên cứu 

Khảo  sát  các  đặc  điểm  lâm  sàng  ‐  cận  lâm 

sàng ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim chậm. 

Đánh giá kết quả đặt máy tạo nhịp tim tạm 

thời và vĩnh viễn trong điều trị rối loạn nhịp tim 

chậm. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Chúng tôi chọn những bệnh nhân bị rối loạn 

nhịp chậm đến cấp cứu tại khoa tim mạch Bệnh 

viện đa khoa tỉnh Bình Định từ tháng 6/2009 đến 

tháng 3/2013 có chỉ định đặt máy tạo nhịp. 

Tiêu chuẩn lựa chọn 

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân đặt máy tạo 

nhịp tim tạm thời và đặt máy tạo nhịp tim vĩnh 

viễn: Tất cả những bệnh nhân thỏa mãn chỉ định 

đặt máy tạo nhịp tạm thời(1,6,3). Và bệnh nhân đặt 

máy  tạo  nhịp  vĩnh  viễn  theo  chỉ  định  nhóm  1 

(phân  loại  của  ACC/AHA  2002  và  khuyến  cáo 

của Hội Tim mạch quốc gia Việt Nam 2008)(5,7,3)

Tiêu chuẩn loại trừ 

Những  bệnh  nhân  không  phù  hợp  với  tiêu 

chuẩn lựa chọn. 

Bệnh nhân và người nhà không đồng ý đặt 

máy tạo nhịp vĩnh viễn. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Phương  pháp  nghiên  cứu  tiến  cứu  có  can 

thiệp bằng kỹ thuật đặt máy tạo nhịp. 

Tiến hành nghiên cứu 

Giai đoạn chọn bệnh nhân 

Chọn  ra  những  bệnh  nhân  thỏa  mãn  tiêu 

chuẩn lựa chọn ở trên. 

Khám lâm sàng 

Khai  thác  tiền  sử:  các  bệnh  trước  đó  đã  điều  trị  gì,  bệnh  lý  tim  mạch,  dị  ứng  thuốc,  tiền sử ngất. 

Làm  một  số  xét  nghiệm  cơ  bản:  công  thức  máu,  TS‐TC,  điện  giải  đồ,  urê,  creatinin,  ECG, 

XQ tim phổi thẳng, siêu âm tim, Holter điện tim. 

Theo  dõi  bệnh  nhân  sau  đặt  máy  tạo  nhịp  vĩnh viễn 

Theo dõi bệnh nhân bắt buộc tại phòng cấp  cứu khoa nội tim mạch Bệnh viện đa khoa Tỉnh  Bình Định. 

Làm  điện  tâm  đồ,  kiểm  tra  hoặc  theo  dõi  điện tâm đồ liên tục trên Monitoring. 

Đo  huyết  áp,  nhịp  tim  và  theo  dõi  các  biến  chứng  lâm  sàng:  đau  ngực,  sốt,  kiểm  tra  chỗ  chọc  có  chảy  máu  không,  nên  thăm  khám  2  giờ/lần. 

Cho kháng sinh dự phòng. 

Bệnh nhân sau khi ra viện sẽ được kiểm tra  sau 1 tháng, 3 tháng. 

Thu thập dữ liệu 

Dữ liệu lâm sàng 

Các dữ liệu phần hành chánh, tiền sử, bệnh 

sử, lâm sàng, cận lâm sàng được ghi đầy đủ vào  phiếu nghiên cứu. 

Dữ liệu cận lâm sàng 

Tiêu chuẩn đánh giá 

Thành công: Thành công của kỹ thuật là khi  đặt được sheat (máng) vào tĩnh mạch dưới đòn,  luồn  được  dây  điện  cực  vào  thất  (P),  hoặc  tiểu  nhĩ  (P)  hoặc  cả  hai  (tùy  theo  loại  máy)  ở  vị  trí  thích  hợp  phù  hợp  với  các  thông  số  giúp  cho  máy dẫn nhịp tốt. 

Thất bại 

Không  đặt  được  máng  vào  tĩnh  mạch  dưới  đòn. 

Không chọn được vị trí dây điện cực thích  hợp để cài đặt các thông số giúp máy dẫn nhịp  tốt. 

Trang 4

Xử  lý  số  liệu  thống  kê  bằng  phương  pháp 

thống kê y học. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 

Số bệnh nhân được đặt máy tạo nhịp tạm thời 

và  vĩnh  viễn  là  106  bệnh  nhân,  trong  đó  bệnh 

nhân lớn nhất là 96 tuổi, thấp nhất là 19 tuổi. 

Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. 

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng Tạo

nhịp tạm thời

Tạo nhịp vĩnh viễn

Chẩn đoán

ECG Block AV II - Mobizt II Block AV III 18 1 57 3

Siêu âm tim Chức năng tâm thu thất

Chức năng tâm thu thất

Nhận xét: Có 18 trường hợp block AV độ III 

và 1 trường hợp block AV II ‐ Mobitz II có triệu 

chứng  cần  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm  thời  cấp  cứu, 

trong đó có 16 trường hợp tạo nhịp tạm thời bắc 

cầu chờ đợi đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. 

Kỹ thuật đặt máy 

Phương pháp vô cảm và đường vào 

Bảng 2. Phương pháp vô cảm và đường vào. 

Phương pháp vô cảm và đường

vào

Tạo nhịp tạm thời

Tạo nhịp vĩnh viễn

Phương pháp

vô cảm

Mê tĩnh mạch 3 7

Mê nội khí quản 0 0

Đường vào

Tĩnh mạch dưới đòn

Tĩnh mạch dưới đòn

Tĩnh mạch cảnh trong

Nhận  xét:  Phương  pháp  vô  cảm  chủ  yếu  là 

gây tê tại chỗ. Đối với tạo nhịp tạm thời đường 

vào tĩnh mạch dưới đòn (P), 1 ca vào tĩnh mạch 

cảnh trong (P), đối với tạo nhịp vĩnh viễn đường  vào  tĩnh  mạch  dưới  đòn  (T).  4  ca  do  dị  dạng  mạch máu phải vào tĩnh mạch dưới đòn (P). 

Phương thức tạo nhịp, ngưỡng tạo nhịp và các  thông số tạo nhịp vĩnh viễn 

Bảng 3. Phương thức tạo nhịp, ngưỡng tạo nhịp và 

các thông số tạo nhịp vĩnh viễn. 

VDD 2

Các thông số tạo nhịp

Pulse Amplitude 3-3.5 volt

Sensitivity 2,5-3

Nhận  xét:  Có  103  trường  hợp  đặt  máy  tạo 

nhịp  vĩnh  viễn,  trong  đó  có  89  trường  hợp  đặt  máy tạo nhịp 1 buồng với phương thức tạo nhịp  VVI,  2  trường  hợp  đặt  máy  2  buồng  VDD,  12  trường  hợp  tạo  nhịp  2  buồng  với  phương  thức  tạo  nhịp  DDD  và  DDDR,  ngưỡng  tạo  nhịp  và  các  thông  số  tạo  nhịp  vĩnh  viễn  đều  đạt  tiêu  chuẩn cho phép. 

Các thông số dẫn nhịp tim tạm thời 

Bảng 4. Bảng các thông số tạo nhịp tạm thời. 

Các thông

số

độ

Độ nhạy cảm

Trị số 0,5-1,0 volt 60 nhịp/phút 5volt 5 mvolt

Nhận xét: Ngưỡng tạo nhịp khi test dây điện 

cực  thấp  nhất  là  0,5  volt,  cao  nhất  là  1volt  là  ngưỡng cho phép. 

Biến chứng 

Biến chứng sớm 

Nhận xét: Không có trường hợp nào có biến 

chứng: rung thất, ổ máu tụ, tràn khí màng phổi,  tràn máu màng phổi, thủng tim  Tuy nhiên, có 

3 trường hợp trong quá trình đưa dây điện cực  vào  buồng  thất  gây  kích  thích  xuất  hiện  ngoại  tâm thu thất – nhanh thất thoáng qua. 

Biến chứng muộn 

Trang 5

Nhận  xét:  Không  có  trường  nào  có  nhiễm 

trùng, tụt dây điện cực, gãy điện cực. 

Kết quả đặt máy tạo nhịp 

Tất cả 106 trường hợp đều đặt được sheath 

(máng) vào tĩnh mạch dưới đòn, luồn được dây 

điện cực ở vị trí thích hợp phù hợp với các thông 

số giúp cho máy dẫn nhịp tốt. 

Kết quả sau đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn 

Bảng 5. Kết quả sau đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. 

Kiểm tra

Tình trạng

Sau 1 tháng

Sau 2 tháng

Sau 3 tháng

Huyết động và các thông

số tạo nhịp ổn định ổn định ổn định ổn định

Huyết động và các thông

Nhận xét: Tất cả bệnh nhân sau đặt máy tạo 

nhịp  vĩnh  viễn,  đến  tái  khám  kiểm  tra,  huyết 

động và các thông số tạo nhịp ổn định, không có 

trường hợp nào tử vong trong 3 tháng. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 

Qua  106  trường  hợp  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm 

thời  và  vĩnh  viễn  tại  Bệnh  viện  đa  khoa  tỉnh 

Bình Định, chúng tôi có một số nhận xét và bàn 

luận sau: 

Đặc điểm bệnh nhân 

Tuổi:  Những  trường  hợp  bệnh  nhân  được 

đặt máy tạo nhịp đa số là bệnh nhân lớn tuổi, có 

bệnh nhân đến 96 tuổi, điều này cũng hoàn toàn 

phù hợp với sinh lý của nút xoang Æ càng lớn 

tuổi càng dễ tổn thương(9). 

Chỉ định 

Trong  103  bệnh  nhân  đặt  máy  tạo  nhịp 

vĩnh  viễn:  có  57  trường  hợp  Block  A‐V  III,  3 

trường  hợp  A‐V  II‐Mobitz  2/1,  43  trường  hợp 

suy  nút  xoang  có  triệu  chứng  được  chỉ  định 

đặt  máy  là  phù  hợp  nhóm  IA  theo  phân  loại 

của  ACC  ‐  2002  và  khuyến  cáo  của  Hội  tim 

mạch quốc gia Việt Nam. 

Trong  19  bệnh  nhân  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm 

thời:  có  18  trường  hợp  block  A‐V  III,  1  trường 

hợp nhồi máu cơ tim vùng sau dưới gây blốc A‐

V II ‐ Mobitz 2 týp  2/1  phù  hợp  với  tiêu  chuẩn  lựa chọn. Những trường hợp này tạo  nhịp  tạm  thời để điều trị triệu chứng như tên gọi của nó 

để kịp thời cứu bệnh nhân thoát khỏi tình trạng 

vô tâm thu do nhịp chậm. 

Bệnh cảnh lâm sàng 

Có  19  trường  hợp  Block  A‐V  III  có  triệu  chứng  rối  loạn  huyết  động;  trong  đó  có  16  trường hợp có cơn AdamStockes chúng tôi phải  đặt máy tạo nhịp tạm thời cấp cứu, sau đó tiến  hành đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn; những trường  hợp  này  chúng  tôi  phải  dùng  thuốc  nâng  nhịp  tim,  bù  dịch,  điều  chỉnh  rối  loạn  điện  giải,  sau 

đó giải thích người nhà, hội chẩn cấp III ‐ đặt tạo  nhịp vĩnh viễn cho bệnh nhân. 

69 trường hợp đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn có  biểu hiện bất thường trên siêu âm, điều  này  có  thể ảnh hưởng đến vị trí đặt điện cực và ngưỡng  kích thích. 

Có 3 trường hợp block A‐V III rối loạn huyết  động, có cơn Adams ‐ stokes do viêm cơ tim và 1  trường  hợp  block  AV  độ  II  ‐  Mobizt  II  do  nhồi  máu cơ tim thành sau dưới chỉ tạo nhịp tạm thời  không tạo nhịp vĩnh viễn. 

Kỹ thuật đặt máy 

Phương pháp vô cảm 

Trong 103 trường hợp đặt máy tạo nhịp vĩnh  viễn đa số đều hợp tác tốt, chúng tôi đã vô cảm  bằng phương pháp gây tê tại chỗ, 7 trường hợp 

mê tĩnh mạch tuy nhiên vẫn dự phòng gây mê  qua nội khí quản, nếu bệnh nhân không hợp tác,  kích  thích,  vùng  vẩy  nhiều,  để  tránh  nguy  cơ  xuất huyết gây tụ máu trong túi máy. 

Đường vào 

Trong 103 rường hợp đặt máy tạo nhịp vĩnh  viễn, 99 trường hợp chọn đường tĩnh mạch dưới  đòn  (T),  4  trường  hợp  chọn  đường  tĩnh  mạch  dưới  đòn  (P)  chọc  dò,  do  bất  thường  đường  đi  tĩnh mạch dưới đòn (T), luồn wire và sheath vào  tim  bằng  phương  pháp  Shedinger,  sau  đó  đưa  dây điện cực vào thất (P). Tất cả các trường hợp 

Trang 6

đều  thành  công  và  thủ  thuật  không  gây  khó 

khăn khi thực hiện. 

Trong 19 trường hợp đặt máy tạo nhịp tạm 

thời,  có  18  trường  hợp  chúng  tôi  đều  chọn 

đường  tĩnh  mạch  dưới  đòn  (P),  chọc  dò  luồn 

wire  và  sheath  vào  tim  bằng  phương  pháp 

Seldinger, sau đó đưa dây điện cực vào thất (P). 

1 trường hợp chọn đường tĩnh mạch cảnh trong 

(P). Tất cả các trường hợp đều thành công và thủ 

thuật không gây khó khăn khi thực hiện. 

Hướng dẫn của màn hình tăng sáng 

Trong đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn, vị trí đầu 

dây điện cực rất quan trọng, do đó bắt buộc phải 

thực hiện thủ thuật dưới sự hướng dẫn của màn 

hình tăng sáng, trong tương lai nếu có được máy 

siêu  âm  IE  33  với  công  nghệ  Pure  wave,  hình 

ảnh  rất  rõ  và  sắc  nét,  chúng  tôi  sẽ  sử  dụng  để 

hướng dẫn đường đi dây điện cực tạm thời khi 

vào buồng tim, điều này sẽ giúp cho nhân viên y 

tế và bệnh nhân bớt ảnh hưởng tia. 

Kiểu đặt máy 

Trong 103 trường hợp đặt máy tạo nhịp vĩnh 

viễn, có 89 trường hợp đặt theo kiểu VVI (nhận 

cảm và khởi kích ở thất); 2 trường hợp sử dụng 

máy 2 buồng nhưng lập trình máy VDD, với lập 

trình này phù hợp với sinh lý của bệnh nhân do 

có tính đồng bộ nhĩ thất, 12 trường hợp đặt máy 

2 buồng lập trình máy DDD, DDDR. 

Các thông số đặt máy 

Các  thông  số  về  ngưỡng  kích  thích  (0,5  ± 

0,1), trở kháng (Impidan) (820 ‐ 1350) đều trong 

giới  hạn  tốt,  kết  quả  này  tương  tự  với  các  kết 

quả khác Đỗ Nguyên Tín, Lê Thanh Liêm(2). 

Biến chứng sau đặt máy 

Sút dây điện cực 

Dây điện cực thường bị sút nếu cố định bên 

ngoài không tốt, hoặc vận động tim nghiên cứu 

của Đỗ nguyên Tín có 2 trường hợp sút dây điện 

cực.  Nghiên  cứu  chúng  tôi  103  trường  hợp 

không bị sút dây điện cực. Tỷ lệ sút dây điện cực 

sau khi dặt máy cũng khác nhau ở nhiều tác giả 

và  tùy  thuộc  vào  kinh  nghiệm  của  người  đặt 

máy. Tỷ lệ này thường < 3% trong đặt máy tạo  nhịp vĩnh viễn(2). 

Rối loạn nhịp 

Các biến chứng rối loạn nhịp trong lúc đặt  máy thường xảy ra dưới 2 dạng rất nguy hiểm 

là nhịp nhanh thất và vô tâm thu. Các rối loạn  nhịp  này  có  thể  do  bệnh  hoặc  do  dùng  thuốc  vận mạch hoặc do đầu dây điện cực kích thích  khi đưa vào thất (P). Trong 103 ca đặt máy tạo  nhịp vĩnh viễn của chúng tôi có 3 trường hợp  ngoại tâm thu thất ‐ nhanh thất thoáng qua khi  luồn  điện  cực  vào  thất  (P)  để  tìm  vị  trí  thích  hợp,  nhưng  tự  khỏi  không  xử  trí  gì.  So  với  nghiên cứu 12 lần đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn  của Đỗ Nguyên Tín(2) có 4 trường hợp lên cơn  nhịp nhanh thất sau đó  tự  khỏi,  có  thể  đây  là  nghiên cứu ở trẻ em (thần kinh tự động cơ tim  nhạy cảm hơn). 

Các biến chứng khác 

Như nhiễm trùng, tràn khí màng phổi, tràn  máu màng phổi, kích thích cơ hoành… chúng  tôi không gặp, có lẽ số trường hợp bệnh nhân  chúng  tôi  nghiên  cứu  còn  ít  cần  phải  nghiên  cứu tiếp. 

Kết quả đặt máy 

Trong  tất  cả  các  trường  hợp  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm  thời  và  vĩnh  viễn  đều  có  huyết  động  học ổn định, ngay khi đặt máy Æ máy dẫn nhịp  tốt. 

KẾT LUẬN  Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 

Có  106  trường  hợp  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm  thời và vĩnh viễn trong đó bệnh nhân lớn nhất là 

96  tuổi,  thấp  nhất  là  19  tuổi.  Có  18  trường  hợp  block  AV  độ  III  và  1  trường  hợp  block  AV  II  ‐  Mobitz  II  có  triệu  chứng  cần  đặt  máy  tạo  nhịp  tạm thời cấp cứu, trong đó có 16 trường hợp tạo  nhịp tạm thời bắc cầu chờ đợi đặt máy tạo nhịp  vĩnh viễn. 

Kỹ thuật đặt máy 

Phương  pháp  vô  cảm  chủ  yếu  là  gây  tê  tại  chỗ.  Đối  với  tạo  nhịp  tạm  thời  đường  vào  tĩnh 

Trang 7

mạch  dưới  đòn  (P),  1  ca  vào  tĩnh  mạch  cảnh 

trong (P), đối với tạo nhịp vĩnh viễn đường vào 

tĩnh  mạch  dưới  đòn  (T).  4  ca  do  dị  dạng  mạch 

máu phải vào tĩnh mạch dưới đòn (P). 

Có  103  trường  hợp  đặt  máy  tạo  nhịp  vĩnh 

viễn,  trong  đó  có  89  trường  hợp  đặt  máy  tạo 

nhịp 1 buồng với phương thức tạo nhịp VVI và 

2 trường hợp 2 buồng với phương thức tạo nhịp 

VDD,  12  trường  hợp  tạo  nhịp  2  buồng  với 

phương thức tạo nhịp DDD, DDDR, ngưỡng tạo 

nhịp và các thông số tạo nhịp vĩnh viễn đều đạt 

tiêu chuẩn cho phép. 

Ngưỡng tạo nhịp tạm thời khi test dây điện 

cực  thấp  nhất  là  0,5  volt,  cao  nhất  là  1volt  là 

ngưỡng cho phép. 

Biến chứng 

Không  có  trường  hợp  nào  có  biến  chứng: 

rung  thất,  ổ  máu  tụ,  tràn  khí  màng  phổi,  tràn 

máu  màng  phổi,  thủng  tim,  nhiễm  trùng,  tụt 

dây điện cực, gãy điện cực. 

Kết quả đặt máy 

Trong  tất  cả  các  trường  hợp  đặt  máy  tạo 

nhịp  tạm  thời  và  vĩnh  viễn  đều  có  huyết  động 

học ổn định, ngay khi đặt máy Æ máy dẫn nhịp 

tốt. Tất cả những bệnh nhân hẹn tái khám sau 1 

tháng,  2  tháng  và  sau  3  tháng,  cải  thiện  được 

chất  lượng  cuộc  sống,  máy  tạo  nhịp  hoạt  động 

tốt. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Chang CC; Wu MH; Lin JL; Chen YS; Wang JK; Lue HC (2001) 

“Transvenous  permanent  pacemaker  implantation  in  children  and 

2 Đỗ Nguyên Tín, Vũ Minh Phúc, Hoàng Trọng Kim (2004) “Đặt  máy tạo nhịp ở trẻ em”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài nghiên cứu  khoa học Đại hội tim mạch học quốc gia Việt Nam lần thứ X, tr  327‐334. 

3 Gregoratos et al., (2002) “Guideline Update for Implantation of 

AntiarrhythmiaDevices”,ACC/AHA/NASPE,http://www.acc.o rg/clinical/guidelines/pacemaker/index.htm; 

4 Hoàng Văn Quý, Nguyễn Cửu Lợi, Bùi Đức Phú, Huỳnh Văn  Minh (2009) ʺNhận xét qua 350 trường hợp tạo nhịp vĩnh viễn  tại  Bệnh  viện  Trung  ương  Huếʺ,  Kỷ  yếu  toàn  văn  các  đề  tài  khoa học Hội nghị tim mạch miền trung mở rộng lần thứ V, tr  775‐782. 

5 Huỳnh Văn Minh, Nguyễn Cửu Lợi, Lê Phúc Nguyên (2004) 

“Tình  hình  đặt  máy  tạo  nhịp  vĩnh  viễn  tại  Bệnh  viện  Trung  ương Huế”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài nghiên cứu khoa học  Đại hội tim mạch học quốc gia Việt Nam lần thứ X, tr 307‐313. 

6 Lê Phúc Nguyên, Huỳnh Văn Minh, Nguyễn Cửu Lợi (2004) 

“Vai trò của tạo nhịp tạm thời trong tạo nhịp vĩnh viễn”, Kỷ  yếu toàn văn các đề tài nghiên cứu khoa học Đại hội tim mạch  học quốc gia Việt Nam lần thứ X, tr 315‐318. 

7 Nguyễn Mạnh Phan, Tôn Thất Minh, Tạ Tiến Phước, Nguyễn  Hữu Văn, Đỗ Văn Bửu Đan (2008) “Khuyến cáo 2008 của Hội  Tim  mạch  học  Việt  Nam  về  chỉ  định  đặt  máy  tạo  nhịp”,  Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý  tim  mạch  và  chuyển  hóa,  tr  218‐229. 

8 Nguyễn Sỹ Hiền, Trần Thống (2003) ʺMáy tạo nhịp timʺ, Bệnh  học tim mạch tập I ‐ Nhà xuất bản y học Chi nhánh Thành phố 

Hồ Chí Minh, tr 255‐272. 

9 Olgin  JE,  Zipes  DP.  (2007)  “Specific  Arrhythmias:  Diagnosis  and  Treatment”,  Braunwaldʹs  Heart  Disease:  A  Textbook  of  Cardiovascular Medicine, chap. 35. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:    19‐7‐2013 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm