1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực điều trị đau do bệnh tụy

7 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 582,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm nghiên cứu thực hiện phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực (thoracoscopic splanchnicectomy) để đánh giá hiệu quả và độ antoàn của phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực trong điều trị đau do bệnh lý tụy.

Trang 1

PHẪU THUẬT CẮT THẦN KINH TẠNG QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC

ĐIỀU TRỊ ĐAU DO BỆNH TỤY

Bùi An Thọ*, Đoàn Tiến Mỹ*, Nguyễn Tấn Cường**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Trong nhiều trường hợp bệnh lý tụy như ung thư tụy giai đoạn cuối, viêm tụy mạn, bệnh

nhân khổ sở, suy nhược vì triệu chứng đau bụng Có rất nhiều phương pháp giúp kiểm soát tình trạng đau này,

từ việc dùng thuốc giảm đau đơn thuần cho đến các phương pháp xâm nhập như phong bế đám rối tạng và các phương pháp phẫu thuật Một phương pháp mới trong hơn một thập niên gần đây trên thế giới, để cắt cơn đau tụy là phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực (thoracoscopic splanchnicectomy), bước đầu đã cho thấy có hiệu quả giảm đau tốt, ít biến chứng Chúng tôi thực hiện phẫu thuật này để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực trong điều trị đau do bệnh lý tụy

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tất cả những bệnh nhân được mổ

trong thời gian 5/2004 – 2/2011 Đánh giá mức độ đau chủ quan của bệnh nhân được dựa trên thang điểm đau

quan sát (VAS: Visual Analogue Scale) Ghi nhận các tai biến và tử vong liên quan đến phẫu thuật, thời gian mổ,

và thời gian nằm viện Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 17.0 for Windows

Kết quả: Từ tháng 5-2004 đến tháng 2-2011, 50 bệnh nhân với 36 ung thư tụy và 14 viêm tụy mạn đau

bụng nhiều do ung thư tụy không cắt được hoặc do viêm tụy mạn 48 trường hợp cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực 2 bên, 2 trường hợp cắt 1 bên, tất cả đều thành công, không có tử vong trong mổ liên quan đến phẫu thuật Thời gian mổ trung bình là 117,58 ± 40,35 phút (từ 70 -270 phút) Mức độ đau trung bình của bệnh nhân trước mổ là 7,98 ± 1,48 (từ 6-10), sau mổ tình trạng đau giảm với p < 0,005 Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 5,06 ± 2,94 ngày (1-13 ngày)

Kết luận: Phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua soi lồng ngực an toàn và có hiệu quả giảm đau rõ rệt trên các

bệnh nhân ung thư tụy giai đoạn cuối và viêm tụy mạn Phẫu thuật này giúp bệnh nhân ngưng được thuốc giảm đau, tránh được các tác dụng phụ của thuốc, cho phép bệnh nhân sinh hoạt tương đối bình thường vào những ngày cuối đời Hiệu quả giảm đau này là quan trọng vì tiên lượng sống của bệnh nhân ung thư tụy giai đoạn cuối rất ngắn Hiệu quả giảm đau rõ rệt và bền vững đối với các bệnh nhân viêm tụy mạn tính

Từ khóa: Cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực, bệnh tụy

ABSTRACT

BILATERAL THORACOSCOPIC SPLANCHNICECTOMY FOR CONTROL OF INTRACTABLE PAIN

DUE TO ADVANCED PANCREATIC CANCER AND CHRONIC PANCREATITIS

Bui An Tho, Nguyen Tan Cuong, Doan Tien My

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 40 - 46

Background: Intractable pain is the most distressing symptom in patients suffering from unresectable

pancreatic cancer and chronic pancreatitis Bilateral thoracoscopic splanchnicectomy (BTS) is a new method in the past decade for pancreatic pain control The purpose of this study was to evaluate the effects and safety of BTS

 BS, Khoa Ngoại Gan Mật Tụy, Bệnh viện Chợ Rẫy

 Bộ môn Ngoại, Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Bùi An Thọ ĐT: 0913634862 E-mail: bstho402@yahoo.com

Trang 2

for control of intractable pancreatic pain We would like to present this new method that has been implemented in our department of Hepato-biliary & Pancreatic Surgery at Cho Ray hospital, Vietnam

Methods: Between May 2004 and February 2011, 50 patients, consitst of 36 pancreatic cancers (23 men, 13

women) and 14 chronic pancreatitis (14 men) suffering from intractable pain due to unresectable carcinoma of the pancreas or chronic pancreatitis underwent 48 BTS and 2 left thoracoscopic splanchnicectomy Subjective evaluation of pain was measured before and after the procedure by a visual analogue score (VAS) The following parameters were also evaluated: procedure-related morbidity and mortality, operative time, and length of hospital stay

Results: The mean operative time was 117.58 ± 40.35 mins (range 70 - 270 mins) The mean value of

preoperative pain intensity reported by patients on VAS was 7.98 ± 1.48 (range 6–10) Postoperatively, pain was totally relieved in all patient, statistically significant at the level of p < 0.005 There was no procedural mortality The mean of postoperative hospital stay was 5.06 ± 2.94 days (range, 1–13)

Conclusions: Bilateral thoracoscopic splanchnicectomy is safe and significant effective in pain control of

advanced pancreatic cancer and chronic pancreatitis patients This surgery helps patients less depended on analgesic, avoiding the side effects of drugs, allowing patients living relatively normal in these last days The effective in pain relief is important because the prognosis of patients living with advanced pancreatic cancer is very short The effective of pain relief is significant and sustained for patients with chronic pancreatitis

Key words: Thoracoscopic splanchnicectomy, pancreatitis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều trường hợp bệnh lý tụy như

ung thư tụy giai đoạn cuối, viêm tụy mạn, bệnh

nhân khổ sở, suy nhược vì triệu chứng đau

bụng Có rất nhiều phương pháp giúp kiểm soát

tình trạng đau này, từ việc dùng men tụy(9,4),

thuốc giảm đau đơn thuần hay các loại có tính

gây nghiện, cho đến các phương pháp xâm

nhập như phong bế đám rối tạng và các phương

pháp phẫu thuật như cắt hạch thân tạng, mở

ngực cắt thần kinh tạng v.v… Một phương

pháp mới trong hơn một thập niên gần đây trên

thế giới, để cắt cơn đau tụy là phẫu thuật cắt

thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực

(thoracoscopic splanchnicectomy), bước đầu đã

cho thấy có hiệu quả giảm đau tốt, ít biến

chứng, giúp bệnh nhân bớt lệ thuộc thuốc giảm

đau, cải thiện chất lượng sống và sớm đưa

người bệnh trở lại với đời sống sinh hoạt bình

thường

Chúng tôi thực hiện phẫu thuật này để đánh

giá hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật cắt

thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực trong điều

trị đau do bệnh lý tụy

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, với tiêu chuẩn chọn là tất cả những bệnh nhân được mổ trong thời gian 5/2004 – 2/2011 với chẩn đoán ung thư tụy quá chỉ định mổ triệt để hay viêm tụy mạn,

có triệu chứng đau bụng nhiều và đồng ý phẫu thuật

Đánh giá mức độ đau chủ quan của bệnh nhân được dựa trên thang điểm đau hiển thị (VAS: Visual Analogue Scale)

Ghi nhận các tai biến và tử vong liên quan đến phẫu thuật, thời gian mổ, và thời gian nằm viện

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 17.0 for Windows, kiểm định ý nghĩa thống kê bằng phép kiểm Wilcoxon

Phương pháp mổ

Tất cả đều được thực hiện trong tư thế nằm nghiêng từng bên dưới gây mê toàn thân

Ống nội khí quản nòng đôi (Carlene), thông khí từng bên phổi

1 Trocar 10 mm được đặt giữa khoảng liên

Trang 3

Hình 1 Tư thế bệnh nhân và vị trí đặt trocar

Hình 2 Phẫu tích dọc thần kinh tạng lớn bên trái và

bên phải, thần kinh được cắt ở thân và rễ với kéo đốt

điện

2 Trocar 5 mm được đặt giữa khoảng liên

sườn IV – VIII đường nách sau

Thần kinh tạng lớn và tạng bé được xác định

qua màng phổi thành

Phẩu tích được thực hiện dọc theo thần kinh

tạng bôc lộ thân (T5 –T9) và các rễ của nó Khi

thực hiện cần cẩn thận để tránh tổn thương bất

kỳ mạch máu nào kể cả tĩnh mạch bán đơn bên

trái và các mạch máu liên sườn Rễ và thân thần

kinh được cắt bằng móc đốt điện

Phẫu tích tiếp tục đến đoạn xa và thần kinh

tạng bé (T10-T11) được bộc lộ và cắt

Cuối cùng đặt 1 catheter đuổi khí khoang

màng phổi Chụp X quang phổi kiểm tra, nếu

phổi nở tốt thì khâu lại vết thương không dẫn

lưu màng phổi

Nếu có tràn khí màng phổi thì đặt dẫn lưu màng phổi, ống dẫn lưu được rút sau mổ 24 giờ, sau khi đã chụp X quang kiểm tra

Sau đó bệnh nhân được đặt nằm nghiêng về bên đối diện để cắt thần kinh tạng theo kỹ thuật tương tự

KẾT QUẢ

Từ tháng 5/2004 đến tháng 2/2011 chúng tôi

đã mổ 50 bệnh nhân với các số liệu sau:

50 bệnh nhân được phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực, 36 ung thư tụy: nam 63,89% (23/36), nữ 36,11% (13/36) và 14 viêm tụy mạn toàn là nam 100% (14/14)

Thời gian mổ trung bình 117,58 ± 40,35 phút (từ 70 -270 phút) 48 (96%) trường hợp cắt thần kinh tạng 2 bên, 2 (4%) trường hợp chỉ cắt bên trái do dày dính màng phổi nhiều bên phải Tất

cả thực hiện hoàn toàn qua soi lồng ngực và không có tử vong do phẫu thuật gây ra

Bảng 1 Các đặc điểm giữa 2 nhóm ung thư tụy và

viêm tụy mạn

trung bình

thấp

trung bình

thấp nhất

cao nhất

Tuổi (năm) 59,72 33,00 80,00 43,28 30,00 54,00 Thời

gian đau trước

mổ (ngày)

65,94 6,00 365,00 223,78 30,00 1095,00

CEA (ng/ml) 24,33 0,00 240,00 2,21 0,00 8,3

CA 19.9 (UI/ml) 3002,69 0,00

24.880,0

0 66,00 0,00 248,00

Tử vong sau mổ (ngày)

71,36 22,00 145,00 1030,75 240,00 2250,00

Bảng 2 Số nhánh thần kinh tạng cắt được

Số nhánh thần kinh tạng phải (n=48)

Số nhánh thần kinh tạng trái (n=50)

Trung bình Thấp nhất Cao nhất

4,83

2

7

4,48

1

7

Bên phải Chuỗi thần kinh giao cảm ngực

Bên trái

Trang 4

Tất cả các nhánh được gởi làm giải phẫu

bệnh đều có kết quả là mô sợi thần kinh

Bảng 3 Các biến chứng

Chảy máu

Do đặt trocar 1 2,00

Do phẫu tích 1 2,00 Không chảy máu 48 96,00

Tổng cộng 50 100,0 Tổn

thương

tạng

Thủng phổi 2 4,00 Thủng cơ hoành + lách 1 2,00

Không tổn thương 47 94,00

Tổng cộng 50 100,0 Đau chỗ

đặt trocar

Có đau 40 80,00 Không đau 10 20,00 Tổng cộng 50 100,0 Chúng tôi không gặp các biến chứng: hạ

huyết áp trong lúc mổ, khó thở hay nhiễm

khuẩn vết mổ sau mổ

8% (4/50) trường hợp được dẫn lưu dịch

màng phổi (2 trường hợp thủng phổi, 1 thủng

hoành và lách, 1 trường hợp chảy máu từ chỗ

trocar), cả 4 trường hợp đều diễn biến tốt không

ra máu hay dịch sau mổ 14% (7/50) trường hợp

dẫn lưu khí màng phổi một bên bằng ống nhỏ

14F Sau khi rút ống dẫn lưu màng phổi tất cả

đều diễn biến tốt

4% (2/50) trường hợp chảy máu, 1 trường

hợp thấy máu ra qua ống đuổi khí, lưu dẫn lưu

màng, sau mổ không thấy ra máu thêm, 1

trường hợp chảy máu từ lỗ trocar, cầm máu qua

nội soi thất bại, phải mở rộng vết mổ khâu cầm

máu

Thời gian đau chỗ đặt trocar trung bình

1,9±1,79 ngày, khoảng biến thiên từ 0 - 7 ngày

Chúng tôi dùng phép kiểm phi tham số

Wilcoxon so sánh mức độ đau trước và sau mổ

của bệnh nhân, dựa trên thang điểm VAS trước

và sau mổ theo thời gian qua bảng 4 và 5

Bảng 4 Mô tả mức độ đau VAS trước và sau mổ

theo thời gian của nhóm ung thư tụy

VAS

trước

mổ

VAS sau

mổ 1 ngày

VAS sau

mổ 1 tuần

VAS sau

mổ 1 tháng

VAS sau

mổ 3 tháng

VAS sau

mổ 6 tháng

Không ghi

Trung bình 7,944

4 1,8333 0,8611 1,2813 2,000 Tối thiểu 6,00 0,00 0,00 0,00 0,00 Tối đa 10,0 6,00 3,00 9,00 9,00

Giá trị p 0,000 0,000 0,000 0,002

Phép kiểm Wilcoxon cho ta thấy sau mổ 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng, p < 0,05, chứng

tỏ sự giảm đau có ý nghĩa thống kê Trong lô nghiên cứu này chưa có bệnh nhân ung thư tụy nào sống sau mổ trên 6 tháng nên không kiểm định được

Trong nhóm ung thư tụy: 36 bệnh nhân 94,44% (34/36) trường hợp chỉ còn đau ít hoặc không đau, VAS = 0- 3 36,11% (13/36) hết đau, VAS = 0 58,33% (21/36) đau ít sau mổ, VAS

= 1- 3 5,56% (2/36) đau lại nhiều gần như trước

mổ, nhưng tính chất đau thay đổi, bệnh nhân đau khắp bụng hơn là đau khu trú ở thượng vị

Bảng 5 Mô tả mức độ đau VAS trước và sau mổ

theo thời gian của nhóm viêm tụy mạn

VAS trướ

c

mổ

VAS sau

mổ

1 ngà

y

VAS sau

mổ

1 tuần

VAS sau

mổ

1 thán

g

VAS sau

mổ

3 thán

g

VAS sau

mổ

6 thán

g

VAS sau

mổ

9 thán

g

VAS sau

mổ

1 năm

VAS sau

mổ

1 ½ năm

VAS sau

mổ

2 năm

N Ghi nhận 14 14 14 14 14 13 10 8 8 7 Khôn

g ghi nhận

0 0 0 0 0 1 4 6 6 7 Trung

bình

8,07

1

1,64

2

0,85

7

1,07

1

1,00

0

1,00

0

0,80

0

0,25

0

0,25

0

0,14

3 Tối thiểu 6,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 Tối đa 10,0 6,00 4,00 7,00 8,00 8,00 3,00 1,00 1,00 1,00

Giá trị p 0,00

1

0,00

1

0,00

1

0,00

1

0,00

2

0,00

5

0,01

1

0,01

1

0,01

8

Trong nhóm bệnh nhân viêm tụy mạn: 14 bệnh nhân: 71,43% (1 tử vong + 9 hiện sống/14) hết đau sau mổ, VAS = 0 28,57% (1 tử vong + 3 hiện sống/14) đau ít sau mổ, VAS = 1- 3

1 bệnh nhân viêm tụy mạn không đau sau

mổ hơn 2 năm 1 bệnh nhân bị thủng loét tá tràng vào ngày thứ 4 hậu phẫu phải mổ bụng để khâu thủng Bệnh nhân này bị viêm tụy mạn

Trang 5

kinh tạng nhưng không hiệu quả, bệnh nhân

uống thuốc giảm đau thường xuyên loại

NSAID Sau mổ bệnh nhân không đau bụng cho

đến khi tử vong (sau mổ 240 ngày)

Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là

5,06 ± 2,94 ngày (1-13 ngày)

Không có tử vong do phẫu thuật trong lô

nghiên cứu này

BÀN LUẬN

Trong 6 năm từ tháng 5/2004 – 2/2011 chúng

tôi thực hiện 48 trường hợp cắt thần kinh tạng

qua nội soi lồng ngực 2 bên và 2 trường hợp cắt

thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực 1 bên Số

lượng của chúng tôi tương đương với các tác giả

trên thế giới

Năm thực

1993-1998 Ihse(6) 21 viêm tụy mạn +23 ung

thư tụy 1999-2002 Hammond(5) 20 ung thư tụy

1995-1997 Buscher(4) 26 viêm tụy mạn

2005 Basinski(2) 18 viêm tụy mạn

1993 Maher(9) 15 viêm tụy mạn

1995-1999 Buscher(3) 44 viêm tụy mạn

1997-1999 Leksowski(7) 26 ung thư tụy

1992-1997 Barthes(1) 20 ung thư tụy

1997-1999 Pietrabissa(11) 24 ung thư tụy

1997-1999 Leksowski(8) 20 viêm tụy mạn

1998 Noppen(10) 8 viêm tụy mạn

2004-2006 Chúng tôi 36 ung thư tụy+ 14 viêm tụy

mạn Thời gian mổ trung bình của chúng tôi

117,58 phút, khoảng biến thiên 70 – 270 phút, là

do chúng tôi tính từ lúc rạch da đến khi kết thúc

cuộc mổ, sau khi đã cắt thần kinh tạng 2 bên,

không trừ đi thời gian chờ gây mê giúp phổi

xẹp và thay đổi tư thế bệnh nhân Do đó nhìn

chung thời gian mổ của chúng tôi dài hơn các

tác giả khác Trường hợp 270 phút là do có biến

chứng chảy máu do đặt trocar làm rách tĩnh

mạch liên sườn, không kiểm soát được qua nội

soi phải mở rộng vết mổ khâu cầm máu Về sau

khi đã có kinh nghiệm sau khi đặt trocar nếu

phổi chưa xẹp tốt thì chúng tôi bơm khí CO2 với

áp lực thấp, giúp phổi xẹp nhanh hơn, mà

không ảnh hưởng đến thông khí của bệnh nhân

2 trường hợp chỉ cắt thần kinh tạng 1 bên trái do có tiền căn lao phổi cũ, trên X quang phổi có hình ảnh dày dính màng phổi 2 bên, chúng tôi cố gắng cắt dây dính và cắt được thần kinh bên trái, nhưng bên phải dính nhiều không thể mổ được, có 1 trường hợp bị thủng phổi khi đặt trocar bên phải vì màng phổi bị dính chặt, phải mở ngực để khâu lại nhu mô phổi Trong 2 trường hợp này chúng tôi cố gắng cắt thân thần kinh tạng lớn, sau mổ cả 2 đều giảm đau tốt, VAS = 1 sau mổ 1 tháng so với 8 trước mổ

Từ 1990, Stones đã thực hiện cắt thần kinh tạng qua ngả mở ngực Tuy nhiên phẫu thuật này không được chấp nhận rộng rãi vì sự nặng

nề của nó 1993 Melki và Worsey mô tả kỹ thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực Từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực để cắt thần kinh tạng Đến nay chưa có hội nghị chuyên đề nào khuyến cáo nên cắt thần kinh tạng bên trái, bên phải hay cả hai bên Đa số tác giả chọn bên phẫu thuật dựa vào vị trí đau bụng của bệnh nhân Đối với cơn đau vùng giữa bụng hoặc bên trái,

họ cắt thần kinh tạng bên trái; đối với đau nỗi trội ở bụng phải thì họ cắt thần kinh tạng bên phải Chưa có sự đồng thuận về việc nên cắt thần kinh tạng một bên phải, trái hoặc hai bên khi đau phân bố đều cả vùng thượng vị và hai bên, nhiều tác giả áp dụng cắt thần kinh tạng bên trái trước, vì theo thực nghiệm của Mallet Guy chỉ khi kích thích thần kinh tạng trái thì viêm tụy xảy ra, còn kích thích thần kinh tạng phải thì không gây tác dụng đó Tuy nhiên, nhiều tác giả nhận thấy tất cả bệnh nhân đau cả hai bên mà chỉ cắt thần kinh tạng bên trái thì sau

3 tháng đều bị đau tái phát phải mổ lại để cắt dây thần kinh tạng phía đối diện Do đó, ngày càng nhiều tác giả tán đồng nên mổ cắt thần kinh tạng hai bên để tránh phải mổ lại về sau(6,8) Chúng tôi áp dụng phương pháp cắt thần kinh tạng 2 bên để tránh việc mổ lại bên kia do đau phát, hơn nữa bệnh nhân chúng tôi đa số eo hẹp

về kinh tế và ở xa nên rất khó khăn nếu phải nhập viện mổ lại

Trang 6

Về giải phẫu thần kinh tạng, có 1 trường

hợp chúng tôi thấy chỉ có 1 nhánh xuất phát từ

chuỗi hạch giao cảm khoang liên sườn 5 trái,

chạy dọc xuống dưới mà không thấy có nhánh

nối bên nào khác Trường hợp này chúng cắt cả

thân, sau mổ bệnh nhân hết đau thượng vị, VAS

= 0

Số nhánh thần kinh tạng trong lô nghiên cứu

của chúng tôi hơi nhỉnh hơn so với tác giả Ihse(6)

theo bảng sau

Số nhánh thần kinh tạng

Chúng tôi theo dõi sau mổ đến 2/2011:

94,44% (34/36) bệnh nhân ung thư tụy tử vong

trước tháng thứ 5 Do đó chúng tôi chỉ đánh giá

được hiệu quả giảm đau sau mổ của nhóm ung

thư tụy tới tháng thứ 3 sau mổ, với kết quả ở

bảng 4 thì sau mổ đến tháng thứ 3 mức độ đau

giảm rất đáng kể, mức độ đau VAS trung bình

tháng thứ 3 sau mổ là 2,00 so với trước mổ là

7,91, với p = 0,002 < 0,05 Ở những bệnh nhân có

đau thì đặc tính của đau cũng thay đổi nhất là vị

trí đau Điều này Ihse(6) cũng nhận thấy như

chúng tôi

Các bệnh nhân ung thư tụy giai đoạn cuối:

30 bệnh nhân được giảm đau gần như hoàn toàn

đến lúc tử vong, 6 bệnh nhân đau lại khi gần tử

vong (1 trường hợp VAS = 3, tử vong sau mổ 22

ngày, chẩn đoán K tụy di căn phúc mạc, xơ gan,

báng bụng, không đau thượng vị như trước mổ

mà đau bụng dưới rốn; 3 trường hợp VAS= 3, tử

vong sau mổ từ 1-3 tháng;1 trường hợp VAS = 9,

tử vong sau mổ 89 ngày, chẩn đoán K tụy di căn

hạch sau mổ K dạ dày 7 năm, đau khắp bụng,

trong tình trạng gầy suy kiệt; 1 trường hợp sau

mổ 2 tuần đau lại VAS=7, nhưng đau lưng chủ

yếu khác trước mổ đau thượng vị, kết quả giải

phẫu bệnh có carcinoma tuyến xâm nhập mô sợi

thần kinh) và tính chất đau khác so với trước

mổ Các trường hợp đau lại đều có tính chất đau

khác trước mổ, như vị trí đau thay đổi, thường

đau khắp bụng, đau ở những chỗ có u cục nổi

cường độ đau thì đa số không còn đau như trước mổ

Trong nhóm bệnh nhân mổ cắt thần kinh tạng vì đau nhiều do viêm tụy mạn, có 2 trường hợp đã tử vong trong bệnh cảnh tiểu đường không kiểm soát được, suy kiệt, nhiễm khuẩn cơ hội, vào ngày thứ 240 và 328 sau mổ cả 2 đều không đau như trước mổ lúc gần tử vong, VAS= 0 và 3 8 trường hợp sau mổ hết đau gồm: trường hợp mổ đầu tiên, không đau sau mổ hơn

6 năm dù bệnh nhân đã uống bia lại (7-8 lon bia mỗi lần, 2-3 lần trong tuần từ tháng thứ 4 sau mổ), đây cũng là bệnh nhân hiện còn sống lao động bình thường; 5 trường hợp sau mổ hơn 4 năm hết đau, VAS = 0; 1 trường hợp hết đau sau

mổ, VAS = 0 nhưng mất liên lạc sau 6 tháng; 1 trường hợp hết đau sau mổ, VAS = 0 mới mổ được 8 tháng 4 trường hợp sau mổ đau ít VAS = 1-3, 3 trường hợp VAS = 1 sau mổ 3 năm

và 1 trường hợp mới mổ dưới 1 tuần, 1 trường hợp VAS = 3 sau mổ 1 năm Tất cả đều thỏa mãn với tình trạng bớt đau, VAS = 0-3 Tuy số bệnh nhân viêm tụy mạn còn ít, nhưng chúng tôi cũng thấy có hiệu quả giảm đau đáng kể và bền vững

Trong lô nghiên cứu này 6% (3/50) có biến chứng tổn thương tạng như thủng phổi, thủng hoành + lách (trường hợp này được nội soi ổ bụng thấy cầm máu nên không cắt lách) Tất cả các trường hợp này sau khi xử lý biến chứng diễn tiến hậu phẫu tương đối bình thường đến

ổn và xuất viện Không có trường hợp nào tử vong liên quan đến phẫu thuật

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy phẫu thuật cắt thần kinh tạng qua nội soi lồng ngực hai bên có hiệu quả trong điều trị đau do bệnh lý tụy Với kết quả bước đầu hiệu quả giảm đau rất tốt trên bệnh nhân ung thư tụy không có chỉ định mổ triệt để Hiệu quả giãm đau sau mổ rõ rệt và bền vững trên các bệnh nhân viêm tụy mạn Phẫu thuật an toàn, thời gian nằm viện ngắn Do đó phẫu thuật này cần

Trang 7

thất bại với các phương pháp điều trị bảo tồn và

xâm nhập khác

Vấn đề tồn tại là khi mổ cắt thần kinh tạng

qua soi lồng ngực cần phải đặt nội khí quản với

ống thông hai nòng để làm xẹp phổi một bên,

do đó việc phổ biến kỹ thuật rộng rãi đến các

tuyến y tế cơ sở bị hạn chế Tuy nhiên soi lồng

ngực với tư thế nằm sấp, úp mặt xuống hoặc

bơm CO2 hay không khí có thể tránh được phiền

toái của việc sử dụng ống thông hai nòng này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mouroux J, Jancovici R (1998) Thoracoscopic splanchnicectomy

for control of intractable pain in pancreatic cancer Ann Thorac

Surg, 65: 810-813

Stanek A, Lachinski AJ, Sledzinski Z (2005) Effect of NCPB and

VSPL on pain and quality of life in chronic pancreatitis patients

World J Gastroenterol, 11(32): 5010-5014

H (2002) Long-term results of bilateral thoracoscopic

splanchnicectomy in patients with chronic pancreatitis Br J Surg,

89: 158-162

thoracoscopic splanchnicectomy in patients with chronic pancreatitis Scand J Gastroenterol Suppl, 230: 29-34

(2004) Bilateral thoracoscopic splanchnicectomy for pain control

in chronic pancreatitis The American surgeon, 70: 546- 549

6 Ihse I, Zoucas E, Gyllstedt E, Lillo-Gil R, Andren-Sandberg A (1999) Bilateral thoracoscopic splanchnicectomy: effects on pancreatic pain and function Ann Surg, 230(6): 785-791

of intractable pain due to advanced pancreatic cancer Surg Endosc, 15(2): 129-131

relief of pain due to chronic pancreatitis Surg Endosc, 15(6):

592-596

of thoracoscopic splanchnicectomy for chronic pancreatitis pain Surg Endosc, 15(7): 706-709

Thoracoscopic splanchnicolysis for the relief of chronic pancreatitis pain: experience of a group of pneumologists Chest, 113: 528-31

11 Pietrabissa A, Vistoli F, Carobbi A, Boggi U, Bisa M, Mosca F (2000) Thoracoscopic splanchnicectomy for pain relief in unresectable pancreatic cancer Arch Surg, 135(3): 332-335

Ngày đăng: 23/01/2020, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w