Qua phân tích tình hình, các kết quả nghiên cứu 1975- 2003, có một số nhận định như sau: Bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã có quá trình 105 năm (1898- 2003), dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có thể chia làm 4 thời kỳ dịch tễ học: xâm nhập: 1898- 1922; lắng dịu: 1923- 1960; bùng phát: 1961- 1990; thu hẹp: 1991- 2003. Bệnh nhân chủ yếu là thể hạch. Có ghi nhận thể phổi nguyên phát nhưng hiếm khi xảy ra dịch thể phổi lớn. Dịch có đặc điểm là dịch vùng dân cư của chuột gần người, không có dịch hoang dại. Dịch lưu hành dai dẳng ở vùng cực nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Các yếu tố liên quan đến sự dai dẳng của dịch là: nhiệt độ các tháng không quá 27oC, không bị ngập lụt, có mặt chuột Rattus exulans. Biện pháp phòng chống hiệu quả là diệt bọ chét bằng hóa chất. Đặt hộp mồi Kartman thanh toán được các ổ dịch dai dẳng. Đến nay dịch đã được khống chế một bước lớn, cần tiếp tục giám sát, phòng chống tiến tới thanh toán bệnh dịch hạch ở Việt Nam trong một tương lai không xa.
Trang 1Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và phòng chống bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1975 - 2003
PGS.TS Đặng Tuấn Đạt, BS Nguyễn Thái và cs.
Qua phân tích tình hình, các kết quả nghiên cứu 1975- 2003, có một số nhận định như sau: Bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã có quá trình 105 năm (1898-2003), dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc Có thể chia làm 4 thời kỳ dịch tễ học: xâm nhập: 1898 - 1922; lắng dịu: 1923 - 1960; bùng phát:
1961-1990, thu hẹp: 1991-2003 Bệnh nhân chủ yếu là thể hạch Có ghi nhận thể phổi nguyên phát nhưng hiếm khi xảy ra dịch thể phổi lớn Dịch có đặc điểm là dịch vùng dân cư của chuột gần người, không có dịch hoang dại Dịch lưu hành dai dẳng ở vùng cực nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông
không bị ngập lụt, có mặt chuột Rattus exulans Biện pháp phòng chống hiệu quả là diệt bọ chét bằng hoá chất Đặt hộp mồi Kartman thanh toán được các ổ dịch dai dẳng Đến nay dịch đã được khống chế một bước lớn, cần tiếp tục giám sát, phòng chống tiến tới thanh toán bệnh dịch hạch ở Việt Nam trong một tương lai không xa
Through analysis of the plague situation with the results of investigations from 1975 to 2003, some observation could be made as follows: Plague in Vietnam has a history of 105 years (1898-2003), originated from China and then became endemic Its evolution can be divided into four epidemio-logic periods: invasion: 1898-1922, latency: 1923-1960, outbreak: 1961-1990, restrained:
1991-2003 Most patients got bubonic form Plague in Vietnam has had characteristics of inhabitant plague, of domestic rodents Sylvatic plague has not existed Plague persisted in the extreme south
of the Central Coastal region, the Western Highland and the Southeast plain Factors relating to the
exulans The effective control measure was to exterminate fleas with chemical Depositing the Kartman bait boxes has been able to eradicate persitent plague foci Up to now, plague in Vietnam was restrained greatly It is needed to continuously carry out measures of surveillance and control
to eradicate completely plague in Vietnam in the near future
1 Giới thiệu
Dịch hạch là bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm
do trực khuẩn dịch hạch (Yersinia pestis) từ động vật
lây sang người qua trung gian của bọ chét Bệnh lây
lan mạnh, diễn tiến nặng gây tử vong cao, có ảnh
hưởng đến quan hệ-giao lưu quốc tế Năm 2003,
đánh dấu 105 năm bệnh dịch hạch có mặt ở Việt
Nam (1898-2003) Bệnh đã từng gây các vụ dịch với
hàng ngàn người mắc, hàng trăm người chết
Sau 1975, cùng với phòng chống dịch đang
bùng phát-lan rộng, việc nghiên cứu bệnh dịch
hạch đã được tiến hành một cách hệ thống tại tất
cả các khu vực trên cả nước: miền Bắc, miền
Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ Các kết quả nghiên cứu đã là cơ sở khoa học đúng đắn cho hoạt động giám sát và phòng chống hiệu quả bệnh dịch hạch ở Việt Nam trong gần 30 năm qua Đến nay, bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã được khống chế một bước lớn với khả năng sẽ thanh toán hẳn trong một tương lai không xa
Bài viết này trình bày tổng hợp khái quát kết quả nghiên cứu và phòng chống bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1975 - 2003, được thực hiện trong chiều hướng xem xét đánh giá lại tình hình, đề ra nội dung và biện pháp cụ thể trong cho hoạt động phòng chống bệnh dịch hạch ở nước ta trong thời gian tới
Trang 22 Tiến trình của bệnh dịch hạch ở Việt Nam
Dịch hạch được xác định có mặt ở Việt Nam
1898 tại Nha Trang do tàu thuyền đem từ Hồng
Kông đến trong khung cảnh của vụ đại dịch thế
giới lần thứ ba1 Số liệu và diễn tiến của bệnh dịch
hạch ở Việt Nam cho đến nay qua tổng hợp từ nhiều
nguồn1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9và số liệu ghi nhận sau 1975 được
tập hợp trình bày theo Bảng 1, Biểu đồ 1, Biểu đồ
2, Biểu đồ 3, Bảng 2
Có thể chia tiến trình bệnh Dịch hạch ở Việt
Nam làm 4 thời kỳ dịch tễ học:
a Thời kỳ xâm nhập và tạo lây lan nội địa
1898-1922
Dịch ở Nha Trang 1898, Sài Gòn 1906, Lạng Sơn
1909, Hải Phòng 1917, đánh dấu sự xâm nhập của
bệnh dịch hạch vào Việt Nam Dịch xâm nhập chủ
yếu theo hàng hóa của người Trung Hoa Sau khi
xâm nhập dịch lây lan đến những nơi khác: Hà Nội,
Bắc Ninh, Hòn Gay, Phan Thiết, Phan Rang, Sóc
Trăng Những nơi dịch xâm nhập lây lan đến đều
có tính chất tạm thời trừ Sài Gòn và Phan Thiết có
chiều hướng trở thành vùng dịch lưu hành dai dẳng
b Thời kỳ lắng dịu và trở thành dịch lưu hành
địa phương 1923-1960
Để phòng chống người Pháp cho kiểm dịch tàu
thuyền, đốt các nhà có dịch Dịch giảm dần chỉ còn
lưu hành ở Sài Gòn và Phan Thiết Từ 2 nơi này có
lúc dịch lan rộng ĐàLạt: 1947, 1948, 1950 Bình
Long: 1955, 1956 Tây Ninh: 1955, 1956
c Thời kỳ bùng phát, lan tràn, lưu hành trên
diện rộng 1961-1990
Có thể chia làm 2 thời kỳ nhỏ:
- Từ 1961 đến 1975
Dịch bùng phát lan tràn ở miền Nam Sau đó
tiếp tục lưu hành trên diện rộng ở các tỉnh ven biển
miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ
Chính quyền miền Nam được người Mỹ giúp đỡ
thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống Dịch
hạch cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970
khống chế được dịch một bước, nhưng nhìn chung
dịch vẫn nặng nề với quy mô lớn
- Từ 1975 đến 1990
Sau 1975 dịch bùng phát, số mắc - chết tăng
vọt
Có năm dịch lan ra các tỉnh thành phía Bắc :
Hà Nội: 1977, 1978, 1986, 1987
Hải Phòng: 1978, 1986
Bắc Thái: 1978
Hải Hưng: 1978, 1986
Hà Nam Ninh: 1986
Thanh Hóa: 1980
Nghệ Tĩnh: 1977, 1978
d Thời kỳ thu hẹp-chỉ còn lưu hành tại một số ổ dai dẳng 1991-2003
Số mắc-chết có chiều hướng giảm và phạm vi dịch thu hẹp dần
Sau 1999, chỉ còn 2 tỉnh GiaLai và ĐakLak ghi nhận có dịch Tại Gia Lai và ĐakLak dịch cũng chỉ còn ghi nhận tại một số vùng dai dẳng
3 Các đặc điểm của dịch
a Bệnh nhân chủ yếu là thể hạch Có ghi nhận thể phổi nguyên phát nhưng hiếm khi xảy ra dịch thể phổi lớn Có một số ít thể nhiễm trùng huyết, thể màng não
b Dịch có mặt quanh năm với cao điểm thường vào các tháng 2, 3, 4, 5 và thay đổi theo địa phương Nhịp điệu phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và lượng mưa Mùa dịch đến khi nhiệt độ không khí trung bình tháng tăng cho đến 270C Từ 270C trở lên dịch giảm Dịch ít xuất hiện trong các tháng mưa lớn
c Thấy hình thành 2 vùng dịch :
- Vùng tạm thời: Các tỉnh thành phía Bắc
- Vùng lưu hành: Các tỉnh thành phía Nam, từ Bình Trị Thiên trở vào
Vùng dịch dai dẳng bao gồm cực Nam duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ Gần như hình thành một khu vực địa lý khá rõ rệt Các yếu tố liên quan đến tính chất dai dẳng của dịch là:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ tháng không vượt quá
270C, dao động gần 240C
- Không bị ngập lụt
- Vai trò của chuột Rattus exulans
d Dịch có đặc điểm là dịch vùng dân cư của chuột gần người Không thấy dấu hiệu của dịch hoang dại Không ghi nhận trường hợp mắc dịch hạch nào trong hàng triệu lượt người di chuyển và sống giữa rừng núi thời gian chiến tranh 1945-1975 Các tìm hiểu về sinh thái học tiến hành trong thời gian 1989-1996 khẳng định ở Việt Nam không
Trang 3có dịch hạch hoang dại Điều tra cắt lớp từ các ổ
dịch ra sinh cảnh bán hoang dại - hoang dại cho
thấy mật độ động vật, chỉ số bọ chét liên quan càng
xa khu vực dân cư càng thấp, không có điều kiện
cho dịch lưu hành
e Biện pháp phòng chống
- Diệt chuột bằng hóa chất ở khu vực dân cư
thiếu an toàn, chỉ thuận lợi tại kho hàng, bến cảng
- Tiêm phòng với Vacxin EV, trong thực tế có
hiệu lực không rõ rệt và không chắc chắn Ghi nhận
có 2 bệnh nhân tử vong tuy có tiêm phòng trước đó
hơn 1 tháng
- Biện pháp có hiệu quả là diệt bọ chét Hộp mồi
Kartman với Diazinon bột thấy có hiệu lực thanh
toán được dịch tại một số ổ dai dẳng 10, 11, 12,13, 14
5.Tình hình và việc phòng chống dịch
hạch ở Việt Nam hiện nay
Cho đến nay bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã
được khống chế một bước lớn Các đầu tư của Bộ
Y tế qua các dự án nhỏ cho việc phòng chống các
vùng dịch trọng điểm, giám sát các đầu mối lây lan
trong các năm 1997, 1998, 1999, 2000 đã đạt được
mục tiêu cơ bản đề ra là giới hạn dần vùng dịch,
không để dịch lây lan rộng trong cả nước Ủy ban
nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã có đầu tư đúng mức và
đạt được kết qủa thích đáng cho việc chủ động
phòng chống dịch hạch lưu hành tại xã Đạ Đờn
-huyện Lâm Hà trong các năm 1997, 1998 Từ 1998,
bệnh dịch hạch không còn ghi nhận tại tỉnh Lâm
Đồng Thời gian 2000 - 2002 dịch tiếp tục được
khống chế tại các ổ trọng điểm ở Tây Nguyên
Năm 2003 (đến tháng 11), cả nước không ghi nhận
có bệnh nhân nhưng giám sát phát hiện và xác định
có dịch động vật (phân lập Yersinia pestis (+) từ
một chuột Rattus exulans 06/ 2003) tại một ổ dịch
trọng điểm đang được tiến hành chắt chẽ các biện
pháp phòng chống (xã Ea Hiao, huyện Ea H'leo,
ĐakLak)
Tuy nhiên nhìn chung trên cả nước, quy mô và
mức độ của dịch động vật vẫn chưa được biết rõ
Dịch vẫn có khả năng bùng phát lớn nếu không
được giám sát phòng chống chặt chẽ
Mặt khác do:
- Tính chất biến động dân cư, một số dân cư
trong vùng dịch thường đi lại giao lưu kèm vận
chuyển lương thực đến nhiều nơi khác trên cả nước
(các tỉnh phía Bắc, ven biển miền Trung )
- Việc vận chuyển sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp
- Chưa thực hiện được việc kiểm dịch
- Khả năng dịch lây lan rộng trong cả nước, xâm nhập đến các đầu mối giao lưu quan trọng: TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, TP Đà Nẵng, TP Hà Nội, TP Quy Nhơn , TP Nha Trang , là hiện thực Một vấn đề khác cần chú ý là số lượng hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam; một phần đáng kể là lương thực, thực phẩm; càng lúc càng tăng Tại Trung Quốc có các ổ dịch hạch tự nhiên hoang dại Tỉnh Vân Nam sát biên giới phía Bắc và có giao lưu rộng rãi về hàng hóa với nhiều tỉnh thành trên cả nước, trong khoảng 1990-1999 hàng năm đều ghi nhận có bệnh nhân và dịch động vật15, 16 Hiện nay dịch có thể từ Trung Quốc xâm nhập vào Việt Nam, như đã xâm nhập vào cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20; (Nha Trang 1898, Lạng Sơn 1909, Hải Phòng 1917), mở ra tiến trình 105 năm bệnh dịch hạch ở Việt Nam
Tại các vùng dịch lưu hành, các trọng điểm có nguy cơ bị xâm nhập, việc giám sát, phòng chống vẫn còn nhiều khó khăn do hoạt động về dịch hạch nặng nề và phức tạp mà chưa được đầu tư thích đáng
6 Đề nghị
6.1 Các nội dung cần thực hiện trong thời gian tới:
a Giám sát, phòng chống chặt chẽ, tiến tới thanh toán các ổ dịch nóng: GiaLai, ĐakLak
b Giám sát các đầu mối lây lan:
- Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Nội
- Lào Cai, Lạng Sơn
c Giám sát, xác định tình hình dịch động vật tại các ổ dịch cũ: Bình Định, KonTum, Lâm Đồng 6.2 Bộ Y Tế có đầu tư cho hoạt động giám sát phòng chống bệnh dịch hạch trên cả nước với các mục tiêu:
a Thanh toán bệnh dịch hạch trên người vào năm 2005
b Thanh toán dịch động vật trước 2010 Đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước có bệnh dịch hạch
c Phòng chống dịch hạch từ các nước khác xâm nhập vào
Trang 4NĂM MẮC CHẾT
Bảng 1: Số mắc - chết bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1898 - 2002
TT THÀNH TỈNH 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 04 95 96 97 98 99 00 01 02
1 THÁI NGUYÊN
2 QUẢNG NINH
3 HẢI HƯNG
`4 HẢI
PHÒNG
5 HÀ NỘI
6 NAM ĐỊNH
7 THANH HÓA
8 NGHỆ TĨNH
9 QUẢNG BÌNH
10 QUẢNG TRỊ
11 T THIÊN - HUẾ
12 QUẢNG NAM ĐN
13 QUẢNG NGÃI
14 BÌNH
15 PHÚ YÊN
16 KHÁNH HÒA
17 NINH THUẬN
18 BÌNH THUẬN
19 KONTUM
20 GIALAI
21 ĐAKLAK
22 LÂM
ĐỒNG
23 ĐỒNG NAI
24 TP
H.C.MINH
25 BÌNH PHƯỚC
26 BÌNH
DƯƠNG
27 TÂY NINH
28 LONG AN
29
TRÀ
VINH -
V.L
30 HẬU
GIANG
31 CÀ MAU- B.LIÊU
Bảng 2: Diễn biến vùng có bệnh nhân dịch hạch ở Việt Nam theo tỉnh 1976 - 2002
Ghi chú: Để trống là không có số liệu.
Trang 510
100
1000
10000
100000
98* 00* 02* 04* 06* 08* 10* 12* 14* 16* 18* 20* 22* 24* 26* 28* 30* 32* 34* 36* 38* 40* 42* 44* 46* 48* 50* 52* 54* 56* 58* 60* 62* 64* 66* 68* 70* 72* 74* 76* 78* 80* 82* 84* 86* 88* 90* 92* 94* 96* 98* 00* 02*
Biểu đồ 1: Số mắc - chết bệnh dịch hạch ở Việt Nam năm 1898 - 2002 trình bày theo logarithm
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000
1976* 1977* 1978* 1979* 1980* 1981* 1982* 1983* 1984* 1985* 1986* 1987* 1988* 1989* 1990* 1991* 1992* 1993* 1994* 1995* 1996* 1997* 1998* 1999* 2000* 2001* 2002*
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
1976* 1977* 1978* 1979* 1980* 1981* 1982* 1983* 1984* 1985* 1986* 1987* 1988* 1989* 1990* 1991* 1992* 1993* 1994* 1995* 1996* 1997* 1998* 1999* 2000* 2001* 2002*
Biểu đồ2: Số mắc bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1976 - 2002
Biểu đồ 3: Số chết bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1976 - 2002
Trang 6Tác giả: PGS.TS Đặng Tuấn Đạt - Trưởng tiểu ban phòng
chống dịch hạch quốc gia; Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ
Tây Nguyên Địa chỉ: 59 Hai Bà Trưng, TP.Buôn Ma Thuột
- tỉnh Đắc Lắc Email: tnine@netnam.org.vn
Tài liệu tham khảo:
1.Yersin A Ann de L' Inst Pasteur Paris [1898]; 261-262
2 Gaide et Bodet La peste en Indochine Transaction of
The eighth Congress held in Siam December 1930 Far East
Association of Tropical Medecine Vol 11 [1930] ; 273-241
3 Delbove D, Reynes V La peste acquisitions recentes sur
quelques maladies infectieuses Institut Pasteur d'
Indochine [1942].103-107
4 Tưởng Chí Lương Historique de la peste au Viet Nam.
These pour le doctorat en Medecine Université nationale
du Viet Nam Faculté mixte de Medecine et de Pharmacie
de SaiGon Anneé 1956-1957 No 8.
5 USA Medical Research Team [WRAIR] and Institute
Pasteur of Viet Nam Plague in Viet Nam 1964-1965 Annual
Progress Report 01 Oct 1964 - 31.Augst.1965;1- 37
6 Institut Pasteur du Viet Nam Peste Rapport Annuel sur
le fonctionnement technique [1964] 25- 45.
7 Marshal JD, Gidson FL, Cavanaugh DC, et al Plague in
VietNam 1966 Annual progress report 1 Sept
1965-31Augt.1996; 29 - 62
8 Cavanaugh DC et al Some observation on the current
plague outbreak in the Republic of Viet Nam Amer - J.
public health 58 [1968]; 742-752
9 Velimirovic B Investigations on the epidemiology and control of plague in South VietNam Zbl - Bakt - Hyg I Abt Origin A 228 [1974 ]; 482 - 532
10 Nguyễn Ái Phương và Cs Báo cáo nghiệm thu đề tài khoa học cấp Nhà nước 64B.03 [1991] Nghiên cứu phòng chống bệnh dịch hạch ở Việt Nam.
11 Trung Tâm Nhiệt Đới Việt Nga - Bộ Quốc Phòng, Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên - Bộ Y Tế Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Nhà nước M.1.1; Nghiên cứu tổng hợp các đặc điểm dịch tễ, vi sinh vật, vật chủ và trung gian truyền bệnh dịch hạch ở Tây Nguyên (Thuộc chương trình Ecolan M 1989 - 1996)
12.WHO Plague Manual Epidemiology, Distribution, Surveillance and Control [Geneva ] [ 1999 ].
13 Barnes A M, Kartman L Control of plague vectors on diurual rodents in the Sierra Nevada of California by use of insecticide bait boxes The Journal of Hygiene (Cambridge)
58 (1960) 347 - 355
14 Dong Xingqi et al (1999) A survey of plague
epidem-ic in Yunnan provinve, P R China 108-113 Yunnan insti-tute for epidemic disease control and research, Dali - P R China.
15 A general survey and analysis of plague epidemiology
in China during 1990 - 1999 (Yunnan institute for epi-demic disease control and research, Dali - P.R China).