1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vân môi của người Việt Nam vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

7 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện những mục tiêu sau: (1) phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi của người Việt Nam ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. (2) so sánh vân môi ở nam giới và nữ giới. (3) xác định vân môi mang tính đặc trưng duy nhất của cá thể.

Trang 1

VÂN MÔI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Võ Huỳnh Trang*

, Lê Văn Cường **

TÓM TẮT

Ngày nay “vân môi” đãtrở thành dữ liệu sinh trắc học quan trọng để xác định đó chỉ duy nhất là bạn mà thôi Tuy nhiên việc sử dụng nó chỉ có ở một số quốc gia mà chưa được phổ biến rộng rãi Do đó vân môi cần được nghiên cứu rộng và sâu hơn nữa nhất là ở Việt Nam

Mục tiêu: (1) Phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi của người Việt Nam ở vùng Đồng bằng sông Cửu

Long (2) So sánh vân môi ở nam giới và nữ giới (3) Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy nhất của cá thể

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu vân môi của 1618 người dân gồm ba dân tộc Kinh,

Khmer, Chăm; từ 5 – 82 tuổi; sinh sống ở 8/13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng máy chụp hình

kỹ thuật số

Kết quả: Chúng tôi phân được 8 dạng vân môi Trong đó, dạng I rãnh thẳng chiếm tỉ lệ cao nhất Vân môi ở

nam và nữ nhìn chung không khác nhau Và chúng tôi không tìm được mẫu vân môi nào giống mẫu vân môi nào

Kết luận: Vân môi khác nhau ở các cá thể khác nhau nên có thể ứng dụng để nhận dạng cá thể hay xác định

tội phạm

Từ khóa: Vân môi

ABSTRACT

LIP PRINTS OF THE VIETNAMESE RESIDENTS IN THE MEKONG DELTA

Vo Huynh Trang, Le Van Cuong 169 - 175

Lip prints has become a important data in biometry to identify the unique of an individual However, use of this biometric data has been rare – not common, only made in a few countries Therefore, there should be more comprehensive research in lip prints, especially in Viet Nam

Objectives: (1) Classify and calculate the proportion of types of the lip prints of the Vietnamese residents in the Mekong delta (2) Compare types of lip prints between male group and female group (3) Confirm that a lip print is unique of an individual

Research methods and subjects: 1618 people of 3 races: Kinh, Khmer and Cham aged from 5 to 82 in 8/13

cities and provinces in the Mekong delta were taken photograph by a digital camera

Results: 8 types of lip prints were classified The highest proportion among them is the type I with straight

furrows Lip prints are generally not different between women and men groups No identical lip prints were identified

Conclusion: Lip prints are different in different individuals Therefore, they are used for personal

recognition or crime investigation

Keyword: lip print

* BM Giải phẫu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

** Bộ môn Giải phẫu - Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên hệ: ThS Võ Huỳnh Trang Điện thoại: 0989576785 Email: vhtrang@ctump.edu.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong khoa học hình sự, để xác định cá thể,

người ta dựa vào các chỉ số và đặc điểm do nhân

trắc học cung cấp như: vân tay, nhóm máu, mô

hình răng Tuy nhiên trong một số trường hợp

không còn đầy đủ các bộ phận như nạn nhân bị

cắt mất tay, bỏng vân tay hay không có hồ sơ về

răng thì việc xác định cá thể gặp nhiều khó

khăn (2), (3) Chính vì thế mà gần 20 năm qua

các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu

để tìm ra nhiều phương pháp khác nhau giúp

phân biệt người này với người khác, “ngũ vân’’

ra đời từ đây Một trong ngũ vân là: vân môi

Năm 1902, Fischer đã mô tả vân môi Năm

1930, ngành nhân chủng học đề cập đến sự tồn

tại của các nếp nhăn này, nhưng không đề ra

ứng dụng nào cho thực tiễn (4) Mãi đến năm

1950 lần đầu tiên vân môi được Snyder (3) sử

dụng để xác định cá thể người Santos (2) 1967

đề nghị phân các nếp nhăn ở môi người làm hai

loại: đơn và kép

Trong một nghiên cứu về mối quan hệ nha -

pháp y giữa son môi và môi nữ giới ở 107 phụ

nữ Nhật năm 1967, K Suzuki (5) bất ngờ phát

hiện rãnh chứ không phải là nếp nhăn ở vùng

môi đỏ như từ trước tới giờ vẫn nghĩ Cấu trúc

rãnh môi chưa có trong thuật ngữ giải phẫu, nên

ông đặt tên cho nó là “rãnh hay khe môi” (“sulci

labiorum rubrorum”), và thuật ngữ “vân môi”

(“figura linearum labiorum rubrorum”) là mô

hình các rãnh này trên môi người

Công trình lớn nhất là của Suzuki và

Tsuchihashi vào những năm 1970 - 1974, các ông

sử dụng máy in vân tay để lấy dấu vân môi của

1364 người Nhật, kết luận của các ông là vân môi

mang tính đặt trưng riêng biệt của từng cá thể và

có thể sử dụng vân môi để nhận dạng trong

pháp y(5,6) Các ông cũng là những người đầu tiên

đưa ra cách phân loại vân môi mà được các nhà

vân môi học sau nay sử dụng nhiều nhất, có 5

loại vân môi:

Lo ạ i 1: Rãnh th ằ ng h ế t b ề

dày môi

Lo ạ i 1’: Rãnh th ẳ ng không h ế t

b dày môi

Lo ạ i 2: Rãnh phân nhánh Lo ạ i 3: Rãnh giao nhau

Lo ạ i 4: rãnh l ướ i Loại 5: Các dạng khác

Những năm sau này vân môi được nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau như: Đức, Nga, Ba Lan, Tây Ban Nha, Sivapathasundharam(4) 2001 ở

Ấn Độ, Úc, Hàn Quốc, Nhật

Các kết quả nghiên cứu đều xác nhận: giống như vân tay, vân môi ở mỗi người mang tính đặt trưng riêng biệt Nó củng cố cho việc sử dụng vân môi để xác định tội phạm, nhưng lại chưa được công nhận như một bằng chứng khoa học trên tòa án Cần có nhiều nghiên cứu về vân môi hơn nữa nhằm tập hợp, giải thích, và chứng minh tính duy nhất của vân môi

Ở Việt Nam có một số nghiên cứu về môi, nhưng chủ yếu là kích thước môi Chỉ có một vài nghiên cứu của Lê Văn Cường, Võ Huỳnh Trang(1) để phân loại vân môi, nhưng chỉ tập trung trên đối tượng sinh viên

Với mong muốn bổ sung về đặc điểm vân môi của người Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Vân môi người Việt Nam vùng Đồng bằng sông Cửu Long”

Mục tiêu nghiên cứu

- Phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi

- So sánh vân môi ở nam giới và nữ giới

- Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy nhất của cá thể

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Công trình nghiên cứu trên 1618 người dân được chọn ngẫu nhiên ở 8/13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ 5 - 82 tuổi

Phương pháp nghiên cứu:

- Chụp hình vân môi bằng máy chụp hình

Trang 3

kỹ thuật số Olympus C 60 6.1MP

- Sau đó quan sát vân môi chụp được

phóng đại trên màn hình máy vi tính

- Ghi nhận hình dạng các rãnh vân môi ở

vùng 1/3 giữa môi dưới, phân loại các dạng rãnh

ghi nhận được và tính tỉ lệ của chúng

- So sánh vân môi ở nam và nữ

- Phân 12 khu vực vân môi đểxây dựng

mô hình vân môi

- Mã hóa các dạng vân môi để nhập dữ

liệu vào chương trình Excel 2007, sử dụng hàm

tìm kiếm theo dòng (Hlookup horizontal

lookup) đểxác định mẫu vân môi giống nhau

- Các số liệu thu thập được xử lý bằng

phần mềm SPSS 18.0

Phân vùng và khu vực môi ñỏ Mô hình vân môi

KẾT QUẢ

Qua khảo sát vân môi của 1618 người dân ở

vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi có

kết quả như sau:

Số liệu chung

Bảng 1: Giới tính trong mẫu nghiên cứu

Gi ớ i S ố l ượ ng (n) T ỉ l ệ (%)

Bảng 2: Dân tộc trong mẫu nghiên cứu

Dân t ộ c S ố l ượ ng (n) T ỉ l ệ (%)

Kinh 1013 62,6

Khmer 305 18,9

Ch ă m 300 18,5

T ng c ộ ng 1618 100

Phân loại và tỉ lệ vân môi

Qua khảo sát 1618 mẫu vân môi của ba dân tộc Kinh, Khmer, Chăm ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi phân được thành 8 dạng rãnh vân môi, các dạng rãnh này được ký hiệu bằng các số la mã từ I đến VIII Vùng 1/3 giữa của môi dưới là vùng chính được chúng tôi chọn để tính tỉ lệ các dạng vân môi

Bảng 2: Các dạng và tỉ lệ vân môi

N 1342

D ạ ng I: Rãnh

th ẳ ng ( Đ i h ế t b ề

d y môi ho ặ c không)

T ỉ l ệ

(%) 82.9

N 84

D ạ ng II:

Rãnh phân nhánh ( Đ i

h t b ề d ầ y môi ho ặ c không)

T ỉ l ệ

(%) 5,2

N 8

D ạ ng III:

Giao rãnh Tỉ lệ

(%) 0,5

N 16

D ạ ng IV:

L ướ i rãnh Tỉ lệ

(%) 1,0

N 9

D ạ ng V:

Rãnh hình sao

T ỉ l ệ

(%) 0,58

N 1

D ạ ng VI: Có rãnh ngang Tỉ lệ

(%) 0,06

N 1

D ạ ng VII:

Không qui

t ắ c

T ỉ l ệ

(%) 0,06

N 157

D ạ ng VIII:

Không có rãnh (ho ặ c

ch ỉ có 1 rãnh

th ẳ ng ở gi ữ a)

T ỉ l ệ

(%) 9,7

Bảng 3: Tỉ lệ các cấu trúc khác đi kèm với vân môi

K ế t qu ả

C ấ u trúc ñ i kèm

N T ỉ l ệ (%)

Trang 4

C ủ môi (Ch ỉ có ở

môi trên)

354 21,9

Xo ắ n môi 66 4,1

N ố t vàng 81 5,1

Vân môi và giới tính

Bảng 4: Tỉ vân môi theo giới tính

Khu v ự c 1/3 gi ữ a môi d ướ i

D ạ ng vân môi

N 620 722

D ạ ng I

T ỉ l ệ (%) 84,5 81,7

N 33 51

D ạ ng II

T ỉ l ệ (%) 4,5 5,8

D ạ ng III

T ỉ l ệ (%) 0,7 0,3

D ạ ng IV

T ỉ l ệ (%) 0,9 1,0

D ạ ng V

T ỉ l ệ (%) 0,9 0,2

N 00 1

D ạ ng VI

T ỉ l ệ (%) 0,0 0,1

N 1 00

D ạ ng VII

T ỉ l ệ (%) 0,2 0,0

N 61 96

D ạ ng VIII

T ỉ l ệ (%) 8,3 10,9

> 0,05

Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy

nhất của cá thể

Hàm tìm kiếm theo dòng trong bảng tinh

Excel 2007 cho kết quả không có mô hình vân

môi nào giống mô hình vân môi nào

BÀN LUẬN

Số liệu chung

Do mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên

trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nên tỉ lệ

giữa nam là 45,4% (734 người) và nữ là 54,6%

(884 người); chệnh lệch nhau hơn 9%

Dân tộc Kinh chiếm nhiều nhất 62,6% Dân

tộc Khmer 18,9%, dân tộc Chăm 18,5%

Phân loại và tỉ lệ vân môi

Khu vực giữa môi dưới được xem là nơi có thể nhìn thấy trong bất cứ tình huống nào, đồng thời cũng là nơi dễ dàng để lại dấu vân môi nhiều nhất, nên vùng này được các nhà nghiên cứu vân môi trên thế giới chọn làm vùng quyết định ghi nhận dấu vân môi Theo y văn, chúng tôi cũng chọn khu vực 1/3 giữa môi dưới là khu vực quyết định để đọc rãnh khi tính tỉ lệ rãnh, và mẫu rãnh tùy thuộc vào tính vượt trội có thể đếm được của các dạng rãnh tại khu vực này Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 dạng vân môi Trong đó dạng I rãnh thẳng chiếm cao nhất và vượt trội 82,9%; các dạng khác có tỉ lệ giảm dần theo thứ tự: dạng VIII không rãnh 9,7%; dạng II rãnh phân nhánh 5,2%; dạng IV lưới rãnh 1%; dạng V rãnh sao 0,58%; dạng III lưới rãnh 0,5%; dạng VI rãnh ngang và dạng VII rãnh không qui tắc là thấp nhất với 0,06% Cách phân dạng này giống với Suzuki và Tsuchihasshi bốn dạng đầu: rãnh thẳng, rãnh phân nhánh, giao rãnh và lưới rãnh Dạng V của các tác giả này bao gồm những dạng rãnh còn lại khác với bốn dạng trước Nhưng ở đây chúng tôi đã phân thành bốn dạng khác là rãnh sao, rãnh ngang, rãnh không qui tắc và không rãnh, vì các dạng rãnh này khác nhau

và có thể phân biệt dễ dàng, đồng thời một số dạng rãnh lại mang tính đặc trưng của dân tộc hay lứa tuổi

Bảng 5: So sánh dạng vân môi với các tác giả khác

D ạ ng vân môi

Chúng tôi (%)

Lê V

C ườ ng (%)

Tsuchihasshi (%)

Sivapatha sundharam (%)

Rãnh th ẳ ng 82,9 58,1 26,75 27,04 Phân nhánh 5,2 13,2 21,0 12,76 Giao rãnh 0,5 9,0 32,55 41,33

L ướ i rãnh 1,0 3,6 12,75 10,71 Rãnh sao 0,58

Rãnh ngang 0,06 Rãnh không qui t ắ c

0,06

Không rãnh 9,7

10,4 16,6 6,95 8,16

Tác giả Lê Văn Cường(1) nghiên cứu trên 220

Trang 5

sinh viên Đại học Y Dược TP HCM ghi nhận

dạng rãnh thẳng chiếm cao nhất giống với

chúng tôi Còn Tsuchihasshi nghiên cứu trên 64

người Nhật và Sivapathasundharam nghiên cứu

trên 200 người Aán Độ thì dạng giao rãnh là phổ

biến nhất, sau đó mới tới rãnh thẳng, trong khi

kết quả của chúng tôi thì giao rãnh xuất hiện rất

thấp Hai tác giả này có dạng V là dạng các rãnh

khác, chiếm 8,16% Nhưng chúng tôi và tác giả

Lê Văn Cường đã chia thêm 4 dạng nữa

Dạng II của tác giả Lê Văn Cường là rãnh

thẳng và có củ môi trên, nhưng qua khảo sát

chúng tôi ghi nhận củ môi trên có thể xuất hiện

cùng với các dạng rãnh khác như giao rãnh, rãnh

phân nhánh, nên chúng tôi không xếp vào phân

loại dạng rãnh mà chúng tôi tách chúng vào

nhóm các cấu trúc đi kèm với vân môi Tỉ lệ xuất

hiện củ môi trong nghiên cứu của chúng tôi là

21,9% cao hơn ghi nhận tỉ lệ củ môi của tác giả là

15,9%

Tác giả Ludwig Hirth(4) nghiên cứu trên 500

người Đức, ông ghi nhận 31,2% vân môi có hình

xoắn ốc, và có 3 dạng: 1 xoắn ốc ở giữa môi trên,

2 xoắn ốc ở môi dưới, 3 xoắn ốc: 1 ở môi trên, 2 ở

môi dưới Kết qua ûcủa chúng tôi, chỉ có 4,1%

vân môi có xoắn ốc, và 4 dạng: 2 xoắn ở môi

dưới, 2 xoắn ở môi trên, 1 xoắn nằm một bên ở

môi dưới, 1 xoắn ở môi trên

Một cấu trúc mới mà chúng tôi ghi nhận

được là môi có nốt vàng, các nốt có thể chiếm

gần hết diện tích phần môi đỏ, hoặc rải rác vài

nốt; có thể xếp thành chuỗi hoặc hợp lại thành

đám nằm hai bên môi đỏ; có thể thấy ở môi trên

hoặc môi dưới hoặc cả hai môi Tỉ lệ xuất hiện

nốt vàng chiếm 5,1% trong mẫu

Vân môi và giới tính

Theo bảng 3.4, tỉ lệ vân môi ở nam và nữ gần

tương đương nhau, có sự chênh lệch nhưng

không nhiều Ở nam thứ tự xuất hiện các dạng

giống như thứ tự xuất hiện chung các dạng vân

môi, dạng I chiếm cao nhất, đến dạng VIII, rồi

dạng II, dạng IV, dạng V, dạng III, dạng VII,

dạng VI Nhưng ở nữ thì thứ tự này có thay đổi,

bốn dạng đầu giống mẫu chung, nhưng tiếp

theo là dạng III rồi mới dạng V, dạng VI và VII không ghi nhận xuất hiện ở nữ Tuy nhiên sự khác nhau về tỉ lệ và thứ tự xuất hiện các dạng rãnh không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05 Khi so sánh riêng dạng vân môi của nam và

nữ với các tác giả, theo bảng 4.2 thì kết quả của chúng tôi là dạng rãnh thẳng phổ biến nhất ở cả hai giới, điều này giống với kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Văn Cường trên người Việt Nam Còn trên người Nhật, theo Tsuchihashi thì giao rãnh là dạng phổ biến nhất, dạng rãnh thẳng chỉ xếp thứ 2 Nghiên cứu của chúng tôi thì ghi nhận dạng giao rãnh và dạng lưới rãnh xuất hiện với tỉ lệ rất thấp, chưa tới 1% ở cả hai giới

Bảng 6: So sánh dạng vân môi với các tác giả khác ở

nam và nữ

Chúng tôi Lê V ă n C ườ ng Tsuchihashi

D ạ ng vân

Rãnh th ẳ ng 84,5 81,7 58,6% 57,7% 27,3% 26,2% Phân nhánh 4,5 5,8 13,4% 12,9% 18,2% 23,8% Giao rãnh 0,7 0,3 9,6% 8,6% 31,3% 33,3%

L ướ i rãnh 0,9 1,0 4,8% 2,5% 13,6% 11,9% Rãnh sao 0,9 0,2

Rãnh ngang 0,0 0,1 10,5% 13,6%

Không qui t ắ c 0,2 0,0 Không rãnh 8,3 10,9

9,1% 4,8%

C ủ môi 19,8 23,6 14,4% 17,2%

Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy nhất của cá thể

Để có thể kết luận không có vân môi của người nào giống người nào trong 1364 người Nhật mà mình nghiên cứu, Tsuchihasshi đã xây dựng sơ đồ cho các rãnh vân môi dựa theo qui ước ghi sơ đồ răng với bốn vùng: 1/4 trên (P); 1/4 trên (T); 1/4 dưới (P); 1/4 dưới (T); các rãnh vân môi sẽ được bà ghi nhận theo 6 dạng phân loại của bà lên 4 vùng trên Tsuchihashi gọi đây là mô hình vân môi Từ đó bà đã kết luận: không có vân môi nào có cùng mô hình trong nghiên cứu của mình Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân vân môi thành 12 khu vực như trên đã mô tả, 8 dạng vân mơi sẽ được ghi nhận trên 12 khu vực này Vì vân môi rất đa dạng và phong phú, nên tuy cùng một dạng rãnh nhưng chúng có thể khác nhau về chiều

Trang 6

dài, độ rộng, độ nông sâu, nên để chi tiết thêm

các dạng rãnh, 4/8 dạng lớn này được phân

thành các dạng nhỏ hơn, và ký kiệu dấu “'”

hay “a” hoặc “b” để phân biệt vài đặc điểm

khác nhau trong dạng đó Với cách phân chia

này chúng tôi có 16 dạng nhỏvà được mã hóa

từ số 1 đến 16 khi nhập vào bảng tính Excel

Khi xây dựng mô hình vân môi, chúng tôi ghi

nhận 1 đến 2 dạng rãnh trên một khu vực Khi

tạo bảng tính Excel thì với một khu vực vân

môi chúng tôi có hai cột ghi nhận hai dạng

rãnh này, nên với 12 khu vực môi, chúng tôi có

24 cột dạng rãnh vân môi Mỗi cấu trúc củ môi,

xoắn môi, nốt vàng cũng được xây dựng thành

cột Tổng cộng chúng tôi có 25 cột và1618 dòng

trong bảng tính Excel Với việc sử dụng hàm

tìm kiếm theo dòng, chúng tôi có kết quả

không dòng nào giống dòng nào tức là không

có mô hình vân môi nào giống mô hình vân

môi nào Điều này chứng minh trong 1618

người Việt Nam vùng Đồng bằng sông Cửu

Long không có vân môi của người nào giống

người nào

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu vân môi của 1618 người

Việt Nam ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long,

chúng tôi ghi nhận:

Có 8 dạng vân môi

- Dạng I rãnh thẳng phổ biến nhất chiếm

82,9%%

- Củ môi có thể kết hợp với các dạng khác,

và xuất hiện với tỉ lệ21,9%

- Xoắn môi xuất hiện 4,1% và gặp bốn dạng:

1 xoắn ở môi trên, 1 xoắn ở một bên môi dưới, 2

xoắn ở môi trên, 2 xoắn ở môi dưới

Không có sự khác nhau về vân môi giữa

nam và nữ: dạng I phổ biến nhất ở cả hai giới

Vân môi khác nhau giữa các cá thể khác

nhau hay nói cách khác là vân môi mang tính

đặc trưng duy nhất của cá thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Văn Cường.(2005) Hình thái vân môi của 220 sinh viên Đại Học

Y Dược TP Hồ Chí Minh Y Học TP Hồ Chí Minh, Hội nghị

Khoa học Kỹ thuật lần thứ 22, chuyên đề Y học cơ sở Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh Phụ bản số 1, tập 9, tr: 1 - 5

2. Santos M.(1967) A supplementary stomatological means of identification, Int Microform J Leg Med, 2

3. Snyder L.(1950).Homicide Investigation Thomas Springfield, III,

pp: 65

4. Sivapathasundharam B and Prakash P.A.(2001).Lip prints (Cheiloscopy) Indian Journal of Dental Research, 12 (4), pp: 234 -

237

5. Suzuki K., Suzuki H., and Tsuchihashi Y.(1970) New attempt of personal identification by means of lip print Journal of the Indian Dental Association, 42 (1), 1970, pp: 8 - 9

6. Tsuchihashi Y.(1974).Studies on personal identification by means

of lip prints Forensic Science, 3 (3), pp: 233 - 248

Ngày đăng: 23/01/2020, 14:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w