1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát hiệu quả điều trị bệnh sốt rét biến chứng nặng tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Tỉnh Phú Yên năm 2012

6 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 433,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các biện pháp điều trị, đồng thời đánh giá hiệu lực đơn trị liệu artesunat trong điều trị bệnh sốt rét nặng có biến chứng do plasmodium falciparum tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Phú yên, năm 2012.

Trang 1

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT BIẾN CHỨNG NẶNG  TẠI KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2012 

Lê Phải* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các biện pháp điều trị, đồng thời đánh giá hiệu lực 

đơn trị liệu Artesunat trong điều trị bệnh sốt rét nặng có biến chứng do Plasmodium falciparum tại khoa Hồi  Sức Cấp Cứu Bệnh viện Phú yên, năm 2012 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, cắt ngang mô tả; Tất cả bệnh nhân chẩn đoán xác định 

sốt rét có biến chứng nặng từ 1‐1 đến 30‐10‐1012. Đánh giá lâm sàng các thời điểm: bắt đầu nghiên cứu (D0) và  các ngày D1,D2,D3,D7, D14,D28. Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học, phần mềm SPSS 16.0. 

Kết  quả: Bệnh nhân nam > nữ, tuổi trung bình giữa nam và nữ gần như nhau (24 ± 15) người sống ở 

đồng bằng > ở miền núi. Thể lâm sàng thiếu máu (73,33%), suy thận cấp (70%) thể não (46,66%), các thể lâm  sàng khác, như: sốc, xuất huyết, đái huyết cầu tố… có tỷ lệ thấp. Số cơ quan bị tổn thương do sốt rét phần lớn là 

1 cơ quan (36,66%), tuy nhiên số bệnh nhân bị tổn thương 3 cơ quan cũng khá cao (16,66%). Số bệnh nhân suy  thận cấp (22/30 BN = 70,00%) nhưng chạy thận nhân tạo chỉ có 3 trường hợp (19,04%), số lượng máu truyền ≥ 

2 đơn vị cho mỗi bệnh nhân (63,63%). Mật độ KSTSR trung bình ngày D0: 42,062 (< 50,000) nhưng số bệnh  nhân có mật độ KSTSR > 100.000 (33,33%). Sau 12 giờ mật độ KSTSR giảm (2,52%), và giảm 99,06% so với  ngày D0, ngày thứ 4 mật độ KSTSR (trung bình) vẫn còn 228 và đến ngày thứ 7 KSTSR vẫn còn(+) với mật độ 

11 KSTSR/μl máu. Sau 3 ngày điều trị Artesunate số bệnh nhân sạch KSTSR trong máu chiếm 76,66%, Sau 48 

giờ cắt sốt được 93,33%. Tỷ lệ điều trị thành công chỉ đạt 53,33%, thất bại điều trị 6,66% và thất bại điều trị  muộn 16,66%, điều trị kết hợp Arterakine thì sạch được KSTSR trong máu ở 2 bệnh nhân còn KSTSR sau ngày  thứ 7. 

Kết luận: Sốt rét có biến chứng nặng 100% do KSTSR P.falciparum gây nên, mắc bệnh ở độ tuổi lao động 

(24±  15),  phần  lớn  là  người  sống  ở  đồng  bằng,  có  lưu  hành  vùng  dịch  tể  sốt  rét.  Thể  lâm  sàng:  Thiếu  máu  nặng(73,33%), suy thận cấp (70,00%), thể não (46,66%). Điều trị bảo tồn nội khoa có hiệu quả cao, nhất là suy  thận cấp (21 bệnh nhân), điều trị Artesunate tỉnh mạch có hiệu quả thấp ở bệnh nhân sốt rét có biến chứng. Tỷ lệ  điều trị thành công (ACR) chỉ đạt 53,33%, nhưng có đến 6,66% thất bại điều trị, điều trị thất bại sớm (ETF)  23,33%, điều trị thất bại muộn (LTF) 16,66%. Kết hợp điều trị Arterakine khi Artesunat thất bại, hiệu quả là  làm sạch KSTSR trong máu. 

Từ khóa: Bệnh sốt rét biến chứng nặng, sốt rét do P.falciparum  

ABSTRACT 

SURVEY ON THE EFFICIENCY OF MANAGEMENT OF SEVERE AND COMPLICATED MALARIA 

AT ICU,PHU YEN GENERAL HOSPITAL,2012 

Le Phai* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 171 ‐ 176 

Objective: Observation of clinical features, laboratory and treatment, and evaluation of the effectiveness of 

Artesunate monotherapy in the treatment of severe and complicated malaria due to Plasmodium falciparum in  the intensive care department of Phu Yen Hospital, 2012. 

Subjects  and  Methods:  Retrospective,  descriptive  cross‐sectional  study  of  all  patients  with  confirmed 

* Khoa HSCC ‐ Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Phú Yên

Trang 2

diagnosis  of  severe  and  complicated  malaria  from  1‐1‐2012  to  30‐10‐1012.  Clinical  assessment  time  points:  baseline (D0) and on D1, D2, D3, D7, D14, D28. Data processing method biostatistics with SPSS 16.0 software. 

Results: Gender: male> female, mean age of men and women is almost similar (24 ± 15) location: plain > 

mountainous area. Clinical forms: anemia (73.33%), acute renal failure (70%), cerebral (46.66%), other minor  clinical forms: shock, hemorrhage, hemoglobinuria   The rate of 1 organ failure is prevalent (36.66%), however  16.66%  have  3  organs  failure  22/30  patients  (70.00%)  have  acute  renal  failure,  but  only  3  (19.04%)  have  hemodialysis. Average ≥ 2 units of fresh blood are transfused per patient (63.63%). Mean parasite density at D0: 

42 062 (< 50,000), but some has > 100,000 (33.33%) .After 12 hours parasite density decreased (2.52%), and  99.06% decrease compared to D0,on D4 parasite density was 228 and at D7 parasite remains (+) with parasite  density 11/μ l blood. After 3 days of treatment Artesunate cleans parasites in the blood of 76.66% patients and  93.33% have no fever after 48 hours. Treatment success rate (ACR) was only 53.33%, treatment failure 6.66%,  early  treatment  failure  (ETF)  23.33%,  late  treatment  failure  (LTF)  16.66%,  the  combined  treatment  with  Arterakine clean parasites in 2 patients still(+)at D7. 

Conclusion: 100% of serious and complicated malaria is due to P. falciparum, prevalent in labor age (24 ± 

15),  most  live  in  plains,  with  travel  in  malaria‐endemic  areas.  Clinical  forms:  Severe  anemia  (73.33%),  acute  renal failure (70.00%), cerebral (46.66%) .Conservative medical treatment is highly effective, especially in acute  renal  failure  (21  patients),  intravenous  artesunate  treatment  is  poorly  effective  in  patients  with  complicated  malaria .Treatment success rate (ACR) was only 53.33%, treatment failure 6.66%, early treatment failure (ETF)  23.33%,  late  treatment  failure  (LTF)  16.66%.  Combined  treatment  with  Arterakine  in  Artesunate  failure  is  effective in cleaning parasite. 

Key word: Severe complications of malaria, P. falciparum malaria 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sốt rét (SR) vẫn còn là vấn đề y tế công cộng, 

rất quan trọng và đe dọa tính mạng cộng đồng 

tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế 

giới. Ước tính hiện tại có khoảng 350‐500 triệu ca 

mắc mới và hơn một triệu ca tử vong do SR trên 

phạm vi toàn cầu hằng năm, phần lớn tập trung 

ở châu Phi và châu Á(10). 

Năm 2012 là năm khởi đầu thực hiện Chiến 

lược  quốc  gia  phòng  chống  và  loại  trừ  SR,  nên 

việc triển khai các biện pháp thực hiện cũng như 

xây dựng kế hoạch phòng chống và loại trừ cho 

năm  sau  (2013)  có  ý  nghĩa  quan  trọng  và  thiết 

thực(1).  Việc  chẩn  đoán  bệnh  SR  không  khó  khi 

xét  nghiệm  máu  có  ký  sinh  trùng  sốt  rét 

(KSTSR), tuy nhiên công tác điều trị không phải 

lúc  nào  cũng  thuận  lợi,  nhất  là  sốt  rét  ác  tính 

(SRAT).  Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới  (WHO)  đã  xây 

dựng  phương  pháp  đánh  giá  đáp  ứng  điều  trị 

áp  dụng  cho  tất  cả  các  cơ  sở  điều  trị  bệnh  SR. 

Phương pháp này chỉ cần theo dõi kết quả điều 

trị bệnh nhân trong thời gian 14 ngày vì hầu hết 

người  bệnh  SR  đều  sống  trong  vùng  SR  lưu  hành, có sự lây truyền tại chỗ(6). Nếu không thực  hiện quy trình đánh giá này, không thể nào biết  được việc điều trị thành công hay thất bại để có  biện  pháp  xử  trí  bổ  sung  một  cách  kịp  thời.  SRAT còn gọi là sốt rét nặng có biến chứng, do  Plasmodium falciparum gây ra. Bệnh thường có  những  biểu  hiện  lâm  sàng  rất  nặng,  gây  tổn  thương  não  và/hoặc  các  cơ  quan  quan  trọng  khác,  có  thể  đưa  đến  tử  vong  nếu  không  được  phát hiện sớm và điều trị kịp thời(6). 

Năm  2012  tại  khoa  HSCC  BV  tỉnh  Phú  yên  nhiều BN SR biến chứng nặng, (SRAT) có nhiều  đáp  ứng  điều  trị  bất  thường  so  với  các  năm  trước, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề 

tài: Khảo sát hiệu quả điều trị bệnh sốt rét biến 

chứng nặng tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện  Tỉnh Phú yên, năm 2012 với mục tiêu: 

‐ Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng  bệnh  SR  có  biến  chứng  nặng  và  các  biện  pháp  điều  trị  đã  áp  dụng  tại  khoa  Hồi  sức  cấp  cứu 

(HSCC). 

Trang 3

‐  Đánh  giá  hiệu  lực  phát  đồ  đơn  trị  liệu 

Artesunat trong điều trị SR do P. falciparum tại 

khoa HSCC Bệnh viện Phú yên năm 2012. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 

Địa điểm, thời gian nghiên cứu 

Khoa HSCC BV Phú yên, từ ngày 1‐1 đến 30‐

10‐1012. 

Đối tượng nghiên cứu 

BN được chẩn đoán xác định sốt rét có biến 

chứng  nặng  điều  trị  tại  khoa  HSCC  Bệnh  viện 

tỉnh Phú Yên, 

Cỡ mẫu nghiên cứu 

Lấy mẫu toàn thể, không xác xuất, n=30. 

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi cứu, cắt ngang mô tả. 

Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định sốt rét có biến 

chứng nặng 

Theo “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt 

rét”  của  BYT,  ban  hành  theo  Quyết  định  số: 

4605/QĐ‐BYT, ngày 24‐11‐2009(2). 

Tiêu chuẩn Phân loại đáp ứng điều trị 

Theo  WHO  (Classification  of  treatment 

outcomes WHO‐2005, 2007)  

Thuốc kháng sốt rét 

ARTESUNAT lọ, 60mg‐ sản xuất: Việt nam. 

Liều  giờ  đầu  2,4  mg/kg,  tiêm  nhắc  lại  1,2 

mg/kg vào giờ 12 (ngày đầu). Sau đó mỗi ngày 

tiêm 1 liều 1,2 mg/kg cho đến 7 ngày(2). 

Thuốc  điều  trị  kết  hợp  (khi  Artesunat  thất 

bại) 

ARTERAKINE  (gồm  2  thành  phần  là 

dihydroartemisinin  40mg  +  piperaquin 

phosphat 320mg)  

Liều  lượng  người  lớn:  ngày  1  (2x  2  viên), 

ngày 2 (2 viên), ngày 3 (2 viên)(2). 

Các phương pháp điều trị hổ trợ 

+ Chạy thận nhân tạo (suy thận) + Thở máy 

(tổn  thương  phổi)  +  Thuốc  Vận  mạch(trụy  tim 

mạch) + Các biện pháp hồi sức khác. 

Đánh giá thông số lâm sàng 

Đánh giá LS thực hiện vào các thời điểm: bắt  đầu  nghiên  cứu(D0  )  và  các  ngày  D1,  D2,  D3,  D7, D14, D28. 

Phân tích và xử lý số liệu 

Phương  pháp  thống  kê  y  học,  phần  mềm  SPSS 16.0 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 

Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Đặc điểm Giới tính Tuổi trung

bình

Nơi sinh sống Nam Nữ Nam Nữ Miền núi Đồng bằng

Số ca (n )

24 6 24±15 21±13 12 16

Tỷ lệ % 80% 20% 40% 60%

Bệnh  nhân  nam  >  nữ,  tuổi  trung  bình  giữa  nam  và  nữ  gần  như  nhau,  người  sống  ở  đồng  bằng mắc sốt rét có biến chứng nặng, sốt rét ác  tính nhiều hơn người sống ở miền núi. 

Bảng 2. Các thể lâm sàng 

nhân

Tổng

số cas

Tỷ lệ % Nam N

SRAT Thể não 11 3 14 46,66 Thiếu máu nặng 18 4 22 73,33 Suy thận cấp 19 2 21 70,00 SRAT Thể gan mật 6 2 8 26,66

Phù phổi cấp hoặc hội chứng suy hô hấp cấp

Hạ đường huyết 13 3 16 53,33 Đái huyết cầu tố 1 1 3,33

Toan chuyển hoá 1 1 3,33 Thể  lâm  sàng  thiếu  máu(  73,33%),  suy  thận  cấp (70,00%) chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là thể  sốt rét ác tính thể não (46,66%). 

Bảng 3. Số tạng tổn thương/bệnh nhân bị SRAT 

Số bệnh nhân 11 7 7 5

Tỷ lệ % 36,66 23,33 23,33 16,66

Số cơ quan bị tổn thương do sốt rét phần lớn 

là  1  cơ  quan,  tuy  nhiên  số  bệnh  nhân  bị  tổn  thương 3 cơ quan cũng khá cao (16,66%). 

Trang 4

Phương

pháp

Thận nhân

tạo

≤ 2 lần >2 lần NKQ Mask ≤ 2 đv >2 đv

Số BN áp

dụng

1/21

bn suy

thận

3/21

bn suy thận

2/4 bn tổn th, phổi

2/4 bn tổn th, phổi

8/22 bn th.máu

14/22

bn th.máu

Số BN có

bệnh lý

Tỷ lệ % 4,76 14,28 50 50 36,36 63,63

Tổng cộng 4/21 (19,04%) 4/4 (100%) 22/22 (100%)

Số  BN  suy  thận  cấp  khá  cao  (22/30  BN  = 

70,00%)  nhưng  lọc  máu  3  trường  hợp  (19,04%) 

BN  thiếu  máu  phần  lớn  là  thiếu  máu  nặng,  số 

lượng máu truyền ≥ 2 đơn vị máu. 

Bảng 5. Mật độ KSTSR Plasmonium falciparum khi 

nhập viện (D0) 

50.000 – 100.000 6 20,00

Mật độ KSTSR Trung bình ngày D0: 42.062

Mật độ KSTSR Trung bình ngày D0: 42.062 < 

50.000 nhưng số bệnh nhân có mật độ KSTSR > 

100.000 ( 33,33%) chiếm tỷ lệ khá cao 

Bảng 6. Hiệu lực cắt KSTSR P.falciparum của phát 

đồ dơn trị liệu Artesunate 7 ngày 

(Trị số trung bình của

n= 30)

Tỷ lệ % Giảm so với ngày D0

Sau 12 giờ mật độ KSTSR giảm rất ít (2,52%), 

nhưng  giảm  đến  99,06%  so  với  ngày  D0,  ngày 

thứ 4 mật độ KSTSR (trung bình) vẫn còn 228 và 

đến ngày thứ 7 KSTSR vẫn còn(+) với mật độ 11 

KSTSR/μl máu 

Bảng 7. Tỷ lệ Sạch KSTSR P. falciparum của phát đồ 

dơn trị liệu Artesunate 7 ngày 

Sau 3 ngày điều trị Artesunate số bệnh nhân  sạch  KSTSR  trong  máu  chiếm  76,66%  đạt  tỷ  lệ  khá cao, tuy nhiên tù ngày thứ 4‐7 vẫn còn bệnh  nhân chưa sạch KSTSR, đặc biệt có 2 trường hợp  đến ngày thứ 7 vẫn còn KSTSR trong máu 

Bảng 8. Hiệu lực cắt Sốt của phát đồ dơn trị liệu 

Artesunate 7 ngày 

(37-37 0 5 C)

Tỷ lệ %

Sau 24 giờ (1ngày) 8 26,66

Sau 48 giờ (2ngày) 28 93,33

Sau 72 giờ (3ngày) 30 100,00 Sau  48  giờ,  Artesunate  đã  cắt  sốt  được  93,33%, nhưng đến 72 giờ mới hết sốt hẳn 

Bảng 9. Tỷ lệ đáp ứng của Plasmodium Falciparum 

với Artesunate đơn trị liệu: 

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Đáp ứng lâmsàng, KST 16 53,33

Tỷ lệ thất bại điều trị (TF)-tử vong 2 6,66 Điều trị thất bại sớm (ETF) 7 23,33 Điều trị thất bại muộn (LTF) 5 16,66

Tỷ  lệ  điều  trị  thành  công  chỉ  đạt  53,33%,  nhưng có đến 6,66% thất bại điều trị và thất bại  điều trị muộn đến 16,66% 

BÀN LUẬN  Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

BN  nam>  nữ,  tuổi  trung  bình  giữa  nam  và 

nữ gần như nhau, người sống ở đồng bằng mắc 

SR có biến chứng nặng, SRAT nhiều hơn người  sống ở miền núi, vì đa số là nam giới ở độ tuổi  lao động (24±15 tuổi), vùng dịch tể SR và thường 

bị SRAT do chưa có miễn dịch, khi bị SR lần đầu  (ở đồng bằng > miền núi). 

Thể lâm sàng 

Thiếu  máu(73,33%),  suy  thận  cấp  (70,00%)  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất,  sau  đó  là  SRAT  thể  não 

Trang 5

(46,66%).  Ngoài  ra  các  thể  lâm  sàng  như:  sốc, 

xuất  huyết,  đái  huyết  cầu  tố…  có  tỷ  lệ  thấp. 

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt 

rét  được  ban  hành,  kèm  theo  Quyết  định  số 

4605/QĐ‐BYT ngày 14/11/2009 của Bộ trưởng Bộ 

Y  tế,  để  điều  trị  sốt  rét  ác  tính  có  hiệu  quả  cần 

đồng thời thực hiện việc điều trị bằng thuốc sốt 

rét đặc hiệu có hiệu lực cao kết hợp với việc điều 

trị  hỗ  trợ.  Trong  điều  trị  đặc  hiệu,  sử  dụng 

thuốc artesunate tiêm  hoặc quinine 

dihydrochloride tiêm  để  tiêm  truyền  theo  đúng 

phác  đồ  điều  trị  quy  định,  và  điều  trị  hỗ  trợ  là 

cần  thiết(2).  Vì  phần  BN  thiếu  máu  nặng,  nên 

lượng máu truyền là khá lớn, bên cạnh đó số BN 

bị suy thận cấp do SR là khá cao (70%), có lẽ là 

do  sốt  cao,  nôn,  không  ăn  uống  được  làm  cho 

lượng nước mất nhiều mà không  được  bù,  bên 

cạnh  đó  còn  do  tắc  ống  thận  do  bệnh  lý  của 

KSTSR gây nên. Tuy nhiên, chỉ có 3 BN /21 BN 

suy thận cấp phải chạy thận nhân tạo, còn lại đa 

số  là  điều  trị  bằng  nội  khoa,  đây  là  một  yếu  tố 

khá quan trọng, nếu chú ý và có kế hoạch theo 

dõi  cũng  như  áp  dụng  phương  pháp  điều  trị 

thích hợp thì đem lại kết quả cao trong việc phục 

hồi chức năng thận. 

Mật  độ  Ký  sinh  trùng  sốt  rét  Plasmonium 

falciparum khi nhập viện(D0) 

Mật  độ  KSTSR  không  hẳn  là  yếu  tố  quyết 

định mức độ nặng của bệnh, nhưng theo WHO 

thì Mật độ KST > 100.000/μl máu hoặc tỷ lệ hồng 

cầu nhiễm > 5% ở những BN chưa có miễn dịch 

với SR (≥ 20% ở các người bệnh có miễn dịch SR) 

và  xuất  hiện  thể  phân  liệt  (Schizont)  ở  máu 

ngoại  vi  là  cảnh  báo  mức  độ  nặng(6),  ở  nghiên 

cứu của chúng tôi thì mật độ KSTSR trung bình 

ở  ngày  đầu  nhập  viện  (D0):  42.062  <  50.000 

nhưng  số  BN  có  mật  độ  KSTSR  >  100.000 

(33,33%) chiếm tỷ lệ khá cao, đây là số BN diễn 

biến phức tạp và ở một BN có nhiều biến chứng 

do KSTSR gây nên. Do đó mật độ KSTSR trong 

ngày  đầu  nhập  viện  cũng  là  yếu  tố  tiên  lượng 

nặng của bệnh. 

Hiệu lực cắt KSTSR P.falciparum và cắt sốt 

của phát đồ dơn trị liệu Artesunate 7 ngày 

Artesunate  là  một  trong  những  thuốc  điều  trị  sốt  rét  đầy  hứa  hẹn  trong  phòng  chống  sốt  rét(8).  Tuy  nhiên,  nhiều  nghiên  cứu  đã  chứng  minh  tỷ  lệ  tái  phát  sớm  cao  của  KSTSR  khi  sử  dụng  artesunate  đơn  trị  liệu  5  ngày  (30‐50%)  ở  nghiên cứu của Nguyễn mai Hương, Trần Quốc  Toản,  Lê  Kim  Liên  và  CS  (2008),  trong  nghiên  cứu của Trần tuấn bạch Vân, điều trị sốt rét chưa  biến  chứng  bằng  artesunate  đơn  trị  liệu  7  ngày  thì kết quả tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và KST đầy 

đủ  (ACRP)  92,31%,  tỷ  lệ  thất  bại  KSTSR  muộn/tái phát sớm (LPF) 7,69%(5). 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi:  có  7BN/30BN  (23,34%)  mặc  dù  hết  sốt  nhưng  vẫn  còn KSTSR trong máu ở ngày thứ 3 (D3), đây là  một vấn đề cần quan tâm, xem xét đánh giá có  phải là KSTST kháng thuốc?. Đặc biệt có 2 bệnh  nhân  đã  hết  sốt  ngày  thứ  3  nhưng  KSTSR  vẫn  tồn  tại  trong  máu  sau  7  ngày  (âm  tính  ở  ngày  thứ 9)‐ hiệu lực cắt KSTSR của artesunate ở bệnh  nhân  SR  nặng  có  biến  chứng  đạt  tỷ  lệ  99,32%,  nhưng đạt 100% ở bệnh nhân SR không có biến  chứng  nặng‐  Khi  đến  ngày  thứ  7,  2  bệnh  nhân  vẫn còn KSTSR trong máu, lúc này mới điều trị  kết  hợp  Arterakine  thì  sạch  được  KSTSR  trong  máu, theo Nguyễn Võ Hinh: “Nhiều nghiên cứu  gần  đây  khẳng  định  sự  phối  hợp  dihydroartemisinin và piperaquin là một điều trị 

có hiệu quả và an toàn đối với các thể sốt rét kể 

cả  sốt  rét  do  P.falciparum  đa  kháng  tại  Việt  Nam”(2). Như vậy, có thể kết hợp Arterakin vào  ngày  thứ  5  được  không?  Đây  là  vấn  đề  cần  nghiên cứu. 

Tỷ lệ đáp ứng của Plasmodium Falciparum 

với Artesunate đơn trị liệu 

Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới  (WHO)  đã  xây  dựng  phương  pháp  đánh  giá  đáp  ứng  điều  trị  áp  dụng  cho  tất  cả  các  cơ  sở  điều  trị  bệnh  SR.  Phương pháp này chỉ cần theo dõi kết quả điều  trị bệnh nhân trong thời gian 14 ngày vì hầu hết  người  bệnh  SR  đều  sống  trong  vùng  SR  lưu  hành, có sự lây truyền tại chỗ(6,7). 

Trang 6

Trong  báo  cáo  của  Bộ  Y  tế.  ngày  17‐  10‐ 

2012:”Bệnh SR đã được đẩy lùi và giảm thấp ở 

nhiều địa phương, nơi dịch lưu hành trước đây. 

Năm 2006, số mắc SR là 108,9/100.000 dân, đến 

năm 2010 còn 62,0/100.000 dân (trên 27% dân số 

toàn quốc sống trong vùng SR lưu hành), giảm 

83,9%  so  với  năm  2000  (293.016  người),  Tỷ  lệ 

chết  do  SR  /100.000  dân  là  0,02,  giảm  89,5%  so 

với năm 2000 (148 người), tỷ lệ nhiễm KSTSR là 

20/100.000 dân. Trung bình giai đoạn 5 năm tỷ lệ 

mắc  /100.000  dân  là  52,9;  tỷ  lệ  chết/100.000  dân 

là 0,014(1). 

Trong nghiên cứu của chúng tôi: Tỷ lệ điều 

trị  thành  công  chỉ  đạt  53,33%,  nhưng  có  đến 

6,66% thất bại điều trị và thất bại điều trị muộn 

đến  16,66%.  Như  vậy,  việc  đánh  giá  theo  dõi 

trong quá trình điều trị là hết sức cần thiết, trong 

điều trị SR có biến chứng nặng tỷ lệ thành công 

thấp khá nhiều so với việc điều trị bệnh sốt rét 

không có biến chứng, tỷ lệ tất bại điều trị 6,66% 

(2BN/30BN)  là  2  trường  hợp  tử  vong  do  SRAT 

có suy đa tạng. 

KẾT LUẬN 

Qua 30 BN sốt rét nặng có biến chứng do P. 

falciparum  được  điều  trị  bằng  phác  đồ  đơn  trị 

liệu  Artesunate  thuốc  tiêm,  tại  khoa  HSCC  BV 

Phú yên, chúng tôi có kết luận như sau: 

Sốt rét có biến chứng nặng 100% do KSTSR 

P.falciparum  gây  nên,  độ  tuổi  mắc  bệnh  là  độ 

tuổi lao động (24 ± 15), phần lớn là người sống ở 

đồng bằng, có lưu hành vùng dịch tể sốt rét. Các 

thể  lâm  sàng  là:  Thiếu  máu  nặng  (73,33%),  suy 

thận  cấp  (70,00%),  sốt  rét  ác  tính  thể  não 

(46,66%).  Ngoài  ra  các  thể  lâm  sàng  như:  sốc, 

xuất huyết, đái huyết cầu tố… có tỷ lệ thấp, các 

cơ  quan  tổn  thương  phần  lớn  là  2  cơ  quan, 

nhưng  số  bệnh  nhân  tổn  thương  >  3  cơ  quan  cũng nhiều. 

Điều  trị  bảo  tồn  nội  khoa  có  hiệu  quả  cao,  nhất là suy thận cấp (21 BN), nhưng chỉ có 4 BN  phải chạy thận nhân tạo (4/21 ~ 19,04%). 

Phác  đồ  đơn  trị  liệu  Artesunate  tỉnh  mạch, 

có  hiệu  quả  thấp  ở  BN  sốt  rét  có  biến  chứng  nặng,  nhất  là  SRAT:  Tỷ  lệ  điều  trị  thành  công:  53,33%; thất bại điều trị: 6,66% ;điều trị thất bại  sớm: 23,33%; điều trị thất bại muộn: 16,66%. Kết  hợp  điều  trị  Arterakine  khi  Artesunat  thất  bại,  hiệu quả là làm sạch KSTSR trong máu. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Y Tế (2012) “Báo cáo Tình hình các bệnh truyền nhiễm gây dịch 

và các giải pháp phòng, chống”‐ Bộ Y tế báo cáo Phó Thủ tướng 

Chính phủ,. 

2 Bộ  Y  tế,  (2009) ”Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt rét”,  theo 

Quyết định số 4605/QÐ‐BYT của Bộ Y tế,  

3 Nguyễn  Võ  Hinh  (2009) “Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc và  sốt rét điều trị không đáp ứng”‐ Y học thực hành số 724, 

4 Sốt  rét‐những  thông  tin  mới  nhất  trên  thế  giới  Nguồn  từ: 

http://www.impe‐qn.org.vn 

5 Trần Tuấn Bạch Vân (2009) “ So sánh hiệu lực điều trị sốt rét do  Plasmonium falciparum chưa biến chứng  của  artesunate  và  thuốc  phối  hợp  Dihydroartemicine  với  Piperaquine  ở  xã  phước  chiến  huyện thuận bắc tỉnh Ninh Thuận‐ Yhọc thực hành số 789‐790, 

6 WHO  (2011),Guidelines  for  the  treatment  of  malaria,  second 

edition. 

7 WHO,World Malaria Report 2011  

8 Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn (2011) “Một số điểm mới trong 

nghiên cứu chẩn đoán và điều trị sốt rét trên thế giới và Việt Nam” 

– bài tập huấn công tác PCSR miền trung –tây nguyên. 

9 Viện Sốt rét‐KST‐CT Quy Nhơn (2008), Đánh giá kết quả PCSR  2001‐2008.  Định  hướng  kế  hoạch  PCSR  (2009‐2013),  khu  vực  Miền  trung  và  Tây  nguyên”,  Hội  nghị  PCSR  khu  vực  Miền 

Trung‐Tây nguyên. 

10 Viện Sốt rét ‐ KST ‐ CT TP. Hồ Chí Minh (2011)‐ Báo cáo sơ  kết công tác PCSR 6 tháng đầu năm và triển khai kế hoạch 6  tháng cuối năm 2011, khu vực Nam Bộ ‐ Lâm Đồng. 

 

Ngày nhận bài báo      01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:  01‐8‐2013 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w