1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sử dụng cầu nối mạch máu tạm tự chế trong xử trí các chấn thương chi có tổn thương mạch máu

7 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 353,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tiến hành nhằm làm rõ vấn đề sau :Ứng dụng cầu nối mạch máu tạm tự chế trong xử trí chấn thương chi có tổn thương mạch máu nhằm hạn chế thấp nhất thời gian thiếu máu của chi thể do việc tổn thương mạch máu gây ra, nhanh chóng cung cấp máu cho chi thể đã bị thiếu máu trong khoảng thời gian có thể gây hoại tử phần chi mà mạch máu tổn thương chi phối, góp phần làm giảm tỷ lệ cắt cụt chi. Cầu nối mạch máu tạm được thiết kế để có thể hút máu từ động mạch phía trên vùng thương tổn và bơm cho động mạch dưới chỗ tổn thương.

Trang 1

SỬ DỤNG CẦU NỐI MẠCH MÁU TẠM TỰ CHẾ TRONG XỬ TRÍ

CÁC CHẤN THƯƠNG CHI CÓ TỔN THƯƠNG MẠCH MÁU

Trịnh Công Bình*, Vũ Hữu Vĩnh**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Ứng dụng cầu nối mạch máu tạm (CNMMT) tự chế trong xử trí chấn thương chi có

tổn thương mạch máu (CTCCTTMM) nhằm hạn chế thấp nhất thời gian thiếu máu của chi thể do việc tổn thương mạch máu gây ra, nhanh chóng cung cấp máu cho chi thể ñã bị thiếu máu trong khoảng thời gian có thể gây hoại

tử phần chi mà mạch máu tổn thương chi phối, góp phần làm giảm tỷ lệ cắt cụt chi CNMMT ñược thiết kế ñể có thể hút máu từ ñộng mạch phía trên vùng thương tổn và bơm cho ñộng mạch dưới chỗ tổn thương

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, thống kê ngẫu nhiên và so sánh các ca bệnh CTCCTTMM ñược can

thiệp phẫu thuật tại BV Chợ Rẫy từ tháng 6/2005 ñến tháng 9/2009 có dùng CNMMT do cùng một nhóm phẫu thuật viên thực hiện so sánh với nhóm không ñược dùng CNMMT

Kết quả: Có 39 ca CTCCTTMM ñã ñược xử trí phẫu thuật có dùng CNMMT Trong ñó có 32/39 ca ñạt kết

quả tốt và khá, chi thể ñược bảo tồn, chiếm 82,1% Có 7/39 ca có kết quả xấu, phải cắt cụt chi, chiếm 17,9% Không có trường hợp nào tử vong Trong khi ñó, ở không xử dụng CNMMT tổng số có 32 ca, trong ñó có 11 ca cắt cụt (34,4%)

Kết luận: Sử dụng CNMMT trong xử trí CTCCTT MM cho thấy có hiệu quả trong việc làm ngắn thời gian

thiếu máu chi, ñặc biệt trong trường hợp bệnh nhân tới trễ (thời gian vàng sắp hết) hoặc các trường hợp tổn thương nặng phức tạp ñòi hỏi việc xử trí cần nhiều thời gian Điều này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn chi thể, rất nên ñược ứng dụng rộng rãi

Từ khóa: Cầu nối mạch máu, chấn thương chi, tổn thương mạch máu hoàn toàn

ABSTRACT

APPLYING TEMPORARY ARTERIAL INTERNAL SHUNT IN MANAGEMENT OF EXTREMITY TRAUMA

WITH COMPLETE VASCULAR INJURY

Trinh Cong Binh, Vu Huu Vinh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 2 - 2010: 30 - 36

Objective: Applying temporary arterial internal shunt in extremity trauma with complete vascular injury

surgery could reduce the duration of distance ischemia The shunt could quickly supply blood to distance part of the injured extremity that has been suffering from long time of ischemia or needs time to repair other complicated injuries The shunt could be made by any available tube or catheter in the operating room This could be sucked and pumped to push blood from the proximal part of the damaged artery above the injured area to the distance one

Method: Retrograded and comparative review patients who suffered from extremity trauma with vascular

injuries into two groups, one with temporary shunt and other without shunt before repairing injuries

Result: From June 2005 to September 2009 there are 39 cases of extremity trauma with complete vascular

injury, which has been operated by the same surgeons using temporary arterial internal shunt Of that 32 cases (82.1%) showed excellence and good result, the extremities were repaired well and functions were restored post-operatively There were 7 cases (17.9%) that showed bad result with eventual amputation Mortality is rezo In the group without using shunt, total cases were 32, in which, 11 cases were amputated (34.4%)

Conclusion: Using temporary arterial internal shunt is effective and could contribute to the good outcome of

extremity trauma with complete vascular injury repair It could shorten the ischemia duration of the injured extremity that has come to hospital late It also showed effectiveness in complicated injury that need long time to repair This should be applying widely in as many medical facilities as possible

Keywords: Temporary arterial internal shunt, extremity trauma, complete vascular injury

thương chỉnh hình Nguyên nhân thường thấy là tai

* Khoa chấn thương chỉnh hình, BV Chợ Rẫy, ** Khoa ngoại Lồng ngực-mạch máu, BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: BSCKII Trịnh Công Bình, ĐT: 0903635766, Email: binh_hai_duc@yahoo.com

Trang 2

nạn lưu thơng (TNLT), tai nạn lao động (TNLĐ), tệ

nạn đâm chém… đang là nỗi bức xúc trong xã hội

Để lại hậu quả nặng nề như giảm thiểu chức năng

chi, đoạn cụt chi, đơi khi tử vong nếu việc điều trị

khơng đúng và chậm trễ

Cần cĩ một quy trình điều trị hiệu quả loại tổn

thương CTCCTTMM, trong đĩ vai trị sử dụng

CNMMT là rất cần thiết

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Các trường hợp CTCCTTMM cịn khả năng

sống

- Thời gian thiếu máu chi dài (sắp hết thời gian

vàng: 6h – 8h)

- Những CTCCTTMM phức tạp cần nhiều thời

gian xử trí

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu 39 ca CTCCTTMM được ứng dụng

CNMMT trong quá trình xử trí từ tháng 6-2005 đến

tháng 9-2009 tại khoa chấn thương chỉnh hình BV

Chợ Rẫy

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tổn thương mạch máu phối hợp với gãy xương

hay trật khớp cĩ thể gây hậu quả nặng nề nếu việc xử

trí khơng đúng hoặc chậm trễ, biến chứng của tổn

thương này thường là nhiễm khuẩn, tắc mạch gây hoại

tử chi dẫn đến cắt cụt, đơi khi là tử vong Tổn thương

mạch máu chi cĩ khi là hậu quả của vết thương đâm

xuyên bởi súng và dao hay TNLT, TNLĐ… tổn

thương cịn cĩ thể do sai sĩt của thầy thuốc trong quá

trình chẩn đốn điều trị, hay vận chuyển bệnh nhân

Điều quan trọng: người phẫu thuật viên chấn thương

phải được đào tạo để đánh giá được tổn thương mạch

máu phối hợp với gẫy xương hay trật khớp, vì họ

thường là người đầu tiên khám bệnh nhân Chẩn đốn

tổn thương mạch, ngồi các dấu hiệu lâm sàng, siêu

âm Doppler, chụp động mạch vẫn là tiêu chuẩn vàng

để phát hiện thương tổn, đặc biệt trong những ca khĩ

như vị trí tổn thương khơng rõ ràng, khả năng cĩ

nhiều vị trí bị tổn thương tuy nhiên việc chụp mạch

máu khơng được làm quá chậm phẫu thuật một khi

tổn thương mạch đã rõ(4), cĩ thể điều trị chẩn đốn

bằng mổ thám sát

Cĩ 5 loại tổn thương mạch máu: 1- Tạo các mảng

nội mạc 2- Rách nội mạc tạo tụ máu dưới nội mạc 3-

Rách thành mạch 4- Đứt rời mạch máu 5- Thơng

động tĩnh mạch(10) Tùy loại tổn thương mạch trên với

cơ chế chấn thương đụng dập hay cắt gọn sẽ đưa đến

tình trạng thiếu máu chi nhanh hay chậm, nặng hay

nhẹ Mạch máu bị tổn thương thường ờ những vùng

đi sát với xương hoặc nằm kẹp trong giữa các khối cơ lớn hay dây chằng với xương động mạch đùi thường

bị tổn thương ở vùng ống đùi sau khi chui qua ống cân cơ khép để tạo động mạch khoeo, nĩ song hành với tĩnh mạch đùi chạy chéo qua mặt sau gối, quyện chặt lấy nhau trong khe các cân vùng khoeo vì lý do này mà khi chấn thương vùng gối như gẫy liên lồi cầu đùi, mâm chày hoặc trật khớp gối ra sau dễ đưa đến nguy cơ tổn thương mạch khoeo, sự mất lưu thơng máu đột ngột vùng này với các nhánh bên ít phần mềm thường khơng bù đắp được, đặc biệt trong chấn thương đụng dập nặng càng dẫn đến nguy hiểm(7)

Cĩ sự khác biệt đáng kể về tuần hồn bàng hệ giữa chi trên và chi dưới, chi trên phong phú hơn nên

ít dẫn tới cắt cụt hơn cĩ rất ít động mạch ở chi thể khơng thể thắt được, tuy nhiên khi cĩ thêm tổn thương phần mềm nhiều thì nguy cơ thiếu máu sau tắc mạch càng tăng lên Quan điểm hiện nay là nên cố gắng phục hồi mạch máu bị tổn thương với nối trực tiếp (< 2cm), ghép mạch tự thân hoặc nhân tạo trong chấn thương đụng dập cĩ tổn thương mạch máu với phục hồi bằng ghép mạch tự thân là tốt nhất(4)

Trang 3

Trong CTCCTTMM, vấn đề phục hồi lưu thơng máu là quan trọng nhất, nên việc sử dụng

CNMMT để nuơi dưỡng chi trong nhiều trường hợp thật sự cần thiết, quyết định sự thành bại của điều

trị như chấn thương tới trễ hay quá trình xử trí phức tạp mất nhiều thời gian Eger và CS lần đầu tiên

báo cáo việc sử dụng CNMMT trong xử trí CTCCTTMM vào năm 1971 tại BV Quân Đội Mỹ, trãi

qua hơn 30 năm rút kinh nghiệm và phát triển việc ứng dụng CNMMT đã cĩ nhiều bước tiến vượt bậc

đạt được kết quả mỹ mãn Carrel là người đầu tiên dùng CNMMT nghiên cứu trên động vật, tiếp đĩ

năm 1915 Tuffer trong thế chiến thứ I đã dùng ống bạc tráng parafin làm CNMMT trong xử trí

CTCCTTMM của thương binh, sau đĩ dùng ống thuỷ tinh, rồi ống nhựa tráng Silicon CNMMT được

ghi nhận sử dụng nhiều tại hai cuộc thế chiến, tuy nhiên khơng được tổng kết và báo cáo(9) Ngày nay

những CNMMT chuyên dụng Pruit-Inahara hoặc bất cứ loại ống nào cĩ sẵn tại phịng mổ cĩ kích cỡ

tương đương, với tính chất mềm, đầu thon láng khơng gây tổn thương nội mạc mạch máu được ứng

dụng nhằm nhanh chĩng cung cấp máu cho phần chi bị tổn thương(1)

Cố định ngồi bất động xương gẫy là phù hợp cho việc bất động chi trong loại tổn thương này,

bởi tính chất thương tổn: chi thiếu máu nuơi, vết thương để hở, vết thương nhiễm bẩn nặng… cĩ thể

phải phối hợp thêm với nẹp bột (khơng được bĩ bột trịn) để bất động khớp

PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Thực hiện theo 3 bước sau khi chẩn đốn được cĩ tổn thương mạch máu trong chấn thương chi,

với chỉ định:

- Chấn thương tới trễ (gần hết thời gian vàng 6-8h)

- Chấn thương phức tạp (việc xử trí khĩ khăn, mất nhiều thời gian)

- Chi cịn khả năng sống (với dấu hiệu lâm sàng) hoặc qua mổ thám sát

Bước 1: phẫu thuật chấn thương (PTCT)

- Mở cân mạc các khoang chi phía dưới thương tổn để đánh giá khả năng sống của cơ với 5 dấu

CNMM tạm - BVCR

CNMM tạm Pruit-Inahara

Một kiểu CNMM tạm

Trang 4

hiệu (5C: Color - Màu sắc, Cold - Lạnh, Consistency - Mật ñộ, Contractibility - Co cơ, Capacity of

bleeding - Máu chảy) Nếu cơ còn sắc ñỏ, ấm, mật ñộ chắc, có phản xạ co cơ và khi cắt có máu chảy

là tình trạng cơ còn khả năng sống

- Tiến hành ñặt cầu nối mạch máu tạm tự chế sau khi xử lý 2 ñầu ñộng mạch bị tổn thương: cắt bỏ

phần dập nát, lấy máu cục, chống ñông… Cầu nối tạm của chúng tôi ñược làm với 2 phần ống

Feeding (với nhiều loại kích cỡ phù hợp với kích thước của mạch máu) nối kết với 1 chạc 3 có gắn 1

bơm tiêm, có khả năng hút máu từ phía trên bơm xuống phần dưới hoặc ñể dòng chảy tự do và dễ

dàng kiểm soát ñược việc lưu thông máu

- Cắt lọc vết thương và cố ñịnh xương gãy bằng dụng cụ cố ñịnh ngoài hoặc trong tạo thuận lợi

cho việc phục hồi mạch máu CNMMT vẫn ñược duy trì trong suốt quá trình này, ñánh giá lại tình

trạng cơ nếu còn tốt  xử trí tiếp

Gãy ñùi - tổn thương ñộng mạch ñùi

Gãy mâm chày – tổn thương ñộng mạch khoeo

Bước 2: phẫu thuật mạch máu (PTMM) (phục hồi lưu thông máu)

Việc phục hồi lưu thông máu ñược tiến hành ngay sau khi hoàn tất việc cắt lọc và cố ñịnh chi với

2 phương thức: nối tận-tận hoặc ghép mạch tự thân ñược thực hiện bởi các nhà phẩu thuật chuyên về

mạch máu

Bước 3: phẫu thuật chấn thương (PTCT)

Tiến hành cắt lọc lại vết thương phục hồi cấu trúc phần mềm như thần kinh, gân, cơ…Tiếp ñó che

phủ xương mạch máu và dẫn lưu triệt ñể vết thương vết thương luôn ñược ñể hở ñể tránh gây chèn ép

ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng chi

SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ

Số liệu

Trang 5

Nguyên nhân

TNLT 26/39 ca (66,6%) TNLĐ 6/39 ca (15,4%) Đâm chém 7/39 ca (18%)

Vị trí

Chi trên 10/39 ca (25,6 %) vùng gối 21/39 ca (53,8 %) chi dưới khác 8/39 ca (20,5 %)chi dưới

29/39 ca (74,3 %)

Thời gian

Trước mổ: sớm nhất 215’ (phút), trễ nhất 1800’, trung bình 600’ trong mổ: nhanh nhất 120’, lâu

nhất 360’, trung bình 215’

Phục hồi mạch máu: nối tận-tận 17/39 ca (43,6 %), ghép mạch tự thân 22/39 ca (56,4 %)

Bất động chi: cố định ngồi 21/39 ca (53,8%), cố định trong 18/39 ca (46,2 %)

Kết quả

Tốt (chi sống hồn tồn 22/39 ca (56,4%) khá (mất một vài nhĩm cơ) 10/39 ca (25,6%) xấu

(đoạn cụt chi) 7/39 ca (17,9%) bảo tồn được chi 32/39 ca (82,1%)

BÀN LUẬN

Nguyên nhân

TNLT 25/39 ca (64,1%) chiếm gần 2/3 số ca CTCCTTMM, đang là nỗi bức xúc trong xã hội gây

tổn hại nhiều cho sức khoẻ cũng như chi phí tốn kém TNLĐ và tệ nạn đâm chém là hai nguyên nhân

tiếp theo, cần giĩng chuơng cảnh báo cho các nhà quản lý lao động và xã hội

Chẩn đốn

Từ nguyên nhân cơ chế chấn thương cần sớm nhận biết được CTCCTTMM, đặc biệt nơi

vùng gối với tổn thương động mạch khoeo mức độ nặng và phức tạp của vết thương đụng dập

hay chặt chém để cĩ thái độ xử trí đúng và kịp thời

Thời gian

Trước mổ: (Bao gồm 1 – Thời gian từ lúc bị tai nạn tới khi nhập cấp cứu, 2 – Thời gian trong cấp

cứu, 3 – Thời gian từ lúc được chỉ định phẫu thuật tới khi được chuyển tới phịng mổ và 4 – Thời gian

chờ đợi tại phịng mổ đến khi được mổ) Sớm nhất 215’, lâu nhất 1800’, trung bình 600’ (tại cấp cứu

BVCR trung bình 270’) Tác giả Srius Sadaporns – Thái Lan(8): sớm nhất 120’, lâu nhất 450’, trung

bình 390’  Cho thấy rất cần sự quan tâm đúng mức loại tổn thương này trong hệ thống cấp cứu y tế,

đặc biệt nơi cĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình Nhĩm 32 ca khơng sử dụng cầu nối tạm tại

BVCR thời gian trung bình trước mổ 1206’

Trong mổ: nhanh nhất 120’, dài nhất 360’, trung bình 215’ tại BVCR, tác giả srius sadaporns:

225’, 360’, 285’, thời gian chuẩn bị đặt cầu nối 30’, thời gian lưu giữ cầu nối tạm 60 – 180’  tương

đương nhau Nhĩm 32 ca khơng sử dụng cầu nối tạm tại BVCR thời gian trung bình trong mổ 236’

Các bước thực hiện

Chúng tơi cố gắng tổ chức quy trình xử trí CTCCTTMM qua 3 bước: PTCT – PTMM – PTCT

với sự phối hợp của 2 chuyên khoa ngoại chấn thương chỉnh hình và ngoại lồng ngực mạch máu để

phát huy thế mạnh của mỗi chuyên khoa với sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ để đạt được kết quả tốt

Cầu nối mạch máu tạm

Từ thực tiễn và với lý thuyết, qua nhiều năm nay tại BVCR chúng tơi cấp cứu nhiều ca

CTCCTTMM từ tháng 6-2005 tới nay, nhĩm chúng tơi ứng dụng CNMMT tự chế trong quá trình

xử trí loại tổn thương này Qua 4 thế hệ cầu nối: thế hệ 1 - một đoạn ống Feeding (nhược điểm:

đầu ống cắt ra dễ gây tổn thương nội mạc mạch máu), thế hệ 2 - hai ống Feeding (nhược điểm:

cầu nối quá dài giảm tốc độ dịng chảy), thế hệ 3 – hai đoạn ống Feeding (khĩ kiểm sốt dịng

chảy), thế hệ 4 – hiện nay: hai đoạn ống Feeding kết nối với 1 chạc 3 gắn kết với 1 bơm tiêm cĩ

khả năng hút máu phía trên bơm xuống phía dưới hoặc để tự chảy, dễ kiểm sốt lưu thơng máu

CNMMT chuyên dùng của Pruit – Inahara hiện tại BVCR chưa cĩ, giá hơi đắt (60 USD)

Trang 6

Phục hồi mạch máu

17/37 ca (45,9%) nối tận-tận tại BVCR cho thấy chưa phù hợp với loại tổn thương

CTCCTTMM mà nguyên nhân với cơ chế chấn thương ña số là ñụng dập nặng tác giả Srius

Sadaporns 6/7 ca ghép mạch tự thân Nhóm 32 ca không sử dụng cầu nối tạm 24/32 ca nối tận -

tận (75%)(8)

Kết quả

Năm 1949 Miler và CS thử nghiệm ở chó cho thấy: 90% chi sống khi thiếu máu ≤ 6h, 50% sống

từ 12 – 18h, và 20% sống từ 24 – 30h Tốt nhất thời gian trước 6 – 8h thiếu máu(9)

Sử dụng CNMM tạm trong xử trí CTCCTTMM cho thấy cải thiện việc nuôi dưỡng chi chấn

thương, qua ñánh giá tình trạng cơ trước khi ñặt cầu nối với trước khi phục hồi lưu thông mạch máu

Trước ñây, khi chưa sử dụng CNMMT tình trạng cơ lúc ñầu còn tốt, sau khi cắt lọc, cố ñịnh xương

gẫy, chuẩn bị phục hồi mạch máu, kiểm tra lại tình trạng cơ, nhiều khi cơ ñã chết Trong những trường

hợp thất bại với số liệu của chúng tôi, nguyên nhân do tắc mạch, nhiễm khuẩn làm hoại tử chi và

thường ở những ca với tính chất dập nát nặng, có nhiều vị trí thương tổn ở một chi hoặc xảy ra ở các

trường hợp phục hồi mạch máu bằng nối tận-tận

Nhóm bệnh không sử dụng CNMM tạm: tại BVCR qua số liệu từ 6/2008 ñến 6/2009 với 32/152

trường hợp tổn thương mạch có chỉ ñịnh ñặt cầu nối tạm: Vị trí: chi trên: 8 ca (25,6%), vùng gối: 15 ca

(48%), chi dưới khác: 9 ca (26,4%) Thời gian: Trước cấp cứu BVCR: Trung bình 1206’, trong cấp

cứu BVCR: 270’, mổ: 236’ Phục hồi mạch máu: Nối tận – tận 24/32 ca (75%) Kết quả: 11 ca cắt cụt

(34,4%.) Denis 19% cắt cụt khi chấn thương gối có tổn thương mạch khoeo, Kendall: 6,7% cắt cụt

khi thiếu máu < 6h và 33% cắt cụt khi > 6h, Hoover: 75% cắt cụt khi chấn thương gối có tổn thương

mạch khoeo, Green và Allen 86% cắt cụt sau 8h, Caudle & Stern: 78% cắt cụt gẫy hở ñộ 3c chi dưới

do dập nát nặng Debatkey và Simeon (1946) trong thế chiến thứ II tổng kết 35,8% cắt cụt trong tổng

số 2471 ca tới trước 12h(2)

Nhóm bệnh sử dụng CNMM tạm: Hughes (1954): Trong chiến tranh Triều Tiên 89%

CTCCTTMM ñược cứu sống khi sử dụng CNMM tạm Rich (1971): Trong chiến tranh Việt Nam

86,5% giữ ñược chi trong tổng số hơn 1000 ca Baros: Trong chiến tranh Bắc Ailand 5% phải cắt chi

Chamber & CS (2005) tại chiến trường Iraq từ 01/9/2004 ñến 31/8/2005 có 30/126 ca CTCCTTMM

ñược ứng dụng CNMM tạm phải cắt cụt 2 ca (0,6%)(9) Husain A, and khaudaparka J và CS: BV

KEM, (Bombay - India) từ 1/1988 ñến 10/1990(3): 5 ca tổn thương ñộng mạch khoeo ñược sử dụng

CNMM tạm ñạt kết quả tốt, không biến chứng, dùng ống hút nội khí quản làm CNMM tạm

Sriussadaporns và CS: 7/7 ca tốt (100%)(8) Subramanian, Anuradha MD, Christopher MD và CS(9):

Tổng kết 10 năm ñiều trị TTMM từ 01/1997 ñến 01/2007 tại BV Grandy Memory (Mỹ) với 786 ca

TTMM có 67 ca ñược ñặt CNMM tạm (72: ñộng mạch, 29: tĩnh mạch), chủ yếu là loại tổn thương

Gustilo IIIC và ñứt lìa Kết quả 5% tắc mạch lại, cắt cụt 18%, 8 ca (12%) tử vong (do ña thương),

73% bảo tồn ñược chi và bệnh nhân Nguyễn Trường Giang & CS (2009 – QYV 103)(5)16/16 bảo tồn

ñược chi khi sử dụng CNMM tạm Chúng tôi: 32/39 (82%) bảo tồn ñược chi

KẾT LUẬN

CNMM tạm thực sự giữ vai trò quan trọng ñể bảo tồn ñược chi trong quá trình xử trí ña số các

trường hợp CTCCTTMM, nên rất cần ñược phổ biến và nhân rộng cho các ñồng nghiệp áp dụng tại

các trung tâm phẫu thuật cấp cứu chấn thương

CNMM tạm nên ñược sử dụng khi vận chuyển bệnh nhân CTCCTTMM từ tuyến dưới lên tuyến

trên nhằm giảm thiểu tình trạng thiếu máu chi

Cần sớm nhận biết ñược thương tổn CTCCTTMM ñể có thái ñộ xử trí ñúng và kịp thời, với sự

phối hợp chặt chẽ giữa hai chuyên khoa PTCT – PTMM qua 3 bước xử trí

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Christian CA: General Principles Of Fracture Treatment Cambell’s Operative Orthopedics 1998 vol III: 1193-2041

2 Colton CL: The History Of Fracture Treatment Skeletal Trauma, 1992, vol I: 3-30

3 Husain AK, and Khandeparker J: Temporary Intravascular Shunt for peripheral vascular Trauma 25 April 2009; Juornal of

Trang 7

Posgraduate Medicine, vol 38

4 Moholka KD and Ziran H.: Vascular Injuries Local Complications Rockwood And Green’s Fractures In Adult 2006 vol I:564-598

5 Nguyễn Trường Giang: Nghiên cứu sử dụng CNMM tạm trong ñiều trị tổn thương mạch máu chi thể Tạp chí Y -Dược học Quân sự,

số 39/2009 Tr: 185 – 191

6 Scottw Alpert: Knee Dislocations Fracture And Dislocations: 1994: 115 – 117

7 Shenk RC and Washer DE.: Dislocation And Fracture –Dislocation Of The Knee Rockwood And Green’s Fractures In Adult 2006

vol II: 2041-2072

8 Sriussadaporn S, Pak-art R.: Temporary intravascular shunt in complex extremity vascular injuries Trauma 2002 jun; 52(6): 1129-33

9 Subrananian, Anuradha MD, Christopher MD: Adecad’s Experience with Temporary Intravascular Shunt at a Civilian Level I

Trauma Center The Journal of Trauma; Injury, Infection and Cristical Care August 2008 – Volume 65 – Issue 2 – PP 316-326

10 Trần Khánh Dư: Điều trị vết thương và di chứng vết thương mạch máu lớn ngoại biên Bài giảng ñiều trị bệnh học ngoại khoa tập I,

xuất bản 1986, trang 95-108

Ngày đăng: 23/01/2020, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w