Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 89 bệnh nhân vô sinh nam do giãn tĩnh mạch tinh được thắt tĩnh mạch vi phẫu một bên tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng nghiên cứu cho thấy trung bình DFI của nhóm giãn tĩnh mạch tinh cao hơn nhiều so với nhóm chứng (34,9 ± 21,0% so với 21,7 ± 8,5%, p < 0,001).
Trang 1TÁC DỤNG CỦA VI PHẪU THẮT TĨNH MẠCH LÊN ĐỘ PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN
VÔ SINH DO GIÃN TĨNH MẠCH TINH
Nguyễn Hoài Bắc, Bùi Cảnh Vin
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 89 bệnh nhân vô sinh nam do giãn tĩnh mạch tinh được thắt tĩnh mạch
vi phẫu một bên tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình DFI của nhóm giãn tĩnh mạch tinh cao hơn nhiều so với nhóm chứng (34,9 ± 21,0% so với 21,7 ± 8,5%, p < 0,001) Sau vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh, trung bình DFI giảm đáng kể
so với trước phẫu thuật (38,2 ± 22% so với 29,1 ± 16,6%), sự khác biệt trung bình DFI trước và sau phẫu thuật có ý nghĩa thống kê với p = 0,007 So với nhóm có DFI thấp, sự cải thiện DFI sau phẫu thuật rõ ràng hơn ở nhóm có DFI cao, sự khác biệt DFI trước và sau phẫu thuật có ý nghĩa thống kê (Z = -16,1 ± 18,1 so với Z = -0,4 ± 7,2, với p = 0,003) Ở cả nhóm tinh dịch đồ bình thường và nhóm bất thường, đều có sự cải thiện đáng kể chỉ số DFI sau mổ Từ kết quả này chúng tôi rút ra kết luận: giãn tĩnh mạch tinh làm gia tăng
sự tổn thương DNA của tinh trùng Thắt tĩnh mạch tinh vi phẫu làm cải thiện đáng kể DFI của tinh trùng Sự cải thiện chỉ số DFI sau mổ phụ thuộc nhiều vào mức độ DFI trước mổ.
Từ khóa: giãn tĩnh mạch tinh, thắt tĩnh mạch tinh vi phẫu, sự toàn vẹn DNA tinh trùng, chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DFI), vô sinh nam
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Hoài Bắc, Đơn vị Nam học, Bệnh
viện Đại học Y Hà Nội
Email: drbac.uro@gmail.com
Ngày nhận: 21/12/2016
Ngày được chấp thuận: 26/2/2017
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Giãn tĩnh mạch tinh được coi là một trong
số ít các nguyên nhân gây vô sinh nam có thể
điều trị khỏi Bệnh xuất hiện với tần số khoảng
15% nam giới trong cộng đồng nói chung,
khoảng 35% trong cộng đồng nam giới vô sinh
nguyên phát, và khoảng 75% trong cộng đồng
nam giới vô sinh thứ phát [1] Giãn tĩnh mạch
tinh là hiện tượng các tĩnh mạch tinh bị giãn
do dòng máu trào ngược thành những đám
rối tĩnh mạch trong thừng tinh Khi tĩnh mạch
tinh bị giãn, dòng máu tuần hoàn bị ứ trệ
trong hệ thống tĩnh mạch tinh, gây ra những
hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến
chức năng sinh sản của người nam giới [2]
Có nhiều giả thuyết khác nhau được đưa
ra để giải thích sự ảnh hưởng này như thiếu oxy ở tinh hoàn thứ phát do tắc nghẽn các mạch máu nhỏ và ứ máu tĩnh mạch, trào ngược các chất chuyển hóa gây độc từ tuyến thượng thận và thận trái, sự gia tăng nhiệt độ bìu [3; 4] Gần đây, người ta nhận thấy hậu quả của việc ứ trệ tuần hoàn trong hệ tĩnh mạch tinh cũng gây nên tình trạng mất cân bằng oxy hoá, từ đó dẫn đến sự tổn thương DNA của tinh trùng Đây được coi là một trong những cơ chế quan trọng giải thích ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch tinh lên chức năng sinh sản của nam giới Sự tổn thương DNA được đánh giá thông qua chỉ số phân mảnh DNA (DFI- DNA fragmentation index) [5] Trên Thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa giãn tĩnh mạch tinh và sự phân mảnh DNA của tinh trùng Những nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh
Trang 2hưởng của giãn tĩnh mạch tinh lên độ phân
mảnh DNA tinh trùng và tác dụng của phẫu
thuật điều trị giãn tĩnh mạch tinh lên chỉ số này
[6 - 8] Một số tác giả khác lại đi sâu vào
nghiên cứu ảnh hưởng của sự phân mảnh
DNA tinh trùng đến khả năng có thai ở những
bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh và mối liên
quan giữa độ phân mảnh DNA với các thông
số tinh dịch đồ [9; 10]
Tại Việt Nam, những nghiên cứu về mối
liên quan giữa giãn tĩnh mạch tinh và các
thông số tinh dịch đồ đã có nhiều [11; 12]
nhưng những nghiên cứu về liên quan giữa
giãn tĩnh mạch tinh và độ phân mảnh DNA
của tinh trùng thì hầu như chưa có Vì vậy,
nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục
tiêu:
1 Mô tả đặc điểm phân mảnh DNA tinh
trùng của bệnh nhân vô sinh do giãn tĩnh
mạch tinh
2 Đánh giá kết quả thắt tĩnh mạch tinh vi
phẫu lên độ phân mảnh DNA tinh trùng ở
bệnh nhân vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Nhóm nghiên cứu gồm những bệnh nhân
vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh, được vi phẫu
thắt tĩnh mạch tinh tại Bệnh viện Đại học Y Hà
Nội từ tháng 01/2014 tới tháng 12/2015
Nhóm chứng gồm 19 nam giới có sức khỏe
sinh sản bình thường (mới có con trong vòng
12 tháng) [8], không giãn tĩnh mạch tinh, đến
khám vì kiểm tra sức khỏe định kỳ Những
người này được tư vấn làm xét nghiệm độ
phân mảnh DNA của tinh trùng
2 Phương pháp
Một số định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu
Vô sinh nam: một người nam giới không
có khả năng làm cho người phụ nữ mang bầu sau 12 tháng quan hệ tình dục đều đặn, không dùng biện pháp tránh thai nào, sau khi đã loại trừ các yếu tố liên quan đến người nữ [13]
Vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh: Một người nam giới vô sinh mà không tìm thấy các nguyên nhân nào khác ngoài giãn tĩnh mạch tinh [13]
Tinh dịch đồ bình thường: tinh dịch đồ được coi là bình thường khi mật độ tinh trùng
≥ 20 triệu/ml; độ di động tiến tới ≥ 50%, hình thái tinh trùng bình thường ≥ 14%
Tinh dịch đồ bất thường: tinh dịch đồ được coi là bất thường khi có bất thường các thông
số mật độ < 20 triệu/ml, độ di động tiến tới
< 50% và hình thái tinh trùng bình thường
< 14% Các thông số bất thường này có thể đơn độc hoặc phối hợp với nhau
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh một bên thể lâm sàng, có đầy đủ các xét nghiệm tinh dịch
đồ, xét nghiệm độ phân mảnh DNA tinh trùng tại các thời điểm nghiên cứu
Bệnh nhân không được điều trị bằng bất
cứ phương pháp nào trong vòng 6 tháng trước khi tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh 2 bên
- Bệnh nhân không có đủ xét nghiệm tinh dịch đồ và xét nghiệm độ phân mảnh DNA tinh trùng, hoặc xét nghiệm không được làm tại Đại học Y Hà Nội tại các thời điểm theo dõi
- Bệnh nhân có mật độ tinh trùng ≤ 5 triệu/ ml
- Bệnh nhân có bất cứ bệnh lý lây truyền
Trang 3qua đường tình dục (HIV, giang mai, lậu,…)
hoặc có bệnh lý viêm nhiễm đường sinh dục
trước và trong thời gian nghiên cứu
Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu,
không quay lại khám trong thời gian nghiên
cứu
2 Phương pháp
Nghiên cứu tiến cứu, dùng phương pháp
thống kê để mô tả đặc điểm phân mảnh DNA
tinh trùng của nhóm nghiên cứu thông qua các
giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và tỉ lệ phần
trăm của biến số nghiên cứu Kiểm định T-test
độc lập được dùng để so sánh DFI của nhóm
nghiên cứu và nhóm chứng Kiểm định T-test
ghép cặp được dùng để đánh giá kết quả của
vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh lên độ phân mảnh
DNA tinh trùng.Sự khác biệt được coi là có ý
nghĩa thống kê khi p < 0,05
Tinh dịch đồ được phân tích trên máy
CASA, tại labo xét nghiệm của Bộ môn Y sinh
học Di truyền Trường Đại học Y Hà Nội Tinh
dịch được lấy bằng cách thủ dâm sau khi
kiêng xuất tinh 3 - 5 ngày, trong một phòng lấy
tinh dịch chuyên biệt Mẫu tinh dịch được gửi
đến phòng xét nghiệm để phân tích ngay sau
khi được lấy ra Nhận định và đánh giá kết
quả theo quy trình hướng dẫn của Tổ chức Y
tế Thế giới phiên bản 1999 [13]
Độ phân mảnh DNA tinh trùng được đánh
giá ngay trên mẫu tinh dịch dùng để phân tích
tinh dich đồ, dựa trên nguyên lý đánh giá độ
phân tán chất nhiễm sắc (SCD) cải tiến [14],
tại labo xét nghiệm của Bộ môn Y sinh học Di
truyền, Trường Đại học Y Hà Nội
Tinh địch đồ và độ phân mảnh DNA được
chỉ định vào các thời điểm trước khi phẫu
thuật và sau khi phẫu thuật 3 tháng
Dựa trên kết quả DFI trước khi phẫu thuật,
chúng tôi chia bệnh nhân thành nhóm có DFI cao (DFI ≥ 30%) và nhóm DFI thấp (DFI < 30%) Dựa trên kết quả xét nghiệm tinh dịch
đồ chúng tôi chia bệnh nhân thành nhóm tinh dịch đồ bình thường (không có bất thường về mật độ tinh trùng, về độ di động và về hình thái tinh trùng) và nhóm tinh dịch đồ bất thường (khi có bất thường 1, 2, hay cả 3 thông số kể trên) Sau đó khảo sát sự thay đổi chỉ số DFI sau phẫu thuât so với trước phẫu thuật theo các nhóm trên
Xử lý số liệu
Tất cả các số liệu nghiên cứu được xử lý bằng máy vi tính theo phương pháp thống kê
y sinh học bằng phần mềm SPSS 20.0
3 Đạo đức nghiên cứu
Đối tượng tình nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được cung cấp đầy đủ thông tin Các đối tượng nghiên cứu được quyền từ chối không tham gia hoặc dừng nghiên cứu bất cứ thời điểm nào Số liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu được lưu giữ bảo mật Các số liệu thu được đều được kiểm tra lại ở nhiều khâu
để đảm bảo tính chính xác
III KẾT QUẢ
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2015, có
120 bệnh nhân được chẩn đoán vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh được điều trị bằng vi phẫu thắt tĩnh mạch một bên tinh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, tuy nhiên chỉ có 89 bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu Thông số DFI của những bệnh nhân này được so sánh với DFI bình thường của nhóm có sức khỏe sinh sản bình thường gồm 19 người
Trong quá trình theo dõi 6 tháng sau phẫu thuật có 28 bệnh nhân đến khám lại đủ điều
Trang 4kiện để đưa vào phân tích đánh giá hiệu quả của phẫu thuật, số còn lại bị loại ra khỏi nghiên cứu vì bệnh nhân không đến khám lại do đã có thai tự nhiên, đã làm hỗ trợ sinh sản hoặc bỏ nghiên cứu
Biểu đồ 1 DFI trung bình của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng
Độ phân mảnh DNA của nhóm nghiên cứu cao hơn nhiều so với nhóm chứng Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Mức độ đứt gãy DNA của nhóm nghiên cứu
1 Đặc điểm phân mảnh DNA tinh trùng của nhóm nghiên cứu
So sánh DFI trung bình của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng
Biểu đồ 2 So sánh mức độ DFI giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng
Trong khi ở nhóm nghiên cứu, độ phân mảnh DNA chủ yếu ở mức độ nặng thì ở nhóm chứng mức độ phân mảnh chủ yếu ở mức trung bình
Độ phân mảnh DNA tinh trùng 34,9±21%
21,7±8,5%
Nhóm nghiên cứu (n = 89) Nhóm chứng (n = 19)
13,5%
21,1%
38,2%
57,9%
48,3%
21,1%
DFI mức độ nhẹ (< 15%)
DFI mức độ trung bình (15 - 30%)
DFI mức độ nặng (> 30%)
Trang 5Biểu đồ 3 Sự thay đổi DFI trung bình trước và sau phẫu thuật
Sau phẫu thuật DFI của nhóm nghiên cứu giảm nhiều so với trước phẫu thuật Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p = 0,007 Tuy nhiên, DFI sau phẫu thuật không khác biệt lớn so với DFI của nhóm chứng
So sánh mức độ DFI trước và sau phẫu thuật
Biểu đồ 4 Mức độ phân mảnh DNA của tinh trùng trước và sau phẫu thuật
Trước phẫu thuật mức độ DFI nặng và trung bình tương ứng là 57,1% và 28,6% Sau phẫu thuật DFI mức độ nặng đã giảm đi, chuyển thành mức độ trung bình nên mức độ DFI nặng và trung bình tương ứng là 35,7% và 64,4% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Khảo sát độ phân mảnh DNA tinh trùng theo nhóm DFI
Độ phân mảnh DNA tinh trùng
2 Tác dụng của thắt tĩnh mạch tinh đối với độ phân mảnh DNA
So sánh DFI trung bình trước và sau phẫu thuật
38,2±22%
Sau phẫu thuật (n = 28)
29,1±16,6%
21,7±8,5%
Nhóm chứng (n = 19) Trước phẫu thuật
(n = 28)
35,7%
DFI mức độ nhẹ (< 15%)
DFI mức độ trung bình (15 - 30%)
DFI mức độ nặng (> 30%)
57,1%
28,6%
64,4%
17,9%
14,3%
Trang 6Bảng 1 So sánh độ phân mảnh DNA tinh trùng trước và sau phẫu thuật
theo nhóm DFI trước phẫu thuật
Phân nhóm DFI trước
phẫu thuật
DFI (%) SD
p Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật Thay đổi Z
Khảo sát độ phân mảnh DNA tinh trùng theo đặc điểm tinh dịch đồ trước phẫu thuật
Bảng 2 So sánh độ phân mảnh DNA tinh trùng sau phẫu thuật
theo đặc điểm tinh dịch đồ trước phẫu thuật
Phân nhóm theo
tinh dịch đồ
DFI (%) ± SD
p Trước phẫu thuật Sau phẫu thuật Thay đổi Z
Ở nhóm tinh dịch đồ bất thường, sự cải thiện DFI sau phẫu thuật khá rõ ràng với p = 0,022 Ở nhóm tinh dịch đồ bình thường, tuy sự cải thiện DFI rất lớn (z = -14,2 ± 22,1) nhưng sự khác biệt DFI trước và sau phẫu thuật lại không có ý nghĩa thống kê
Khảo sát độ phân mảnh DNA tinh trùng theo một số thông số tinh dịch đồ
Bảng 3 So sánh độ phân mảnh DNA tinh trùng trước và sau phẫu thuật
theo các thông số tinh dịch đồ
Phân nhóm theo thông số tinh
dịch đồ trước phẫu thuật
DFI (%) ± SD
p Trước phẫu
thuật
Sau phẫu thuật Thay đổi Z
Mật độ
tinh
trùng
Nhóm < 20 triệu/ml; n = 5 47,7 ± 28,6 38,6 ± 26 -9,1 ± 17,5 0,31 Nhóm ≥ 20 triệu/ml;
Di động
tiến tới
Nhóm < 50%; n = 20 40,3 ± 23,2 31,4 ± 18,3 -8,9 ± 15,9 0,021 Nhóm ≥ 50%; n = 8 32,7 ± 18,9 23,6 ± 10,4 -9,2 ± 19,1 0,217 Hình thái
bình
Nhóm < 15%; n = 21 39,2 ± 23,0 31,8 ± 17,5 -7,4 ± 15,6 0,042 Nhóm ≥ 15%; n = 7 35 ± 20,2 21,2 ± 11,1 -13,9 ± 19,5 0,108
X
X
X
Trang 7Dựa vào hệ số Z chúng tôi nhận thấy sau phẫu thuật chỉ số DFI giảm nhiều Tuy nhiên, sự thay đổi chỉ số DFI chỉ có ý nghĩa thống kê đối với những nhóm nào có n đủ lớn
IV BÀN LUẬN
Mối liên quan giữa tổn thương DNA của
tinh trùng với khả năng thụ tinh của tinh trùng
với trứng đã được xác lập từ lâu [9] Thông
thường, nam giới có DFI < 15% sẽ có khả
năng thụ thai bình thường, DFI từ 15 – 30%
thì tỉ lệ thụ thai tự nhiên giảm mạnh nhưng
vẫn có tỉ lệ thành công cao ở các biện pháp
hỗ trợ sinh sản như IVF, IUI; còn DFI > 30%
thì ngay cả khi có các biện pháp hỗ trợ sinh
sản cũng có tỉ lệ thành công rất thấp Tuy
nhiên, tỷ lệ thụ thai thành công tăng lên đáng
kể ở nhóm bệnh nhân giảm được DFI từ mức
trên 30% xuống dưới mức 30% [15] Trong
giãn tĩnh mạch tinh, sự mất cân bằng oxy hoá
là nguyên nhân chính gây nên phân mảnh
DNA tinh trùng [5] Trong nghiên cứu này, có
sự khác biệt rất lớn giữa trung bình DFI của
nhóm nghiên cứu so với giá trị DFI bình
thường Kết quả này phù hợp với kết quả của
các tác giả khác đã công bố trước đây như;
sự khác biệt về DFI của nhóm giãn tĩnh mạch
tinh và nhóm bình thường là 25% so với 15%
(p < 0,005), hay trong một nghiên cứu khác
tác giả đã nhận thấy sự khác biệt trung bình
DFI giữa nhóm giãn tĩnh mạch tinh và nhóm
chứng là 9,84% [16; 8] Khi so sánh với DFI
của nhóm chứng, chúng tôi cũng nhận thấy
trong nhóm giãn tĩnh mạch tinh phần lớn bệnh
nhân có chỉ số DFI ở mức độ nặng (DFI ≥
30%), tuy nhiên sự khác biệt này chưa đủ lớn
để có thể có ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu
trong nhóm bình thường còn thấp Kết quả
của chúng tôi một lần nữa khẳng đinh, giãn
tĩnh mạch tinh làm tổn thương nặng nề DNA
của tinh trùng
Sau vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh, chỉ số trung bình DFI giảm xuống nhiều so với trước phẫu thuật, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Khi so sánh trung bình DFI sau phẫu thuật với DFI nhóm chứng, chúng tôi nhận thấy mặc dù DFI sau phẫu thuật vẫn còn cao hơn DFI bình thường nhưng sự khác biệt lại không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của các tác giả đã thông báo trước đó Trong một nghiên cứu trên 49 bệnh nhân sau thắt tĩnh mạch tinh, các tác giả nhận thấy có sự cải thiện đáng kể độ phân mảnh DNA tinh trùng
từ 35,2% xuống 30,2% (p < 0,05) [9] Trong một nghiên cứu khác, các tác giả cũng nhận thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê DFI từ
18 ± 11% trước phẫu thuật xuống còn 10 ± 5% sau 4 và 6 tháng [6] Gần đây hơn, khi tiến hành nghiên cứu phân tích tổng quan trên 177 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh giãn, các tác giả cũng nhận thấy thắt tĩnh mạch tinh làm cải thiện có ý nghĩa thống kê chỉ số DFI với sự khác biệt trung bình là 3,37%, (p = 0,00001) [8]
Trong nghiên cứu này, sự cải thiện DFI sau phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ DFI trước phẫu thuật chứ không phụ thuộc vào đặc điểm tinh dịch đồ trước phẫu thuật Khi so sánh sự cải thiện DFI sau mổ giữa hai nhóm DFI ≥ 30% (n = 16) và nhóm DFI < 30% (n = 12), chúng tôi nhận thấy trong khi không có sự thay đổi DFI ở nhóm bệnh nhân có DFI < 30% thì ngược lại ở nhóm DFI ≥ 30% lại có sự thay đổi rõ ràng chỉ số này (52,2 ± 18,2 và 36,4 ± 18,1; p = 0,003) Ngược lại, khi so sánh sự cải
Trang 8thiện DFI sau mổ giữa nhóm có tinh dịch đồ
bất thường (n = 23) và nhóm bình thường (n =
5), chúng tôi lại không nhận thấy sự khác biệt
nào về sự cải thiện DFI sau mổ Ở cả hai
nhóm DFI đều giảm nhiều so với trước phẫu
thuật, nhưng chỉ ở nhóm bất thường sự khác
biệt mới có ý nghĩa thống kê với p = 0,022,
còn ở nhóm bình thường lại không có ý nghĩa
thống kê do cỡ mẫu còn nhỏ (n = 5) mặc dù
chỉ số Z của nhóm này cao hơn nhóm tinh
dịch đồ bất thường (-14,2 ± 22,1 so với -7,9 ±
15,4)
Để tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng của
tinh dịch đồ tới sự cải thiện DFI sau mổ, dựa
vào mật độ tinh trùng, độ di động tiến tới và
hình thái tinh trùng trước phẫu thuật, chúng tôi
chia bệnh nhân thành các nhóm khác nhau
như trong Bảng 3 đã trình bày Dựa vào hệ số
Z chúng tôi nhận thấy sau phẫu thuật chỉ số
DFI giảm nhiều Tuy nhiên, sự thay đổi chỉ số
DFI chỉ có ý nghĩa thống kê đối với những
nhóm nào có n đủ lớn Còn những nhóm có n
nhỏ, mặc dù hệ số Z lớn hơn nhưng sự khác
biệt vẫn không có ý nghĩa thống kê Điều này
cho thấy cần thiết phải có các nghiên cứu lớn
hơn nữa để có thể phân bố số lượng trong
mỗi nhóm đủ lớn để có thể đưa ra kết luận
chính xác hơn
V KẾT LUẬN
Giãn tĩnh mạch tinh làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến DNA của tinh trùng, chỉ số
DFI ở nhóm giãn tĩnh mạch tinh cao hơn
nhiều so với chỉ số DFI nhóm chứng (34,9 ±
21,0 % so với 21,7 ± 8,5 %, p < 0,001)
Sau vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh, DFI giảm
nhiều so với trước phẫu thuật, sự khác có ý
nghĩa thống kê (29,1 ± 16,6% so với 38,2 ±
22,0%, với p = 0,007)
Sự cải thiện DFI thay đổi phụ thuộc vào mức độ DFI trước mổ DFI cải thiện rõ ở nhóm bệnh nhân có DFI ≥ 30% (từ 52,2 ± 18,2% xuống 36,4 ± 18,1%; p = 0,003), Sự cải thiện DFI không phụ thuộc vào đặc điểm tinh dịch đồ trước phẫu thuật
Lời cảm ơn
Nghiên cứu được thực hiện với sự giúp đỡ của tập thể các nhân viên Phòng khám Nam học, bác sĩ gây mê, nhân viên phòng mổ và Khoa Ngoại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
TÀI LỆU THAM KHẢO
1 Pastuszak, A.W and R Wang (2015).
Varicocele and testicular function Asian J
An-drol, 17(4), 659 - 667.
2 Mehta, A., M Goldstein (2013)
Micro-surgical varicocelectomy: a review Asian J
Androl, 15(1), 56 - 60.
3 Ficarra, V., A Crestani, G Novara et
al (2012) Varicocele repair for infertility:
what is the evidence? Curr Opin Urol, 22(6),
489 - 494
4 Kantartzi, P.D., D Goulis Ch, G.D Goulis et al (2007) Male infertility and
varico-cele: myths and reality Hippokratia, 11(3),
99 - 104
5 Smith, R., H Kaune, D Parodi et al (2006) Increased sperm DNA damage in
pa-tients with varicocele: relationship with seminal
oxidative stress Hum Reprod, 21(4), 986 - 993.
6 Zini, A., R Azhar, A Baazeem et al (2011) Effect of microsurgical
varicocelec-tomy on human sperm chromatin and DNA integrity: a prospective trial Int J Androl, 2011
34(1), 14 - 19.
7 Ghazi, S and H Abdelfattah (2011).
Effect of microsurgical varicocelectomy on sperm DNA fragmentation in infertile men
Middle East Fertility Society Journal, 16(2),
149 - 153
Trang 98 Wang, Y.J., R.Q Zhang, Y.J Lin, et
al (2012) Relationship between varicocele
and sperm DNA damage and the effect of
varicocele repair: a meta-analysis Reprod
Biomed Online, 25(3), 307 - 314.
9 Smit, M., J.C Romijn, M.F Wildhagen,
et al (2010) Decreased Sperm DNA
Frag-mentation After Surgical Varicocelectomy is
Associated With Increased Pregnancy Rate
The Journal of Urology, 183(1), 270 - 274.
10 Kadioglu, T.C., E Aliyev., M Celtik
(2014) Microscopic varicocelectomy
signifi-cantly decreases the sperm DNA
fragmenta-tion index in patients with infertility Biomed
Res Int, 695713.
11 Hoàng Long và Nguyễn Hoài Bắc
(2011) So sánh kết quả của vi phẫu thuật qua
ngả bẹn bìu và phẫu thuật nội soi sau phúc
mạc trong điều trị giãn tĩnh mạch tinh Y học
thực hành, 769 - 770(6), 242 - 251.
12 Nguyễn Hoài Bắc, Trần Quốc Hòa
(2015) Liên quan giữa giãn tĩnh mạch tinh với
các thông số tinh dịch đồ và nội tiết tố ở
những bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh Y học
thực hành, 6(969), 86 - 91.
13 WHO (2000) WHO Manual for the
Standardized Investigation and Diagnosis of the Infertile Couple Cambridge: Cambridge University Press
14 Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Hoài Bắc, Nguyễn Tuấn Anh và cộng sự (2014).
Đánh giá tỉ lệ phân mảnh ADN tinh trùng người theo quy trình khảo sát sự phân tán chất nhiễm sắc của tinh trùng (SCD) cải tiến
Tạp chí Y học thực hành, 11(941), 48 - 52.
15 Simon, L., G Brunborg, M Steven-son et al (2010) Clinical significance of sperm
DNA damage in assisted reproduction
out-come Hum Reprod, 25(7), 1594 - 608.
16 Saleh, R.A., A Agarwal, R K Sharma et al (2003) Evaluation of nuclear
DNA damage in spermatozoa from infertile men with varicocele Fertil Steril, 80(6),
1431 - 1436
Summary EFFECT OF MICROSURGICAL VARICOCELECTOMY ON HUMAN SPERM DNA INTEGRITY IN MALE INFERTILITY WITH VARICOCELE
A cross-sectional study was conducted on 89 infertile patients with left clinical varicocele who were underwent microsurgical varicocelectomy at Hanoi Medical University Hospital from January
2014 to December 2015 The results showed that the means of DFI of patients with varicocele was more higher than control group (34.9 ± 21.0% vs 21.7 ± 8.5%, p < 0.001) Sperm DNA integrity was significantly improved after microsurgical varicocelectomy (means of DFI decreased from 38.2 ± 22% to 29.1 ± 16.6% postoperatively, p = 0.007) In high preopertive DFI subgroup, the means of postoperative DFI was more significantly decreased compare with the low high preopertive DFI subgroup In conclusion, sperm DNA intergrity was nagatively affected in infertile men with varicocele Microsurgical varicocelectomy improved significantly DFI The improvement
of DFI was depended on the preopertive DFI levels Patients with higher preoperative DFI level showed greater improvement postoperatively
Keywords: Varicocele, microsurgical varicocelectomy, human sperm DNA integrity, DNA fragmentation index (DFI), male infertility