1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát lâm sàng bệnh sốt xuất huyết tại khoa truyền nhiễm Bệnh viện Thống Nhất năm 2008

6 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 359,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá các triệu chứng lâm sàng bệnh sốt xuất huyết vào điều trị tại truyền nhiễm. Nghiên cứu thực hiện trên 497 bệnh nhân sốt xuất huyết điều trị tại Truyền nhiễm từ 1/1/2008 đến 31/12/2008, phương pháp tiền cứu, mô tả.

Trang 1

KHẢO SÁT LÂM SÀNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2008

Lê Thị Kim Nhung*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá các triệu chứng lâm sàng bệnh sốt xuất huyết vào điều trị tại Truyền nhiễm

Đối tượng: Gồm có 497 bệnh nhân sốt xuất huyết điều trị tại Truyền nhiễm từ 1/1/2008 đến 31/12/2008,

phương pháp tiền cứu, mô tả

Kết quả: Sốt kéo dài từ 5-7 ngày, dấu lacet dương tính 95%, chấm xuất huyết 62,5%, xuất huyết niêm mạc

18,9%, xuất huyết tiêu hóa 4,8%, xuất huyết cơ 0,4% Bệnh nhân bị đau thượng vị là 27,2%, tiêu chảy 20,5%, nôn 9,7%, gan to 3,8%, nhịp tim chậm 2,4% Có 8,7% bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi và tràn dịch màng bụng Chủ yếu là sốt xuất huyết độ 1 và độ 2, có 2,21% độ 3 và 4 Tử vong là 0,2%

Kết luận: Các yếu tố liên quan với mức độ nặng là cô đặc máu, dung tích hồng cầu tăng, gan to, tràn dịch

màng phổi và tràn dịch màng bụng Mức độ giảm tiểu cầu không tương xứng với mức độ nặng của bệnh, và mức độ xuất huyết

Từ khóa: Sốt Dengue; Sốt xuất huyết Dengue

ABSTRACT

CLINICAL PROFILE OF DENGUE HAEMORRHAGIC FEVE

IN ADULT AT THONG NHAT HOSPITAL 2008

Le Thi Kim Nhung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 89 - 94

Objectives: To determine Symptoms of dengue hemorrhagic fever and prognostic factors of clinical

outcome in patient with DHF

Methods: Patients in Thong Nhat hospital from 1/1/2008 to 31/12/2008

Results: Fever lasting 5-7 days, positive tourniquet test is 95% petechiae is 62.5%, bleeding from

mucosa is 18.9%, gastrointestinal bleeding is 4.8%, bleeding in muscle is 0.4%, abdominal pain is 27.2%, diarrhea is 20.5%, vomiting is 9.7%, hepatomegaly is 3.8%, bradycardia is 2.4%, pleural effusion is 8.7%, Dengue shock syndrome (DSS) is 2.21%, mortality is 0.2%

Conclusions: Prognostic factor are levels of Hb, HCT, hepatomegaly, pleural effusion predicted a more

severe courses with DHF Thrombocytopenia and bleeding hemorrhagic are unrelated

Keyword: Dengue fever (DF); Dengue hemorrhagic fever (DHF); Dengue shock syndrome (DSS)

MỞ ĐẦU

Sốt Dengue/Sốt Xuất Huyết Dengue

(SD/SXH-D) ngày nay đang trở thành một vấn

nạn cho sức khỏe cộng đồng trong vùng nhiệt

đới Sự chuyển dịch dân cư, hiện tượng đô thị

hóa quá mức cùng với sự thay đổi lối sống đã

làm gia tăng nơi trú ẩn của lăng quăng, muỗi

truyền bệnh khiến tình hình dịch bệnh ngày

càng trầm trọng Bệnh lưu hành ở trên 100 nước thuộc các khu vực khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới, vùng Đông Nam A, Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi Với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ có dịch Hiện nay SD/SXHD là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng đồng và là mối quan tâm của lĩnh vực y tế cộng đồng trên toàn thế giới(1) Số ca mắc SD/SXHD liên tục tăng cao trong những

Trang 2

năm gần đây Bệnh cảnh lâm sàng có nhiều thay

đổi đặc biệt là bệnh trên người lớn gia tăng và

xuất hiện nhiều bệnh cảnh mới Tỉ lệ chết/mắc

giảm xuống trong những năm gần đây và dao

động từ 0,01-0,49% Bệnh chưa có thuốc đặc trị

và chưa có vắc xin dự phòng Trong những năm

gần đây số lượng SD/SXHD nhập viện điều trị

tại Truyền nhiễm-BVTN ngày một tăng Chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục

đích: Khảo sát lâm sàng bệnh SD/SXHD tại Truyền

nhiễm, góp phần dự trù nhân lực, bố trí giường bệnh

…, để đáp ứng nhu cầu điều trị nội trú của Bệnh

nhân SD/SXHD

TỔNG QUAN

Sốt Dengue/ Sốt Xuất Huyết Dengue

(SD/SXH-D) là bệnh gây ra do vi rut Dengue

thuộc họ Flavivirut và có 4 serotypes khác nhau

Nhiễm vi rút Dengue có thể gây ra nhiều bệnh

cảnh lâm sàng khác nhau, thay đổi từ nhiễm

trùng không triệu chứng, đến bệnh sốt cấp tính

(sốt Dengue), Sốt xuất huyết dengue (SXH-D) và

hội chứng sốc Dengue có thể tử vong Sinh lý

bệnh của SXH-D vẫn còn chưa sáng tỏ Đặc

điểm bệnh học quan trọng là có sự gia tăng tính

thấm thành mạch với sự thoát huyết tương vào

trong khoảng gian bào, kèm với sự gia tăng

nồng độ của các cytokin vận mạch như yếu tố

hoại tử u TNFα, Interferon  (TNF  ) Interleukin 6

(IL-6) và Interleukin 2 (IL-2) Gần đây Interleukin

10 (LI-10) cũng được chứng minh có vai trò

trong cơ chế bệnh sinh của nhiễm Dengue

Trong suốt nhiều năm qua cơ chế bệnh

sinh phổ biến là “hiện tượng đáp ứng tăng

cường phụ thuộc kháng thể”

(antibody-dependent enhancement-ADE) Cơ chế hoạt

động của hiện tượng ADE được cho rằng có

liên quan dến phức hợp vi rút dengue-kháng

thể không trung hòa có sẵn trong cơ thể, được

hình thành do quá trình nhiễm serotype khác

trước đây Hiện tượng ADE cho phép vi rút

dengue nhiễm vào một số lượng tế bào lớn

hơn, đặc biệt trong giai đoạn sớm của nhiễm

trùng Nồng độ vi rút cao đạt đỉnh 2 ngày

trước khi hết sốt, đã được chứng minh có liên

quan với diễn tiến nặng của SXH-D(9) Do đó theo dõi trên lâm sàng cho thấy các lần mắc sốt xuất huyết sau thường nặng hơn lần đầu Trong những năm gần đây sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue (DS/SXH-D) ngày càng xuất hiện trên người lớn (>15 tuổi) Điều này có thể do tuổi mắc sơ nhiễm có thể đã lớn hơn Một

số tác giả cho rằng miễn dịch ở cộng đồng suy giảm Khi khảo sát tình hình dịch bệnh ở Singapore vào những năm 1989-1994 cho rằng sau khi thực hiện phòng chống muỗi Aedes trong 20 năm thì các vụ dịch xảy ra thường xuyên hơn và cường độ cao hơn Sự gia tăng này có thể do tình trạng miễn dịch của cộng đồng giảm sau nhiều năm không bị phơi nhiễm với vi rút(4,2) Tại các tỉnh phía bắc Việt Nam, nhận xét trên lâm sàng có nhiều bệnh nhân chưa

có hoặc có miễn dịch rất thấp với vi rút dengue(5) Bệnh cảnh lâm sàng có nhiều khác biệt

so với trẻ em, thời gian sốt kéo dài hơn (> 7 ngày) Viêm cơ tim, xuất huất huyết tiêu hóa ồ

ạt, viêm gan, tiểu hemoglobin… là những biến chứng nặng của bệnh

Điều trị DS/SXH-D ở người lớn chủ yếu là

bù dịch, sử dụng dịch truyền hoặc đường uống

để chống lại tình trạng sốc giảm thể tích do tăng tính thấm thành mạch Đồng thời bù tiểu cầu,

bù máu trong những bệnh nhân có xuất huyết nặng Trong tương lai một loại thuốc chống lại

vi rút ở giai đoạn sớm của bệnh có khả năng ngăn chặn sự tăng nồng độ vi rút trong giai đoạn sớm của bệnh đang là một hứa hẹn Trong những năm gần đây y học đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc phát triển vắc xin dengue, có nhiều thử nghiệm lâm sàng đang tiến hành Tuy nhiên vai trò của đáp ứng miễn dịch chéo (cross-reactive immune responses) giữa các serotypes dengue trong cơ chế gây bệnh nặng chính là một trở ngại cho việc phát triển vắc xin(9)

Tình hình dịch bệnh DS/SXH-D ngày càng trầm trọng Theo WHO trên thế giới có hơn

100 quốc gia đã báo cáo có dịch, số ca mắc bệnh tăng lên mỗi năm người lớn tăng lên 50% (trước đây 30%), tỉ lệ tử vong trong sốc

Trang 3

dengue là 5-10% Tại Việt nam dịch đã có ở tất

cả các tỉnh thành trên cả nước Tại bệnh viện

Bệnh Nhiệt đới tỉ lệ bệnh nhân số xuất huyết

chiếm 14% bệnh nhân nhập viện(5)

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân nhập viện, điều trị nội trú tại

Truyền nhiễm từ 1/1/2008 đến 31/12/2008, được

chẩn đoán sốt xuất huyết theo tiêu chuẩn của

WHO (1998)

Sốt cao đột ngột, liên tục 2-7 ngày

Da xung huyết, phát ban, chấm xuất huyết,

hoặc chảy máu răng, chảy máu cam, hoặc

nghiệm pháp dây thắt (+)

Dung tích HC bình thường hoăc tăng, số

lượng TC bình thường hoặc giảm, số lượng BC

thường giảm

Sốt xuất huyết độ III là có dấu hiệu sốc giảm

thể tích

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả, thu thập số liệu theo mẫu

riêng

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 13.0 for

window

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Giới tính

Bảng 1: Giới tính

Nhận xét: Tỉ lệ nam và nữ tương đương

nhau

Tuổi

TB = 28,2  11,2 cao nhất: 74 tuổi, thấp nhất:

15 tuổi

Tháng nhập viện

Bảng 2: Tháng nhập viện

10 78 15,1

11 58 11,7

12 70 14,1

Nhận xét: SXH xảy ra quanh năm, tăng lên vào mùa mưa các tháng 9, 10, 11, 12 và 1

Tổng số ngày bệnh nhân sốt

Bảng 3: Tổng số ngày bệnh nhân sốt

Nhận xét: Đa số bệnh nhân sốt từ 4-7 ngày

Độ nặng của bệnh

Bảng 4: Độ nặng của bệnh

Nhận xét: Đa số là SD/SXHD độ 1 &2 độ 3 (hội chứng sốc dengue) chiếm 2,21% có 1 bệnh nhân tử vong

Các triệu chứng tiêu hóa

Bảng 5: Các triệu chứng tiêu hóa

% 27,2 9,7 20,5 4,8 3,8

Trang 4

Các triệu chứng xuất huyết

Bảng 6: Các triệu chứng xuất huyết

latcet Chấm XH CM răng CM cam XHTH XH cơ

% 95 65,2 18,9 5 4,8 0,4

Nhận xét: Đa số bệnh nhân xuất huyết dưới

da, có 24 bệnh nhân XHTH nặng cần phải

truyền máu

Mức độ giảm tiểu cầu

Bảng 7: Mức độ giảm tiểu cầu

Nhận xét: Tiểu cầu giảm mạnh nhất vào

ngày thứ 5 của bệnh

Các triệu chứng nhịp tim chậm, tràn dịch

màng phổi, tràn dịch màng bụng

Bảng 8: Các triệu chứng nhịp tim chậm, tràn dịch

màng phổi, tràn dịch màng bụng

Nhận xét: có 12 bệnh nhân có nhịp tim

chậm, trong đó có 2 bệnh nhân bị block A-V độ

2; 29 bệnh nhân TDMP, 43 bệnh nhân TDMB

Mức độ tăng men gan

Bảng 9: Mức độ tăng men gan

Ngày 3 100,1  62 69  42

Ngày 5 170,8  111 107,8 63,5

Ngày 7 177,5 121 121,8  68

Ngày 10 169,3 130 129,2  95

Mối liên quan giưa tràn dịch màng bụng,

tràn dịch màng phổi, gan to và hội chứng

sốc Dengue

Bảng 10: Mối liên quan giữa tràn dịch màng bụng,

tràn dịch màng phổi, gan to và hội chứng sốc dengue

Gan to 9/486BN 10/11 bệnh nhân 0,005

Tràn dịch màng bụng 32/486BN 11/11 bệnh nhân 0,000 Tràn dịch màng phổi 18/486 BN 11/11 bệnh nhân 0,000 Nhận xét: Gan to, Tràn dịch màng bụng, Tràn dịch màng phổi là các dấu hiệu gặp trong nhóm sốc nhiều hơn nhóm không sốc

Mối liên quan giữa mức độ cô đặc máu và hội chứng sốc dengue (DSS)

Bảng 11: Mối liên quan giữa mức độ cô đặc máu và

hội chứng sốc dengue (DSS)

Độ 1 42,06  4,2 4,84 0,65

Độ 2 42,14  5,3 4,88  0,61 Độ3,4 49,87  5,9 5,50 0,8

Nhận xét: Mức độ cô đặc máu ở nhóm sốc cao hơn nhóm không sốc

Mối liên quan giữa số lượng tiểu cầu và xuất huyết nội tạng

Bảng 12: Mối liên quan giữa số lượng tiểu cầu và

xuất huyết nội tạng

Không có xuất huyết 61,6  40,7

Có xuất huyết 49,9  31,2

Nhận xét: Số lượng tiểu cầu không có sự khác biệt giữa nhóm có và không có xuất huyết nội tạng

BÀN LUẬN

Do bệnh viện Thống Nhất gần đây tăng thu nhận bệnh nhân nhân dân, chia sẻ một phần quá tải của các bệnh viện trong thành phố, nhất là những tháng trong vụ dịch Do chỉ nhận bệnh nhân người lớn nên tuổi trung bình là: 28,2  11,2 cao nhất là 74 tuổi và thấp nhất là 15 tuổi,

đa số bệnh nhân trong độ tuổi lao động Số bệnh nhân trên 50 tuổi rất ít (16/497 bệnh nhân), phù hợp với các nghiên cứu thống kê ở Việt Nam SD/SXHD thường xảy ra ở trẻ em và thanh niên Theo Lee MS (Đài Loan) cho rằng tuổi cao, đái tháo đường, huyết áp cao, tăng ure máu là các yếu tố nguy cơ của hội chứng sốc dengue Trong số các ca nặng chúng tôi không gặp 1

Trang 5

bệnh nhân 70 tuổi, khi vào viện đã có dấu hiệu

sốc nặng huyết áp không đo được mạch khó bắt,

sau đó bệnh nhân đã tử vong Số lượng bệnh

nhân vào viện có ở tất cả các tháng trong năm,

nhưng tăng lên gấp đôi ở tháng 8, 9, 10, 11, 12 và

1 Điều này phù hợp với vùng dịch tễ của miền

Nam Việt Nam nằm trong vùng dịch lưu hành,

nhưng tăng lên ở các tháng mùa mưa

Theo Rahman M sốt xuất huyết người lớn

có 60% là SD và 39,2% là SXHD và 0,6% là hội

chứng sốc dengue(DSS)(7) Chúng tôi gặp SD là

25,9%, SXHD là 71,63% và hội chứng sốc dengue

là 2,21%, chúng tôi có 1 trường hợp tử vong

trong 11 bệnh nhân có hội chứng sốc dengue

Trong những năm gần đây tỉ lệ tử vong tại Việt

Nam đã giảm so với nhiều nước, SD/SXHD tử

vong là:0,12-0,26% (1996-2005) và hội chứng sốc

dengue tử vong là 2,47% (1998), 0,62 (2005)(8)

Với đặc điểm của bệnh là sốt cao đột ngột

kéo dài 2-7 ngày, cùng với thời điểm hạ sốt là có

thể xảy ra hội chứng sốc dengue Theo Lai PC

thấy các triệu chứng thường gặp là đau đầu:

55,8 %, đau bụng: 53,8%, phát ban: 46%(3) Kèm

theo sốt cao đột ngột, các triệu chứng chúng tôi

thường gặp là đau đầu, đau bụng 27,2% Các

triệu chứng xuất huyết thường gặp là chấm xuất

huyết tự nhiên 65,2%, chảy máu mũi, chảy máu

chân răng, chảy máu dạ dày 4,8%, chảy máu cơ:

0,2% Theo Lai PC trong hội chứng sốc dengue

chảy máu dạ dày: 46,1%, khái huyết: 30,8% và

thời gian nằm viện là 7,1 ngày(3)

Tiểu cầu giảm dần từ ngày thứ 3 - 6 đến

ngày thứ 8 thì hồi phục Số lượng tiểu cầu giảm

thấp nhất là: 1,100/mm3, nhưng không tương

xứng với mức độ nặng của bệnh hay mức độ

chảy máu Tương tự nghiên cứu của Nisalak R

cho rằng mức độ giảm tiểu cầu không liên quan

với mức độ chảy máu và tràn dịch màng phổi

Narayanan M cũng cho rằng không có sự liên

quan giữa chảy máu và mức độ giảm tiểu cầu(6)

Điều này gợi ý rằng thay đổi tính thấm thành

mạch có thể là yếu tố cơ bản liên quan với mức

độ nặng của bệnh hơn so với mức giảm tiểu cầu

Theo Souza LJ sốt xuất huyết thường đi kèm với tổn thương gan, men gan tăng vừa AST: 93UI/L, ALT: 86UI/ và thường gặp trong trường hợp nặng (P < 0,001)(11) Theo Narayanan M tăng men gan và giảm tiểu cầu

là thường gặp trong sốt xuất huyết dengue(6) Chúng tôi thấy men gan tăng từ ngày thứ 3 và sau 2 tuần mới trở về bình thường, tăng men gan phục hồi chậm hơn giảm tiểu cầu Mức

độ tăng của AST cao hơn ALT chứng tỏ có tổn thương gan cấp tính

Các triệu chứng thường đi kèm với hội chứng sốc dengue là gan to, tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi, có ý nghĩa thống kê Tương tự sự cô đặc máu, hematocrit tăng cao, hồng cầu tăng cao khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm SD/SXHD và nhóm DSS (P < 0,05) Điều này chứng tỏ càng cô đặc máu càng có nguy cơ xảy ra DSS Tất cả bệnh nhân vào viện đều được chẩn đoán là SD/SXHD tức là độ 1 & 2 không có ca nào chuyển sang độ 3 Có 11 bệnh nhân độ 3 (hội chứng sốc dengue –DSS) đều đã được điều trị ở tuyến trước Điều này cho thấy điều trị giảm cô đặc máu đã làm giảm nguy cơ xảy ra hội chứng sốc dengue Có 12 bệnh nhân

có nhịp tim chậm dưới 50 lần/phút, trong đó có

2 bệnh nhân có block A-V độ 2 xảy ra ở ngày thứ 6 của bệnh Sau khi điều trị bằng ventolin uống, vài ngày sau bệnh nhân đã hồi phục nhịp xoang Gần đây có nhiều báo cáo về biến chứng viêm cơ tim trong sốt xuất huyết Năm 2004 một báo cáo ở Thái Lan cho thấy co bóp cơ tim giảm trong giai đoạn toàn phát

Tóm lại tỉ lệ bệnh nhân sốt xuất huyết nhập viện điều trị nội trú ngày càng gia tăng trong những năm gần đây Miền Nam Việt nam nằm trong vùng dịch tễ lưu hành, các bệnh viện tuyến cơ sở quá tải Truyền nhiễm bệnh viện Thống Nhất đã nhận điều trị một số lượng bệnh nhân đáng kể với tỉ lệ DSS là 2,21% và có 1 trường hợp tử vong ở bệnh nhân 70 tuổi Bệnh nhân nhập viện tăng lên vào các tháng cuối năm, vì vậy cần bố trí nhân lực, giường bệnh, cơ

số thuốc, để phục vụ điều trị bệnh nhân tốt,

Trang 6

chia sẻ một phần gánh nặng với y tế tuyến cơ

sở

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 497 bệnh nhân vào điều trị

nội trú tại Truyền nhiễm Bệnh viện Thống Nhất

từ 1/1/2008 đến 31/12/2008 chúng tôi nhận thấy

Tỉ lệ DSS là 2,21% và có 1 ca tử vong chiếm tỉ

lệ 0,2%

Lâm sàng chủ yếu của SD/SXHD là sốt cao

đột ngột thường kéo dài 5-7 ngày, đau đầu và

nổi chấm xuất huyết

Các yếu tố liên quan vơí mức độ nặng của

bệnh là cô đặc máu, dung tích hồng cầu tăng

cao, gan to, tràn dịch màng bụng, tràn dịch

màng phổi

Mức độ giảm tiểu cầu không tương xứng

với mức độ nặng của bệnh cũng như mức độ

chảy máu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế (2006) “Tình hình sốt dengue và sốt xuất huyết dengue

tại các khu vực và trên thế giới”, Tài liệu tập huấn 2/2006 Cục Y

Tế dự phòng Việt Nam, Tr.1-101

2 Dash PK., et al., (2006) “Reemergence of dengue virus Type–3

(subtype-III) in India: implications for increased incidence of

DHF & DSS”, Virol J Jul6;3:55

3 Krishnamurti C., et al.(2001) “Mechanisms of hemorrhage in

dengue without circulatory collapse”, Am J Trop Med Hyg

Dec;65(6):840-7

4 Lai PC, et al., (2004) “Characteristics of dengue hemorragic

fever outbreak in 2001 in Kaohsiung”, J Microbiol Immunol Infect

Oct;37(5):266-70

5 Lê Thị Thu Thảo (2007) “Những thách thức mới trong điều trị

bệnh sốt xuất huyết DENGUE người lớn hiện nay”, HNKH

2007 Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, Tr.,13-23

6 Lee MS., et al., (2006) “Clinical characteristics of dengue and dengue hemorrhagic fever in medical center of southern Taiwan

during the 2002 epidermic”, J Microbiol Immunol Infect

Apr;39(2):121-9

7 Narayanan M., et al., (2002) “Dengue fever epidermic in

Chennai-a study of clinical profile and outcome”, Indian Pediatr

Nov;39(11):1027-33

8 Nguyễn Thanh Hùng (2006) “Biện pháp can thiệp góp phần giảm tỉ lệ tử vong bệnh sốt xuất huyết Dengue tại các tỉnh phía

nam, Việt Nam”, HNKH 2006 Kỷ niệm 115 năm thành lập viện

Pasteur TP HCM,11/2006, 1891-2006, Tr 17

9 Nguyễn Vĩnh Châu (2007) “Vai trò của đáp ứng miễn dịch chéo

giữa các serotype trong cơ chế bệnh sinh nhiễm vurus dengue”,

HNKH 2007 Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, Tr.,36-40

10 Rahman M., et al., (2002) “First outbreak of dengue hemorragic

fever, Bangladesh”, Emerg Infect Dis., Jul;8(7):738-40

11 Siqueira JB Jr., et al., (2005) “Dengue and dengue hemorrhagic

fever, Brazil, 1981-2002”, Emerg Infect Dis., Jan;11(1): 48-53

12 Souza LJ, et al., (2004) “ Aminotransferase changes and acute hepatitis in patient with dengue fever: analysis of 1.585 cases”,

Braz J Infect Dis Apr;8(2): 156-63

13 Wills BA, et al., (2005) “Comparision of three fluid solutions for

resuscitation in dengue shock syndrome”, N Engl J Med Sep,

1;353(9): 877-89

Ngày đăng: 23/01/2020, 13:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w