1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân mề đay đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh

7 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 418,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về bệnh mề đay, biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy bác sĩ có thể dự đoán thể lâm sàng thông qua các triệu chứng như tuổi, phù mạch, thời gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý.

Trang 1

TRÊN BỆNH NHÂN MỀ ĐAY ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU 

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

Lê Thị Minh Ngọc*, Lê Ngọc Diệp** 

TÓM TẮT  

Đặt vấn đề: Mề đay là bệnh khá phổ biến. Ước tính khoảng 15‐20% dân số từng mắc bệnh ít nhất một lần 

trong đời. Tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vẫn còn rất ít thông tin về đặc điểm lâm sàng của bệnh mề  đay.  

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến 

khám tại bệnh viện Da Liễu TPHCM 

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Bệnh nhân mề đay đến khám và điều trị tại bệnh viện Da 

Liễu TP.HCM từ 01/09/2012 đến 31/03/2013. 

Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 28,41tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh nữ/ nam: 1,85/1. Nữ có tuổi mắc bệnh muộn 

hơn. Đa số bệnh nhân đến khám trong 2 tuần đầu khởi bệnh. Da vẽ nổi chiếm tỉ lệ cao nhất 41%. Tỉ lệ nhiễm  trùng chiếm 46%, trong đó viêm đường hô hấp thường gặp nhất. 31% bệnh nhân có kèm viêm mũi dị ứng. Tỉ lệ 

Hp dương tính ở nhóm có triệu chứng đau dạ dày cao hơn nhóm không triệu chứng (p=0,003). Tỉ lệ bệnh nhân 

mề đay mạn cư trú tại Tp HCM là 27%, ở các tỉnh là 43,5% (p=0,037). Nhóm bệnh nhân <16 tuổi có tỉ lệ bệnh 

mề đay cấp chiếm 90% so với nhóm >=16 tuổi chỉ 64,7% (p=0,005). 56,1% bệnh nhân mề đay mạn có thời gian  thương tổn <4 giờ so với 34,9% mề đay cấp (p=0,007). Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch chiếm tỉ lệ  42,1% so với 21,4% mề đay cấp (p=0,004). 87,7% bệnh nhân mề đay mạn có yếu tố vật lý thúc đẩy so với 61,1% 

mề đay cấp (p=0,0003) 

Kết luận: Bác sĩ lâm sàng nên quan tâm đến việc hỏi để loại trừ các yếu tố vật lý. Đối với những bệnh nhân 

bệnh vẫn kéo dài, đáp ứng điều trị kém có thể xem xét việc xét nghiệm Hp và điều trị Hp. Bác sĩ có thể dự đoán  thể lâm sàng thông qua các triệu chứng như tuổi, phù mạch, thời gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý. 

Từ khóa: mề đay, đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan, bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh 

ABSTRACT 

CLINICAL CHARACTERISTICS AND SOME RELATED FACTORS ON URICARIA PATIENTS AT HO 

CHI MINH CITY HOSPITAL OF DERMATO‐VENEREOLOGY 

Le Thi Minh Ngoc, Le Ngoc Diep * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 66 ‐ 72 

Background: Urticaria is a very common disease. About 15‐20% the population used to have this disease at 

least once in their lifetime. Particularly, in Ho Chi Minh City, is still very little information about the clinical  characteristics on urticaria. 

Objective:  Describe  the  clinical  characteristics  and  some  related  factors  on  acute  and  chronic  urticaria 

patients at HCMC hospital of Dermato ‐Venereology. 

Methods: A case series. Urticaria patients to examination and treatment at HCMC hospital of Dermato ‐

Venereology from 01/09/2012 to 31/03/2013. 

Results: The average age of urticaria patients was 28.41 years. The incidence of female/ male was 1.85/ 1. 

* Bộ môn Da Liễu ĐHYD Tp. HCM  ** Bộ môn Da Liễu Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh 

Trang 2

The onset age in women was later than men. Most of patients came to the hospital in the first 2 weeks of the onset.  The dermagraphism rate was 41 % of cases. The infection rate was 46% and respiratory infection was the most  frequent causes. 31 % of patients had allergic rhinitis. Hp ‐positive rate in the group with symptoms of gastritis  was higher than in asymptomatic group (p = 0.003). The rate of chronic urticaria patients living in Ho Chi Minh  City was 27 %, in other provinces was 43.5 % (p = 0.037). In group of patients < 16 years the prevalence of  urticaria was 90%, compared with group ≥ 16 years was only 64.7 % (p = 0.005). 56.1 % of chronic urticaria  patients had the duration of injury < 4 hours compared with 34.9 % of acute urticaria (p = 0.007). In patients  with chronic urticaria, the rate of angioedema was 42.1 % compared with acute urticaria was 21.4 % (p = 0.004.  87.7% of chronic urticaria patients had physical factors compared with 61.1 % of acute urticaria (p = 0.0003). 

Conclusion:  Dermatologist  should  ask  to  eliminate  the  physical  factors.  If  patients  have  poor  treatment 

response,  test  for  Hp  and  Hp  treatment  should  be  considered.  Doctors  can  predict  the  outcome  by  clinical  symptoms such as age, angioedema, duration of injury, physical factors. 

Keywords: urticaria, clinical characteristics, related factors, HCMC hospital of Dermato ‐Venereology 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Mề  đay  là  bệnh  khá  phổ  biến.  Ước  tính 

khoảng  15‐20%  dân  số  từng  mắc  bệnh  ít  nhất 

một lần trong đời. Theo thống kê của bệnh viện 

Da  Liễu  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  năm  2011  có 

546.863  lượt  khám,  14.501  bệnh  nhân  mề  đay, 

đứng hàng thứ 3 trên tổng số bệnh da liễu đến 

khám mỗi năm. 

Trái với đặc tính là một bệnh dễ chẩn đoán, 

hiện nay mề đay vẫn còn gây nhiều khó khăn 

trong  việc  theo  dõi  và  điều  trị.  Vì  không  thể 

đoán trước diễn tiến bệnh cũng như khả năng 

thuyên  giảm  tự  phát(14).  Mề  đay  mạn  có  thời 

gian  bệnh  kéo  dài  trung  bình  từ  1  đến  5  năm 

hay  có  thể  10  năm  gây  nản  lòng  cho  cả  bệnh 

nhân  và  thầy  thuốc(7).  Những  trường  hợp  này 

cần  phải  tuân  thủ  điều  trị,  dùng  thuốc  hàng 

ngày  dù  không  có  triệu  chứng.  Hơn  nữa,  mề 

đay  mạn  tuy  chiếm  tỉ  lệ  thấp  trong  dân  số 

nhưng  lại  ảnh  hưởng  nhiều  đến  chất  lượng 

cuộc sống của bệnh nhân(12)

Nhiều  nghiên  cứu  trên  thế  giới  về  yếu  tố 

dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, các thể bệnh riêng biệt, 

cũng như đáp ứng điều trị bệnh mề đay(5). Hiện 

nay,  vẫn  còn  nhiều  tranh  luận  trong  việc  tìm 

nguyên nhân, các yếu tố liên quan. Nhiều ý kiến 

trái ngược về các nguyên nhân gây bệnh mà gần 

đây  là  tình  trạng  nhiễm  vi  khuẩn  Helicobacter 

pylori tại dạ dày, sự liên quan với cơ địa dị ứng, 

thức ăn, nhiễm ký sinh trùng(2,6,13, 16). 

Nhưng  tại  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  nói  riêng,  vẫn  còn  rất  ít  thông  tin  về  đặc  điểm  lâm  sàng  của  bệnh  mề  đay.  Từ  những  vấn  đề  trên,  chúng tôi tiến hành thực hiện cứu này. Mục đích  xác định các yếu tố liên quan đến thể lâm sàng  trên bệnh nhân mề đay đến khám tại bệnh viện 

Da  liễu  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh.  Mong  muốn  góp phần vào việc kiểm soát bệnh một cách toàn  diện hơn cho bệnh nhân.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Mô tả biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên  quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến khám  tại bệnh viện Da Liễu TPHCM từ 01/09/2012 đến 

31/03/2013.  

Mục tiêu chuyên biệt 

Mô  tả  đặc  điểm  dịch  tễ  và  đặc  điểm  lâm  sàng  của  bệnh  nhân  mề  đay  cấp  và  mạn  đến  khám tại bệnh viện Da Liễu TPHCM. 

Xác định mối liên quan giữa dạng lâm sàng 

mề đay cấp và mạn với đặc điểm dịch tễ; các yếu 

tố thúc đẩy: nhiễm trùng, tác nhân vật lý; cơ địa 

dị ứng và tiền căn gia đình. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu  

Bệnh nhân mề đay đến khám và điều trị tại  bệnh viện Da Liễu TP.HCM. 

Trang 3

Đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  mề  đay  dựa 

vào lâm sàng: sẩn phù có kèm hay không kèm 

phù mạch. 

Đối với mề đay mạn xét nghiệm huyết thanh 

IgG kháng Helicobacter pylori. Đây là những bệnh 

nhân có hoặc không có triệu chứng đau dạ dày 

chưa  xét  nghiệm  và  chưa  điều  trị  tiệt  trừ  Hp 

trước đó. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân không thỏa bất kỳ tiêu chuẩn nào 

thuộc tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu  

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả hàng loạt ca. 

Cỡ mẫu 

Chọn mẫu toàn bộ. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Khi bệnh nhân đến khám, được chẩn đoán 

bệnh mề đay, bệnh nhân sẽ được giải thích kỹ 

về  mục  tiêu,  cách  thức  tiến  hành  nghiên  cứu 

và  nếu  đồng  ý,  bệnh  nhân  kí  vào  biên  bản 

đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu.  Mỗi  bệnh  nhân 

được  hỏi  kỹ  về  bệnh  sử,  khám  lâm  sàng,  ghi 

nhận  tất  cả  các  yếu  tố  liên  quan  vào  bệnh  án. 

Bệnh nhân mề đay mạn sẽ được lấy máu (3ml) 

gửi xét nghiệm huyết thanh IgG kháng Hp tại 

trung tâm Medic. 

Phân tích số liệu 

Số  liệu  thu  thập  được  nhập  và  phân  tích 

bằng máy tính với phần mềm SPSS 16. 

KẾT QUẢ 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  từ  tháng 

09/2012 đến tháng 03/2013, có 183 bệnh nhân mề 

đay được nhận vào mẫu nghiên cứu. 

Đặc điểm của bệnh nhân mề đay 

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ 

Tuổi Trung bình 28,41 (độ lệch chuẩn 13,83); nhóm 20-29 tuổi chiếm tỉ lệ 33% Giới tính nam/nữ: 1/1.85; tuổi trung bình của nam là 22 ± 12,04 tuổi; nữ là 32 ± 13,54 tuổi (t = -4,877,

sign= 0,0001)

Trình độ

Đặc điểm lâm sàng 

Thời gian bệnh: Mề đay cấp/ mề đay mạn: 2/1. 

Bệnh  nhân  đến  khám  trong  2  tuần  khởi  bệnh 

chiếm 41,6%. 

Thời  gian  tồn  tại  của  thương  tổn:  58%  bệnh  nhân có thương tổn tồn tại từ 4‐ 36 giờ  

Phù mạch: 28% bệnh nhân có kèm phù mạch.  Yếu tố vật lý thúc đẩy: 69% có yếu tố thúc đẩy, 

da  vẽ  nổi  thường  gặp  nhất  (41%),  nhiệt  độ  cao  25%, ít gặp nhất là rung 2%.  

Nhiễm  trùng  kèm  theo:  46%  có  nhiễm  trùng. 

Trong đó, 39% bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp, tỉ 

lệ nhiễm Hp chiếm 30%. 18% bệnh nhân tồn tại  cùng lúc 2 yếu tố nhiễm trùng. 

Cơ địa dị ứng: chiếm 1/3  bệnh  nhân  mề  đay. 

Viêm  mũi  dị  ứng  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  66%.  Kế  đến là viêm da tiếp xúc 16,3%. Hen phế quản rất  hiếm gặp. 

Tiền căn gia đình bệnh mề đay: 33% bệnh nhân 

có tiền căn gia đình bệnh mề đay. 

Tiền căn đau dạ dày tá tràng/ mề đay mạn:  54% bệnh nhân mề đay mạn có triệu chứng đau 

dạ dày. 

Kết quả xét nghiệm Hp: tỉ lệ dương tính chiếm  60%/ 57 bệnh nhân mề đay mạn 

Các yếu tố liên quan: 

Mối  liên  quan  giữa  thể  lâm  sàng  và  tuổi:  Nhóm tuổi nhỏ hơn 16 có tỉ lệ bệnh cấp 90% so  với tỉ lệ bệnh mạn 10%, sự khác biệt có ý nghĩa  thống  kê  theo  xác  suất  chính  xác  Fisher  (p=0,005). 

Mối  liên  quan  giữa  thể  lâm  sàng  và  nơi  cư  trú:  Tỉ  lệ  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  cư  trú  tại  Tp 

Trang 4

đến  từ  các  tỉnh  là  43,5%,  sự  khác  biệt  này  có  ý 

nghĩa thống kê (p= 0,037). 

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và thời gian 

tồn tại của thương tổn: Thời gian thương tổn <4 

giờ  ở  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  chiếm  56,1%  so 

với  34,9%  mề  đay  cấp.  Sự  khác  biệt  về  thể  lâm 

sàng trong nhóm có thời gian thương tổn < 4 giờ 

có ý nghĩa thống kê (p= 0,007). 

Mối  liên  quan  giữa  thể  lâm  sàng  và  phù 

mạch: Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch 

chiếm 42,1% so với 21,4% mề đay cấp. Sự khác 

biệt về thể lâm sàng trong nhóm phù mạch có ý 

nghĩa thống kê (p= 0,004). 

Mối  liên  quan  giữa  thể  lâm  sàng  và  yếu  tố 

vật  lý  thúc  đẩy:  87,7%  bệnh  nhân  mề  đay  mạn 

có  yếu  tố  vật  lý  thúc  đẩy  so  với  61,1%  mề  đay 

cấp.  Sự  khác  biệt  về  thể  lâm  sàng  trong  nhóm 

mề đay có YTVL thúc đẩy có ý nghĩa thống kê 

(p=0,0003). 

Mối liên quan giữa nhiễm Hp và triệu chứng 

đau dạ dày: Nhóm có triệu chứng đau dạ dày tỉ 

lệ  dương  tính  với  Hp  là  77,4%  so  với  nhóm 

không  triệu  chứng  là  38,5%,  sự  khác  biệt  có  ý 

nghĩa thống kê (p=0,003). 

BÀN LUẬN 

Tuổi 

Độ tuổi trung bình của các bệnh nhân tham 

gia  vào  nghiên  cứu  là  28,41  (độ  lệch  chuẩn 

13,83).  Nhóm  tuổi  20‐29  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất 

33%.  Tỉ  lệ  thấp  nhất  là  nhóm  tuổi  trên  60 

chiếm 2%. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 5 tháng 

tuổi,  lớn  tuổi  nhất  là  73  tuổi.  Kết  quả  này 

giống  với  nghiên  cứu  của  tác  giả  Gaig  và 

Muge,  theo  đó  độ  tuổi  mắc  bệnh  cao  nhất 

tương ứng là từ 20‐44 tuổi và 10 ‐ 40 tuổi(3,11).  

Giới tính 

Tuổi  trung  bình  của  nam  là  22  ±  12,04  tuổi; 

nữ  là  32  ±  13,54  tuổi.  Sự  khác  biệt  về  tuổi  mắc 

bệnh  trung  bình  giữa  nam  và  nữ  có  ý  nghĩa 

thống kê (t = ‐4,877, sign= 0,0001). Vậy ngoài tỉ lệ 

mắc bệnh cao hơn nam, nữ giới còn có tuổi mắc 

bệnh  trung  bình  cao  hơn.  Nữ  giới  có  tỉ  lệ  mắc  bệnh cao hơn nam giới còn được lý giải là do nữ  thường  mắc  các  bệnh  tự  miễn  hơn.  Trong  khi  bệnh  mề  đay  cũng  liên  quan  các  bệnh  tự  miễn  như: bạch biến, đái tháo đường, bệnh lý tự miễn  tuyến giáp (9). 

Thời gian bệnh: 

Bảng 1: So sánh thời gian bệnh của chúng tôi và tác 

giả Gaig 

NC của chúng tôi NC của Gaig

7-12 tháng 15,9% 9,4%

Tỉ lệ mề đay mạn phân chia theo các khoảng  thời gian bệnh giữa nghiên cứu của chúng tôi và  tác giả Gaig là khá tương đồng(3). 

Yếu tố vật lý 

Theo  Bolognia  mề  đay  vật  lý  thường  có  nhiều  dạng  phối  hợp  trên  cùng  một  bệnh  nhân,  trong  đó  da  vẽ  nổi  là  thường  gặp  nhất.  Nên  kết  quả  nghiên  cứu  hoàn  toàn  phù  hợp  với  y  văn.  Trái  lại,  theo  tác  giả  Cansin,  bệnh  nhân mề đay có liên quan yếu tố vật lý đi kèm  chiếm 29,6%, riêng đối với với mề đay mạn tỉ 

lệ  này  cao  hơn  nhiều  52,94%  và  cũng  là  nguyên  nhân  thường  gặp  nhất(1).  Kết  quả  nghiên cứu của Lee và cộng sự ghi nhận yếu tố  nhiệt  độ  cao  chiếm  50,8%(8).  Sở  dĩ  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  tỉ  lệ  cao  hơn  nhiều  so  các  nghiên  cứu  khác  trên  thế  giới  là  do  cách  ghi  nhận  triệu  chứng  hay  cũng  có  thể  đặc  điểm  này  khác  nhau  tùy  từng  chủng  tộc.  Kết  quả  của chúng tôi xác định thông qua câu hỏi yếu 

tố  vật  lý  có  ảnh  hưởng  mề  đay  xuất  hiện  hay  nổi nhiều hơn. Riêng đối với trường hợp da vẽ  nổi  thì  tiến  hành  thử  nghiệm  cụ  thể.  Nên  không  thể  khẳng  định  đây  là  mề  đay  vật  lý  theo  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  quốc  tế.  Bước  đầu  chúng tôi chỉ tạm gọi đây là những yếu tố vật 

lý  thúc  đẩy.  Tuy  vậy,  ghi  nhận  có  66  trường  hợp  bệnh  nhân  mề  đay  có  ≥  2  yếu  tố  vật  lý  thúc đẩy, tương đương 52% tổng bệnh nhân có 

Trang 5

kèm  yếu  tố  vật  lý.  Vì  vậy  khi  khai  thác  bệnh 

sử,  bác  sĩ  cần  chú  ý  hơn  vai  trò  của  các  tác 

nhân  vật  lý  đối  với  bệnh  mề  đay,  nhất  là  làm 

thử nghiệm cho da vẽ nổi.  

Nhiễm trùng 

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhiễm 

trùng  là  46%.  Thường  gặp  nhất  là  viêm  đường 

hô  hấp  39%,  kế  đến  là  nhiễm  Hp  30%.  Nhưng 

theo  tác  giả  Sackesen  ti  lệ  nhiễm  trùng  chiếm 

35%.  Riêng  nhiễm  Hp  chiếm  7,4%,  viêm  họng 

14,8%(1). Điều này có thể do quần thể nghiên cứu 

khác  nhau.  Bên  cạnh  đó  nước  ta  là  một  trong 

những  nước  có  tỉ  lệ  bệnh  truyền  nhiễm  nói 

chung khá cao. Đây cũng là yếu tố cần chú ý để 

chẩn đoán các tác nhân nhiễm trùng thường gặp 

kèm  theo  bệnh.  Đáng  chú  ý  là  tình  trạng  bệnh 

nhân  có  2  yếu  tố  nhiễm  trùng  phối  hợp  chiếm 

18%. Do đó những trường hợp mề đay mạn hay 

mề đay cấp tái phát rất cần chú ý yếu tố này.  

Cơ địa dị ứng 

Kết  quả  của  chúng  tôi  cho  thấy  chỉ  có 

khoảng  1/3  bệnh  nhân  có  cơ  địa  dị  ứng.  Trong 

đó  viêm  mũi  dị  ứng  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  66%. 

Chúng  tôi  không  ghi  nhận  bất  cứ  trường  hợp 

nào kèm viêm da cơ địa ngoài viêm da tiếp xúc. 

Có thể viêm da cơ địa chiếm tỉ lệ thấp trong dân 

số, gặp nhiều nhất ở trẻ em mà trong nghiên cứu 

của  chúng  tôi  số  trẻ  em  không  nhiều.  Kết  quả 

này phù hợp với tác giả Cansin nhưng thấp hơn 

tỉ lệ trong nghiên cứu của Lee(1,8). Nguyên nhân 

có thể do tỉ lệ bệnh thay đổi tùy quần thể nghiên 

cứu.  Chẳng  hạn  như  mức  độ  ô  nhiễm  môi 

trường, đặc điểm môi trường sống, làm việc hay 

khí hậu khác nhau thì tỉ lệ viêm mũi dị ứng, hen 

cũng khác nhau.  

Tỉ lệ Hp/ mề đay mạn 

Kết  quả  của  chúng  tôi  tỉ  lệ  dương  tính 

khoảng  60%.  Trong  đó  77,5%  nhiễm  có  triệu 

chứng,  trong  đó  có  38,5%  nhiễm  không  triệu 

chứng.  Theo  tác  giả  Wedi  37%  nhiễm  không 

triệu chứng và tỉ lệ nhiễm Hp chỉ chiếm 47%(15). 

Còn theo nghiên cứu của Muge, Mervi tỉ lệ này 

lần lượt là 40%, 37,3%(10,11). Qua đó cho thấy tỉ lệ 

nhiễm Hp trên bệnh nhân mề đay mạn cao hơn 

hẳn  so  với  số  liệu  nghiên  cứu  của  các  tác  giả 

nước  ngoài.  Có  thể  do  tỉ  lệ  nhiễm  Hp  tại  Việt 

Nam nói chung cao hơn các nước phát triển(4).   Các yếu tố liên quan 

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và nơi cư trú 

Tỉ lệ bệnh nhân mề đay mạn cư trú tại Tp  HCM  là  27%.  Trong  khi  đó  tỉ  lệ  này  ở  bệnh  nhân đến từ các tỉnh là 43,5%, sự khác biệt này 

có ý nghĩa thống kê (p=0,037). Qua kết quả này 

có  thể  cho  thấy  các  bệnh  nhân  ở  tỉnh  thường  đến  khám  khi  bệnh  đã  kéo  dài  trên  6  tuần.  Điều này cũng dễ hiểu vì phần lớn bệnh nhân 

mề đay cấp có thể điều trị tại địa phương hay 

tự  mua  thuốc  điều  trị.  Chỉ  khi  bệnh  không  thuyên giảm sau một thời gian dài, bệnh nhân  cảm  thấy  lo  lắng  nên  đến  khám  tại  bệnh  viện 

Da  liễu.  Do  vậy,  những  bệnh  nhân  mề  đay  mạn cư trú tại  các  tỉnh  cần  được  giải  thích  về  việc  kiên  trì  tái  khám  đúng  hẹn  hay  tiếp  tục  điều trị tại địa phương nếu có chuyên khoa da  liễu. Vì khi ở xa bệnh nhân sẽ gặp khó khăn về  việc  theo  dõi  và  tái  khám.  Nếu  không  giải  thích rõ có thể bệnh nhân sẽ nghĩ chỉ cần điều  trị một lần, có thể không uống thuốc đều đặn  gây khó khăn cho việc điều trị. 

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và nhóm tuổi 

Nếu chia 2 nhóm tuổi < 16 và từ 16 tuổi trở  lên thì sự khác biệt về độ tuổi và thể lâm sàng có 

ý nghĩa thống kê theo xác xuất chính xác Fisher  (p=0,005). Theo tác giả Cansin, giữa mề đay cấp 

và mạn cũng khác nhau về tuổi trung bình mắc  bệnh  với  p<0,001(1).  Bên  cạnh  đó  theo  Bolognia,  trẻ em có khuynh hướng bệnh mề đay cấp, trái  lại so với người lớn. Vậy điều này là hoàn toàn  phù hợp nghiên cứu khác và y văn.  

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và phù mạch 

Bệnh  nhân  mề  đay  mạn  có  kèm  phù  mạch  chiếm 42,1% so với 21,4% mề đay cấp. Sự khác  biệt về thể lâm sàng trong nhóm có phù mạch có 

ý  nghĩa  thống  kê  (p=0,004).  Vậy  nếu  như  một  bệnh  nhân  mề  đay  có  kèm  phù  mạch  thì  khả  năng  người  này  diễn  tiến  mạn  cao  gấp  đôi  khi 

Trang 6

không  có  triệu  chứng  này.  Nhưng  theo  tác  giả 

Cansin  thì  sự  khác  biệt  này  không  có  ý  nghĩa 

thống  kê  (p=0,6)(1).  Dù  vậy,  tỉ  lệ  phù  mạch  trên 

bệnh  nhân  mề  đay  mạn  giữa  2  nghiên  cứu  là 

khác tương đồng 41,1% so với của  chúng  tôi  là 

42,1%.  Có  thể  lí  giải  do  đặc  điểm  dân  số  được 

nghiên cứu khác nhau nên rất khó so sánh. Mẫu 

nghiên cứu của tác giả Cansin từ 1‐19 tuổi và mề 

đay  mạn  thường  gặp  ở  người  lớn  nhiều  hơn(1). 

Nên  có  sự  khác  biệt  về  tỉ  lệ  phù  mạch  giữa  2 

nhóm cấp và mạn giữa 2 nghiên cứu.  

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và thời gian 

tồn tại thương tổn 

Qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi, thời 

gian thương tổn <4 giờ ở bệnh nhân mề đay mạn 

chiếm  56,1%  so  với  34,9%  mề  đay  cấp,  sự  khác 

biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  p=0,007.  Theo 

Bologia,  mề  đay  vật  lý  thường  có  thời  gian 

thương tổn ngắn < 2h hay theo Fitzpatrick là < 4 

giờ  và  chiếm  35%  nguyên  nhân  gây  mề  đay 

mạn.  Chính  sự  liên  quan  này  nên  có  thể  giải 

thích  vì  sao  đa  số  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  có 

thương tổn tồn tại ngắn hơn so với mề đay cấp. 

Yếu  tố  này  cũng  góp  phần  giúp  ích  vào  tiên 

lượng  bệnh.  Nếu  bệnh  nhân  đến  khám  có  thời 

gian  tồn  tại  thương  tổn  <4  giờ,  thì  phần  lớn  sẽ 

diễn tiến mạn tính hơn cấp tính.  

Mối liên quan giữa thể lâm sàng và yếu tố vật lý 

Trong nhóm bệnh nhân mề đay mạn 87,7% 

có yếu tố vật lý so với 61,1% ở mề đay cấp. Sự 

khác  biệt  về  thể  lâm  sàng  trong  nhóm  có  yếu 

tố  vật  lý  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p=0,0003).  So 

sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Cansin 

p=0,002  thì  kết  quả  2  nghiên  cứu  là  giống 

nhau(16). Tuy nhiên, theo Cansin,  yếu  tố  vật  lý 

trong mề đay cấp và mạn lần lượt là 18,9% và 

52,9%. Có thể thấy tỉ lệ mề đay có yếu tố vật lý 

thúc  đẩy  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là 

khá cao. Cũng như đề cập phần trước, vì chưa 

thể khẳng định hoàn toàn đây là mề đay vật lý 

do đó có sự chênh lệch này.  

KẾT LUẬN 

Tuổi  mắc  bệnh  trung  bình  28,41tuổi.  Tỉ  lệ 

mắc bệnh nữ/ nam: 1,85/1. Nữ có tuổi mắc bệnh  muộn hơn. 

Đa số bệnh nhân đến khám trong 2 tuần đầu  khởi  bệnh.  Một  số  ít  bệnh  nhân  có  thời  gian  bệnh kéo dài trên 1 năm. 

Da vẽ nổi chiếm tỉ lệ cao nhất 41%. Đặc biệt,  một  bệnh  nhân  có  thể  bị  ảnh  hưởng  bởi  nhiều  yếu tố vật lý. 

Tỉ  lệ  nhiễm  trùng  chiếm  46%,  trong  đó  viêm  đường  hô  hấp  thường  gặp  nhất.  18%  có 

sự kết hợp 2 yếu tố nhiễm trùng trên cùng một  bệnh nhân. 

31%  bệnh  nhân  có  kèm  viêm  mũi  dị  ứng,  không ghi nhận trường hợp viêm da cơ địa. 

Tỉ lệ Hp dương tính ở nhóm có triệu chứng  đau  dạ  dày  cao  hơn  nhóm  không  triệu  chứng  (p=0,003). 

Tỉ  lệ  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  cư  trú  tại  Tp 

HCM là 27%, ở các tỉnh là 43,5% (p=0,037). 

Nhóm  bệnh  nhân  <16  tuổi  có  tỉ  lệ  bệnh  mề  đay cấp chiếm 90% so với nhóm >=16 tuổi chiếm  64,7% (p=0,005). 

56,1%  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  có  thời  gian  thương  tổn  <4  giờ  so  với  34,9%  mề  đay  cấp  (p=0,007). 

Bệnh  nhân  mề  đay  mạn  có  kèm  phù  mạch  chiếm  tỉ  lệ  42,1%  so  với  21,4%  mề  đay  cấp  (p=0,004). 

87,7% bệnh nhân mề đay mạn có yếu tố vật 

lý thúc đẩy so với 61,1% mề đay cấp (p=0,0003). 

KIẾN NGHỊ 

Tỉ  lệ  bệnh  nhân  mề  đay  mạn  sống  tại  các  tỉnh phía Nam nhiều hơn so với nhóm các bệnh  nhân đang cư trú tại TP HCM. Điều này đặt ra  vấn đề cần thiết trong việc giáo dục bệnh nhân  hiểu  rõ  về  bệnh  mề  đay.  Khi  đó,  bệnh  nhân  sẽ  tin  tưởng  theo  dõi  bệnh  ở  các  tỉnh  nơi  họ  sinh  sống, giúp giảm tải cho bệnh viện tuyến trên.  Tuy chưa thể khẳng định đây là mề đay vật 

lý nhưng các yếu tố này chiếm tỉ lệ khá cao. Gợi 

ý bác sĩ lâm sàng nên quan tâm đến việc hỏi để  loại  trừ  các  yếu  tố  vật  lý,  góp  phần  giúp  bệnh 

Trang 7

Tỉ lệ nhiễm Hp trên bệnh nhân mề đay mạn 

nhìn chung cao hơn so với tình hình nhiễm Hp 

trong cộng đồng dân số phía Nam. Nhất là các 

trường hợp có triệu chứng đau dạ dày. Chính vì 

vậy, đối với những bệnh nhân này nếu bệnh vẫn 

kéo  dài,  đáp  ứng  điều  trị  kém  có  thể  xem  xét 

việc xét nghiệm Hp và điều trị Hp. 

Bác  sĩ  có  thể  dự  đoán  thể  lâm  sàng  thông 

qua  các  triệu  chứng  như  tuổi,  phù  mạch,  thời 

gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Urticaria  in  Childhood.  Pediatric  Dermatology,  21(2):  102‐

108. 

effect  of  antibiotic  therapy  for  patients  infected  with 

Helicobacter  pylori  who  have  chronic  urticaria.  J  Am  Acad 

Dermatol; 49(5): 861‐864. 

MT, Domínguez FJ, et al (2004). Epidemiology of urticaria in 

Spain. J Invest Allergol Clin Immunol; 14(3): 214‐220. 

tần  suất  nhiễm  Helicobacter  pylori  ở  sinh  viên  trường  Đại 

Học Quốc Tế ‐ ĐH Quốc Gia TP. HCMʺ. Tạp chí Y học TP Hồ 

Chí Minh, Tập 14* Số 4: 215‐219. 

Greaves MW (1993). Autoantibodies against the high‐affinity 

IgE  receptor  as  a  cause  of  histamine  release  in  chronic 

urticaria. Engl J Med 328: 1599–1604. 

Allergy, 31(2): 167‐170. 

Fitzpatrick.  Fitzpatrick’s  Dermatology  in  Genaral  Medicine, 

A  Clinical  Study  of  Demographics,  Aggravating  Factors,  Laboratory  Findings,  Serum  Autoreactivity  and  Treatment  Response.  Journal  of  the  Formosan  Medical  Association,  110(3): 175–182. 

autoimmunity:  a  study  of  90  patients.  J  Allergy  Clin  Immunol, 84(1): 66‐71. 

10 Mervi  L,  et  al  (1998).  Etiologic  aspects  of  chronic  urticaria.  International Journal of Dermatology, 37(7): 515–519. 

Helicobacter pylori IgG antibody and autologous serum test 

in  chronic  urticaria.  International  Journal  of  Dermatology,  39(6): 443–445. 

(1997), ʺThe impact of chronic urticaria on the quality of lifeʺ. 

Br J Dermatol, 136, pp.197–201. 

British Journal of Dermatology, 108(6): 723‐724. 

Management  and  Current  and  Future  Treatment  Options.  Adis International, 64: 2515‐2536. 

Prevalence  of  Helicobacter  pylori–Associated  Gastritis  in  Chronic  Urticaria.  International  Archives  of  Allergy  and  Immunology, 116(4): 288–294. 

urticaria – clinical aspects and therapeutical responsivenessʺ.  Acta Derm Venereol (Stockh)(76): 295–297. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:   07/11/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014  

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 13:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w