Nội dung của bài viết trình bày về bệnh mề đay, biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy bác sĩ có thể dự đoán thể lâm sàng thông qua các triệu chứng như tuổi, phù mạch, thời gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý.
Trang 1TRÊN BỆNH NHÂN MỀ ĐAY ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Minh Ngọc*, Lê Ngọc Diệp**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Mề đay là bệnh khá phổ biến. Ước tính khoảng 15‐20% dân số từng mắc bệnh ít nhất một lần
trong đời. Tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vẫn còn rất ít thông tin về đặc điểm lâm sàng của bệnh mề đay.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến
khám tại bệnh viện Da Liễu TPHCM
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Bệnh nhân mề đay đến khám và điều trị tại bệnh viện Da
Liễu TP.HCM từ 01/09/2012 đến 31/03/2013.
Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 28,41tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh nữ/ nam: 1,85/1. Nữ có tuổi mắc bệnh muộn
hơn. Đa số bệnh nhân đến khám trong 2 tuần đầu khởi bệnh. Da vẽ nổi chiếm tỉ lệ cao nhất 41%. Tỉ lệ nhiễm trùng chiếm 46%, trong đó viêm đường hô hấp thường gặp nhất. 31% bệnh nhân có kèm viêm mũi dị ứng. Tỉ lệ
Hp dương tính ở nhóm có triệu chứng đau dạ dày cao hơn nhóm không triệu chứng (p=0,003). Tỉ lệ bệnh nhân
mề đay mạn cư trú tại Tp HCM là 27%, ở các tỉnh là 43,5% (p=0,037). Nhóm bệnh nhân <16 tuổi có tỉ lệ bệnh
mề đay cấp chiếm 90% so với nhóm >=16 tuổi chỉ 64,7% (p=0,005). 56,1% bệnh nhân mề đay mạn có thời gian thương tổn <4 giờ so với 34,9% mề đay cấp (p=0,007). Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch chiếm tỉ lệ 42,1% so với 21,4% mề đay cấp (p=0,004). 87,7% bệnh nhân mề đay mạn có yếu tố vật lý thúc đẩy so với 61,1%
mề đay cấp (p=0,0003)
Kết luận: Bác sĩ lâm sàng nên quan tâm đến việc hỏi để loại trừ các yếu tố vật lý. Đối với những bệnh nhân
bệnh vẫn kéo dài, đáp ứng điều trị kém có thể xem xét việc xét nghiệm Hp và điều trị Hp. Bác sĩ có thể dự đoán thể lâm sàng thông qua các triệu chứng như tuổi, phù mạch, thời gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý.
Từ khóa: mề đay, đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan, bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh
ABSTRACT
CLINICAL CHARACTERISTICS AND SOME RELATED FACTORS ON URICARIA PATIENTS AT HO
CHI MINH CITY HOSPITAL OF DERMATO‐VENEREOLOGY
Le Thi Minh Ngoc, Le Ngoc Diep * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 66 ‐ 72
Background: Urticaria is a very common disease. About 15‐20% the population used to have this disease at
least once in their lifetime. Particularly, in Ho Chi Minh City, is still very little information about the clinical characteristics on urticaria.
Objective: Describe the clinical characteristics and some related factors on acute and chronic urticaria
patients at HCMC hospital of Dermato ‐Venereology.
Methods: A case series. Urticaria patients to examination and treatment at HCMC hospital of Dermato ‐
Venereology from 01/09/2012 to 31/03/2013.
Results: The average age of urticaria patients was 28.41 years. The incidence of female/ male was 1.85/ 1.
* Bộ môn Da Liễu ĐHYD Tp. HCM ** Bộ môn Da Liễu Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Trang 2The onset age in women was later than men. Most of patients came to the hospital in the first 2 weeks of the onset. The dermagraphism rate was 41 % of cases. The infection rate was 46% and respiratory infection was the most frequent causes. 31 % of patients had allergic rhinitis. Hp ‐positive rate in the group with symptoms of gastritis was higher than in asymptomatic group (p = 0.003). The rate of chronic urticaria patients living in Ho Chi Minh City was 27 %, in other provinces was 43.5 % (p = 0.037). In group of patients < 16 years the prevalence of urticaria was 90%, compared with group ≥ 16 years was only 64.7 % (p = 0.005). 56.1 % of chronic urticaria patients had the duration of injury < 4 hours compared with 34.9 % of acute urticaria (p = 0.007). In patients with chronic urticaria, the rate of angioedema was 42.1 % compared with acute urticaria was 21.4 % (p = 0.004. 87.7% of chronic urticaria patients had physical factors compared with 61.1 % of acute urticaria (p = 0.0003).
Conclusion: Dermatologist should ask to eliminate the physical factors. If patients have poor treatment
response, test for Hp and Hp treatment should be considered. Doctors can predict the outcome by clinical symptoms such as age, angioedema, duration of injury, physical factors.
Keywords: urticaria, clinical characteristics, related factors, HCMC hospital of Dermato ‐Venereology
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mề đay là bệnh khá phổ biến. Ước tính
khoảng 15‐20% dân số từng mắc bệnh ít nhất
một lần trong đời. Theo thống kê của bệnh viện
Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 có
546.863 lượt khám, 14.501 bệnh nhân mề đay,
đứng hàng thứ 3 trên tổng số bệnh da liễu đến
khám mỗi năm.
Trái với đặc tính là một bệnh dễ chẩn đoán,
hiện nay mề đay vẫn còn gây nhiều khó khăn
trong việc theo dõi và điều trị. Vì không thể
đoán trước diễn tiến bệnh cũng như khả năng
thuyên giảm tự phát(14). Mề đay mạn có thời
gian bệnh kéo dài trung bình từ 1 đến 5 năm
hay có thể 10 năm gây nản lòng cho cả bệnh
nhân và thầy thuốc(7). Những trường hợp này
cần phải tuân thủ điều trị, dùng thuốc hàng
ngày dù không có triệu chứng. Hơn nữa, mề
đay mạn tuy chiếm tỉ lệ thấp trong dân số
nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân(12)
Nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố
dịch tễ, cơ chế sinh bệnh, các thể bệnh riêng biệt,
cũng như đáp ứng điều trị bệnh mề đay(5). Hiện
nay, vẫn còn nhiều tranh luận trong việc tìm
nguyên nhân, các yếu tố liên quan. Nhiều ý kiến
trái ngược về các nguyên nhân gây bệnh mà gần
đây là tình trạng nhiễm vi khuẩn Helicobacter
pylori tại dạ dày, sự liên quan với cơ địa dị ứng,
thức ăn, nhiễm ký sinh trùng(2,6,13, 16).
Nhưng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vẫn còn rất ít thông tin về đặc điểm lâm sàng của bệnh mề đay. Từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện cứu này. Mục đích xác định các yếu tố liên quan đến thể lâm sàng trên bệnh nhân mề đay đến khám tại bệnh viện
Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Mong muốn góp phần vào việc kiểm soát bệnh một cách toàn diện hơn cho bệnh nhân.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mô tả biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến khám tại bệnh viện Da Liễu TPHCM từ 01/09/2012 đến
31/03/2013.
Mục tiêu chuyên biệt
Mô tả đặc điểm dịch tễ và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mề đay cấp và mạn đến khám tại bệnh viện Da Liễu TPHCM.
Xác định mối liên quan giữa dạng lâm sàng
mề đay cấp và mạn với đặc điểm dịch tễ; các yếu
tố thúc đẩy: nhiễm trùng, tác nhân vật lý; cơ địa
dị ứng và tiền căn gia đình.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân mề đay đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu TP.HCM.
Trang 3Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân được chẩn đoán mề đay dựa
vào lâm sàng: sẩn phù có kèm hay không kèm
phù mạch.
Đối với mề đay mạn xét nghiệm huyết thanh
IgG kháng Helicobacter pylori. Đây là những bệnh
nhân có hoặc không có triệu chứng đau dạ dày
chưa xét nghiệm và chưa điều trị tiệt trừ Hp
trước đó.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không thỏa bất kỳ tiêu chuẩn nào
thuộc tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca.
Cỡ mẫu
Chọn mẫu toàn bộ.
Phương pháp thu thập số liệu
Khi bệnh nhân đến khám, được chẩn đoán
bệnh mề đay, bệnh nhân sẽ được giải thích kỹ
về mục tiêu, cách thức tiến hành nghiên cứu
và nếu đồng ý, bệnh nhân kí vào biên bản
đồng ý tham gia nghiên cứu. Mỗi bệnh nhân
được hỏi kỹ về bệnh sử, khám lâm sàng, ghi
nhận tất cả các yếu tố liên quan vào bệnh án.
Bệnh nhân mề đay mạn sẽ được lấy máu (3ml)
gửi xét nghiệm huyết thanh IgG kháng Hp tại
trung tâm Medic.
Phân tích số liệu
Số liệu thu thập được nhập và phân tích
bằng máy tính với phần mềm SPSS 16.
KẾT QUẢ
Trong nghiên cứu của chúng tôi từ tháng
09/2012 đến tháng 03/2013, có 183 bệnh nhân mề
đay được nhận vào mẫu nghiên cứu.
Đặc điểm của bệnh nhân mề đay
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ
Tuổi Trung bình 28,41 (độ lệch chuẩn 13,83); nhóm 20-29 tuổi chiếm tỉ lệ 33% Giới tính nam/nữ: 1/1.85; tuổi trung bình của nam là 22 ± 12,04 tuổi; nữ là 32 ± 13,54 tuổi (t = -4,877,
sign= 0,0001)
Trình độ
Đặc điểm lâm sàng
Thời gian bệnh: Mề đay cấp/ mề đay mạn: 2/1.
Bệnh nhân đến khám trong 2 tuần khởi bệnh
chiếm 41,6%.
Thời gian tồn tại của thương tổn: 58% bệnh nhân có thương tổn tồn tại từ 4‐ 36 giờ
Phù mạch: 28% bệnh nhân có kèm phù mạch. Yếu tố vật lý thúc đẩy: 69% có yếu tố thúc đẩy,
da vẽ nổi thường gặp nhất (41%), nhiệt độ cao 25%, ít gặp nhất là rung 2%.
Nhiễm trùng kèm theo: 46% có nhiễm trùng.
Trong đó, 39% bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp, tỉ
lệ nhiễm Hp chiếm 30%. 18% bệnh nhân tồn tại cùng lúc 2 yếu tố nhiễm trùng.
Cơ địa dị ứng: chiếm 1/3 bệnh nhân mề đay.
Viêm mũi dị ứng chiếm tỉ lệ cao nhất 66%. Kế đến là viêm da tiếp xúc 16,3%. Hen phế quản rất hiếm gặp.
Tiền căn gia đình bệnh mề đay: 33% bệnh nhân
có tiền căn gia đình bệnh mề đay.
Tiền căn đau dạ dày tá tràng/ mề đay mạn: 54% bệnh nhân mề đay mạn có triệu chứng đau
dạ dày.
Kết quả xét nghiệm Hp: tỉ lệ dương tính chiếm 60%/ 57 bệnh nhân mề đay mạn
Các yếu tố liên quan:
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và tuổi: Nhóm tuổi nhỏ hơn 16 có tỉ lệ bệnh cấp 90% so với tỉ lệ bệnh mạn 10%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo xác suất chính xác Fisher (p=0,005).
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và nơi cư trú: Tỉ lệ bệnh nhân mề đay mạn cư trú tại Tp
Trang 4đến từ các tỉnh là 43,5%, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p= 0,037).
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và thời gian
tồn tại của thương tổn: Thời gian thương tổn <4
giờ ở bệnh nhân mề đay mạn chiếm 56,1% so
với 34,9% mề đay cấp. Sự khác biệt về thể lâm
sàng trong nhóm có thời gian thương tổn < 4 giờ
có ý nghĩa thống kê (p= 0,007).
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và phù
mạch: Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch
chiếm 42,1% so với 21,4% mề đay cấp. Sự khác
biệt về thể lâm sàng trong nhóm phù mạch có ý
nghĩa thống kê (p= 0,004).
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và yếu tố
vật lý thúc đẩy: 87,7% bệnh nhân mề đay mạn
có yếu tố vật lý thúc đẩy so với 61,1% mề đay
cấp. Sự khác biệt về thể lâm sàng trong nhóm
mề đay có YTVL thúc đẩy có ý nghĩa thống kê
(p=0,0003).
Mối liên quan giữa nhiễm Hp và triệu chứng
đau dạ dày: Nhóm có triệu chứng đau dạ dày tỉ
lệ dương tính với Hp là 77,4% so với nhóm
không triệu chứng là 38,5%, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p=0,003).
BÀN LUẬN
Tuổi
Độ tuổi trung bình của các bệnh nhân tham
gia vào nghiên cứu là 28,41 (độ lệch chuẩn
13,83). Nhóm tuổi 20‐29 chiếm tỉ lệ cao nhất
33%. Tỉ lệ thấp nhất là nhóm tuổi trên 60
chiếm 2%. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 5 tháng
tuổi, lớn tuổi nhất là 73 tuổi. Kết quả này
giống với nghiên cứu của tác giả Gaig và
Muge, theo đó độ tuổi mắc bệnh cao nhất
tương ứng là từ 20‐44 tuổi và 10 ‐ 40 tuổi(3,11).
Giới tính
Tuổi trung bình của nam là 22 ± 12,04 tuổi;
nữ là 32 ± 13,54 tuổi. Sự khác biệt về tuổi mắc
bệnh trung bình giữa nam và nữ có ý nghĩa
thống kê (t = ‐4,877, sign= 0,0001). Vậy ngoài tỉ lệ
mắc bệnh cao hơn nam, nữ giới còn có tuổi mắc
bệnh trung bình cao hơn. Nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới còn được lý giải là do nữ thường mắc các bệnh tự miễn hơn. Trong khi bệnh mề đay cũng liên quan các bệnh tự miễn như: bạch biến, đái tháo đường, bệnh lý tự miễn tuyến giáp (9).
Thời gian bệnh:
Bảng 1: So sánh thời gian bệnh của chúng tôi và tác
giả Gaig
NC của chúng tôi NC của Gaig
7-12 tháng 15,9% 9,4%
Tỉ lệ mề đay mạn phân chia theo các khoảng thời gian bệnh giữa nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Gaig là khá tương đồng(3).
Yếu tố vật lý
Theo Bolognia mề đay vật lý thường có nhiều dạng phối hợp trên cùng một bệnh nhân, trong đó da vẽ nổi là thường gặp nhất. Nên kết quả nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với y văn. Trái lại, theo tác giả Cansin, bệnh nhân mề đay có liên quan yếu tố vật lý đi kèm chiếm 29,6%, riêng đối với với mề đay mạn tỉ
lệ này cao hơn nhiều 52,94% và cũng là nguyên nhân thường gặp nhất(1). Kết quả nghiên cứu của Lee và cộng sự ghi nhận yếu tố nhiệt độ cao chiếm 50,8%(8). Sở dĩ nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ cao hơn nhiều so các nghiên cứu khác trên thế giới là do cách ghi nhận triệu chứng hay cũng có thể đặc điểm này khác nhau tùy từng chủng tộc. Kết quả của chúng tôi xác định thông qua câu hỏi yếu
tố vật lý có ảnh hưởng mề đay xuất hiện hay nổi nhiều hơn. Riêng đối với trường hợp da vẽ nổi thì tiến hành thử nghiệm cụ thể. Nên không thể khẳng định đây là mề đay vật lý theo tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế. Bước đầu chúng tôi chỉ tạm gọi đây là những yếu tố vật
lý thúc đẩy. Tuy vậy, ghi nhận có 66 trường hợp bệnh nhân mề đay có ≥ 2 yếu tố vật lý thúc đẩy, tương đương 52% tổng bệnh nhân có
Trang 5kèm yếu tố vật lý. Vì vậy khi khai thác bệnh
sử, bác sĩ cần chú ý hơn vai trò của các tác
nhân vật lý đối với bệnh mề đay, nhất là làm
thử nghiệm cho da vẽ nổi.
Nhiễm trùng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhiễm
trùng là 46%. Thường gặp nhất là viêm đường
hô hấp 39%, kế đến là nhiễm Hp 30%. Nhưng
theo tác giả Sackesen ti lệ nhiễm trùng chiếm
35%. Riêng nhiễm Hp chiếm 7,4%, viêm họng
14,8%(1). Điều này có thể do quần thể nghiên cứu
khác nhau. Bên cạnh đó nước ta là một trong
những nước có tỉ lệ bệnh truyền nhiễm nói
chung khá cao. Đây cũng là yếu tố cần chú ý để
chẩn đoán các tác nhân nhiễm trùng thường gặp
kèm theo bệnh. Đáng chú ý là tình trạng bệnh
nhân có 2 yếu tố nhiễm trùng phối hợp chiếm
18%. Do đó những trường hợp mề đay mạn hay
mề đay cấp tái phát rất cần chú ý yếu tố này.
Cơ địa dị ứng
Kết quả của chúng tôi cho thấy chỉ có
khoảng 1/3 bệnh nhân có cơ địa dị ứng. Trong
đó viêm mũi dị ứng chiếm tỉ lệ cao nhất 66%.
Chúng tôi không ghi nhận bất cứ trường hợp
nào kèm viêm da cơ địa ngoài viêm da tiếp xúc.
Có thể viêm da cơ địa chiếm tỉ lệ thấp trong dân
số, gặp nhiều nhất ở trẻ em mà trong nghiên cứu
của chúng tôi số trẻ em không nhiều. Kết quả
này phù hợp với tác giả Cansin nhưng thấp hơn
tỉ lệ trong nghiên cứu của Lee(1,8). Nguyên nhân
có thể do tỉ lệ bệnh thay đổi tùy quần thể nghiên
cứu. Chẳng hạn như mức độ ô nhiễm môi
trường, đặc điểm môi trường sống, làm việc hay
khí hậu khác nhau thì tỉ lệ viêm mũi dị ứng, hen
cũng khác nhau.
Tỉ lệ Hp/ mề đay mạn
Kết quả của chúng tôi tỉ lệ dương tính
khoảng 60%. Trong đó 77,5% nhiễm có triệu
chứng, trong đó có 38,5% nhiễm không triệu
chứng. Theo tác giả Wedi 37% nhiễm không
triệu chứng và tỉ lệ nhiễm Hp chỉ chiếm 47%(15).
Còn theo nghiên cứu của Muge, Mervi tỉ lệ này
lần lượt là 40%, 37,3%(10,11). Qua đó cho thấy tỉ lệ
nhiễm Hp trên bệnh nhân mề đay mạn cao hơn
hẳn so với số liệu nghiên cứu của các tác giả
nước ngoài. Có thể do tỉ lệ nhiễm Hp tại Việt
Nam nói chung cao hơn các nước phát triển(4). Các yếu tố liên quan
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và nơi cư trú
Tỉ lệ bệnh nhân mề đay mạn cư trú tại Tp HCM là 27%. Trong khi đó tỉ lệ này ở bệnh nhân đến từ các tỉnh là 43,5%, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p=0,037). Qua kết quả này
có thể cho thấy các bệnh nhân ở tỉnh thường đến khám khi bệnh đã kéo dài trên 6 tuần. Điều này cũng dễ hiểu vì phần lớn bệnh nhân
mề đay cấp có thể điều trị tại địa phương hay
tự mua thuốc điều trị. Chỉ khi bệnh không thuyên giảm sau một thời gian dài, bệnh nhân cảm thấy lo lắng nên đến khám tại bệnh viện
Da liễu. Do vậy, những bệnh nhân mề đay mạn cư trú tại các tỉnh cần được giải thích về việc kiên trì tái khám đúng hẹn hay tiếp tục điều trị tại địa phương nếu có chuyên khoa da liễu. Vì khi ở xa bệnh nhân sẽ gặp khó khăn về việc theo dõi và tái khám. Nếu không giải thích rõ có thể bệnh nhân sẽ nghĩ chỉ cần điều trị một lần, có thể không uống thuốc đều đặn gây khó khăn cho việc điều trị.
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và nhóm tuổi
Nếu chia 2 nhóm tuổi < 16 và từ 16 tuổi trở lên thì sự khác biệt về độ tuổi và thể lâm sàng có
ý nghĩa thống kê theo xác xuất chính xác Fisher (p=0,005). Theo tác giả Cansin, giữa mề đay cấp
và mạn cũng khác nhau về tuổi trung bình mắc bệnh với p<0,001(1). Bên cạnh đó theo Bolognia, trẻ em có khuynh hướng bệnh mề đay cấp, trái lại so với người lớn. Vậy điều này là hoàn toàn phù hợp nghiên cứu khác và y văn.
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và phù mạch
Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch chiếm 42,1% so với 21,4% mề đay cấp. Sự khác biệt về thể lâm sàng trong nhóm có phù mạch có
ý nghĩa thống kê (p=0,004). Vậy nếu như một bệnh nhân mề đay có kèm phù mạch thì khả năng người này diễn tiến mạn cao gấp đôi khi
Trang 6không có triệu chứng này. Nhưng theo tác giả
Cansin thì sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê (p=0,6)(1). Dù vậy, tỉ lệ phù mạch trên
bệnh nhân mề đay mạn giữa 2 nghiên cứu là
khác tương đồng 41,1% so với của chúng tôi là
42,1%. Có thể lí giải do đặc điểm dân số được
nghiên cứu khác nhau nên rất khó so sánh. Mẫu
nghiên cứu của tác giả Cansin từ 1‐19 tuổi và mề
đay mạn thường gặp ở người lớn nhiều hơn(1).
Nên có sự khác biệt về tỉ lệ phù mạch giữa 2
nhóm cấp và mạn giữa 2 nghiên cứu.
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và thời gian
tồn tại thương tổn
Qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi, thời
gian thương tổn <4 giờ ở bệnh nhân mề đay mạn
chiếm 56,1% so với 34,9% mề đay cấp, sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,007. Theo
Bologia, mề đay vật lý thường có thời gian
thương tổn ngắn < 2h hay theo Fitzpatrick là < 4
giờ và chiếm 35% nguyên nhân gây mề đay
mạn. Chính sự liên quan này nên có thể giải
thích vì sao đa số bệnh nhân mề đay mạn có
thương tổn tồn tại ngắn hơn so với mề đay cấp.
Yếu tố này cũng góp phần giúp ích vào tiên
lượng bệnh. Nếu bệnh nhân đến khám có thời
gian tồn tại thương tổn <4 giờ, thì phần lớn sẽ
diễn tiến mạn tính hơn cấp tính.
Mối liên quan giữa thể lâm sàng và yếu tố vật lý
Trong nhóm bệnh nhân mề đay mạn 87,7%
có yếu tố vật lý so với 61,1% ở mề đay cấp. Sự
khác biệt về thể lâm sàng trong nhóm có yếu
tố vật lý có ý nghĩa thống kê (p=0,0003). So
sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Cansin
p=0,002 thì kết quả 2 nghiên cứu là giống
nhau(16). Tuy nhiên, theo Cansin, yếu tố vật lý
trong mề đay cấp và mạn lần lượt là 18,9% và
52,9%. Có thể thấy tỉ lệ mề đay có yếu tố vật lý
thúc đẩy trong nghiên cứu của chúng tôi là
khá cao. Cũng như đề cập phần trước, vì chưa
thể khẳng định hoàn toàn đây là mề đay vật lý
do đó có sự chênh lệch này.
KẾT LUẬN
Tuổi mắc bệnh trung bình 28,41tuổi. Tỉ lệ
mắc bệnh nữ/ nam: 1,85/1. Nữ có tuổi mắc bệnh muộn hơn.
Đa số bệnh nhân đến khám trong 2 tuần đầu khởi bệnh. Một số ít bệnh nhân có thời gian bệnh kéo dài trên 1 năm.
Da vẽ nổi chiếm tỉ lệ cao nhất 41%. Đặc biệt, một bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vật lý.
Tỉ lệ nhiễm trùng chiếm 46%, trong đó viêm đường hô hấp thường gặp nhất. 18% có
sự kết hợp 2 yếu tố nhiễm trùng trên cùng một bệnh nhân.
31% bệnh nhân có kèm viêm mũi dị ứng, không ghi nhận trường hợp viêm da cơ địa.
Tỉ lệ Hp dương tính ở nhóm có triệu chứng đau dạ dày cao hơn nhóm không triệu chứng (p=0,003).
Tỉ lệ bệnh nhân mề đay mạn cư trú tại Tp
HCM là 27%, ở các tỉnh là 43,5% (p=0,037).
Nhóm bệnh nhân <16 tuổi có tỉ lệ bệnh mề đay cấp chiếm 90% so với nhóm >=16 tuổi chiếm 64,7% (p=0,005).
56,1% bệnh nhân mề đay mạn có thời gian thương tổn <4 giờ so với 34,9% mề đay cấp (p=0,007).
Bệnh nhân mề đay mạn có kèm phù mạch chiếm tỉ lệ 42,1% so với 21,4% mề đay cấp (p=0,004).
87,7% bệnh nhân mề đay mạn có yếu tố vật
lý thúc đẩy so với 61,1% mề đay cấp (p=0,0003).
KIẾN NGHỊ
Tỉ lệ bệnh nhân mề đay mạn sống tại các tỉnh phía Nam nhiều hơn so với nhóm các bệnh nhân đang cư trú tại TP HCM. Điều này đặt ra vấn đề cần thiết trong việc giáo dục bệnh nhân hiểu rõ về bệnh mề đay. Khi đó, bệnh nhân sẽ tin tưởng theo dõi bệnh ở các tỉnh nơi họ sinh sống, giúp giảm tải cho bệnh viện tuyến trên. Tuy chưa thể khẳng định đây là mề đay vật
lý nhưng các yếu tố này chiếm tỉ lệ khá cao. Gợi
ý bác sĩ lâm sàng nên quan tâm đến việc hỏi để loại trừ các yếu tố vật lý, góp phần giúp bệnh
Trang 7Tỉ lệ nhiễm Hp trên bệnh nhân mề đay mạn
nhìn chung cao hơn so với tình hình nhiễm Hp
trong cộng đồng dân số phía Nam. Nhất là các
trường hợp có triệu chứng đau dạ dày. Chính vì
vậy, đối với những bệnh nhân này nếu bệnh vẫn
kéo dài, đáp ứng điều trị kém có thể xem xét
việc xét nghiệm Hp và điều trị Hp.
Bác sĩ có thể dự đoán thể lâm sàng thông
qua các triệu chứng như tuổi, phù mạch, thời
gian tồn tại thương tổn, yếu tố vật lý.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Urticaria in Childhood. Pediatric Dermatology, 21(2): 102‐
108.
effect of antibiotic therapy for patients infected with
Helicobacter pylori who have chronic urticaria. J Am Acad
Dermatol; 49(5): 861‐864.
MT, Domínguez FJ, et al (2004). Epidemiology of urticaria in
Spain. J Invest Allergol Clin Immunol; 14(3): 214‐220.
tần suất nhiễm Helicobacter pylori ở sinh viên trường Đại
Học Quốc Tế ‐ ĐH Quốc Gia TP. HCMʺ. Tạp chí Y học TP Hồ
Chí Minh, Tập 14* Số 4: 215‐219.
Greaves MW (1993). Autoantibodies against the high‐affinity
IgE receptor as a cause of histamine release in chronic
urticaria. Engl J Med 328: 1599–1604.
Allergy, 31(2): 167‐170.
Fitzpatrick. Fitzpatrick’s Dermatology in Genaral Medicine,
A Clinical Study of Demographics, Aggravating Factors, Laboratory Findings, Serum Autoreactivity and Treatment Response. Journal of the Formosan Medical Association, 110(3): 175–182.
autoimmunity: a study of 90 patients. J Allergy Clin Immunol, 84(1): 66‐71.
10 Mervi L, et al (1998). Etiologic aspects of chronic urticaria. International Journal of Dermatology, 37(7): 515–519.
Helicobacter pylori IgG antibody and autologous serum test
in chronic urticaria. International Journal of Dermatology, 39(6): 443–445.
(1997), ʺThe impact of chronic urticaria on the quality of lifeʺ.
Br J Dermatol, 136, pp.197–201.
British Journal of Dermatology, 108(6): 723‐724.
Management and Current and Future Treatment Options. Adis International, 64: 2515‐2536.
Prevalence of Helicobacter pylori–Associated Gastritis in Chronic Urticaria. International Archives of Allergy and Immunology, 116(4): 288–294.
urticaria – clinical aspects and therapeutical responsivenessʺ. Acta Derm Venereol (Stockh)(76): 295–297.
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/11/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014