1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố liên quan đến mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối

5 106 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 424,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định một số yếu tố nguy cơ của mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối. Nghiên cứu tiến hành trên 115 thai phụ đơn thai thiểu ối mổ lấy thai được chọn vào nhóm bệnh và 115 thai phụ thiểu ối sinh ngã âm đạo được chọn vào nhóm chứng.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỔ LẤY THAI

Ở THAI TRƯỞNG THÀNH THIỂU ỐI

Lê Hồng Cẩm*, Phan Mỹ Duyên**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tỷ lệ mới mắc của thiểu ối rất khác nhau thay đổi tùy theo định nghĩa, nói chung tỷ lệ từ 1 - 4

% Đa số các bác sĩ sản khoa có khuynh hướng chấm dứt thai kỳ khi thai đủ trưởng thành thiểu ối vì sẽ tăng bệnh suất và tỷ suất chết chu sinh nếu kéo dài các thai kỳ này Vấn đề là chọn phương pháp mổ lấy thai hay sinh ngã

âm đạo để đảm bảo an toàn cho thai phụ và thai nhi

Mục tiêu: Xác định một số yếu tố nguy cơ của mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng gồm 115 thai phụ đơn thai thiểu ối mổ lấy thai được

chọn vào nhóm bệnh và 115 thai phụ thiểu ối sinh ngã âm đạo được chọn vào nhóm chứng Bắt cặp tỷ lệ 1:1 theo nhóm tuổi thai phụ, tiền thai chưa hay đã sinh Số liệu tìm yếu tố nguy cơ mổ lấy thai được lấy từ hồ sơ bệnh án

so với nhóm chứng, phân tích thống kê dùng chi bình phương và tính OR với khoảng tin cậy 95%

Kết quả: Chỉ số ối = 3 - 4 cm có nguy cơ mổ lấy thai gấp 4,5 lần so với chỉ số ối = 4 - 5 cm (khoảng tin cậy

95% 1,5-13,2), Bishop < 5 điểm có nguy cơ mổ lấy thai tăng 8,3 lần so với Bishop >5 điểm (khoảng tin cậy 95% 2- 35) Nhịp tim thai bất định giai đoạn 2 trên monitoring có nguy cơ mổ lấy thai tăng 32,4 lần so với nhịp tim thai bình thường (khoảng tin cậy 95% 2,3-456) Tăng co khi vào chuyển dạ có nguy cơ mổ lấy thai 8,2 lần so với không tăng co Không có sự khác biệt giữa hai nhóm về điểm Apgar sau sinh <7

Kết luận: Yếu tố liên quan đến mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối gồm chỉ số ối < 4cm, điểm bishop

<5 Thai suy trong chuyển dạ, có dùng thuốc tăng co trong chuyển dạ

Từ khóa: Mổ lấy thai, thiểu ối, chỉ số ối, yếu tố nguy cơ

ABSTRACT

RISK FACTORS OF CESAREAN SECTION FOR OLIGOHYDRAMNIOS IN TERM PREGNANCIES

Le Hong Cam*, Phan My Duyen * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 66 - 70

Background: The incidence of oligohydranios varies depending on definition used, with a general reporting

rate between 1-4% Because of the increase in perinatal mobidity and mortality associated with oligohydramnios

in the prolonged pregnancy, most obstetricians recommend termination of pregnancy in these cases The doctors should choose the best method for terminating these pregnancies, either cesarean section or vagial delivery, in order to improve maternal or fetal outcomes

Objective: this study was to determine the risk fa ctors of cesarian section for oligohydramnios in pregnancy

of ≥ 37 weeks gestation

Methods: This retrospective case-control study including a total of 115 singleton pregnancies with

oligohydramnios that had cesarean section and one hundred –fifteen women that had vaginal delivery as controls Case patients were also matched with control subjects for maternal age, parity Data on potential risk factors for cesarean section development were carefully extracted from medical records, reviewed, and compared with the control group Data were statistically analyzed using chi-square test (p<0.05) and odds ratio (OR) with 95%

* Bộ môn Sản - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Đa Khoa Hóc Môn

Tác giả liên lạc : PGS.TS Lê Hồng Cẩm, ĐT: 0913645517 E mail: lehongcam61@yahoo.com

Trang 2

confidence interval (95% CI)

Result: Factors significantly associated with cesarean section were: AFI = 3-4cm (OR 4.5: 95% CI 1.5-13.2,) Bishop score < 5 (OR 8.3; 95% CI 2- 35), variable deceleration fetal heart rate at stage 2 of labor (OR 32.4; 95% CI 2.3-456), labour induction (OR 8.2; 95% CI 2- 3.0), There were no statistically significant differences between the 2 groups in the risks of Apgar score <7

Conclusions: The most important factors for cesarean section were AFI <4cm, Bishop score< 5, labor

induction and fetal heart distress

Key words: Cesarian section, oligohydramnios, Amniotic fluid index, risk factor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiểu ối là một tình trạng thường gặp trong

thai kỳ, đặc biệt trong 3 tháng cuối Tần suất

thiểu ối thay đổi tùy tuổi thai, dao động 2,3%

đến 4%(4), trong thai quá ngày tỷ lệ thiểu ối tăng

đến 12% Thiểu ối thường kèm nguy cơ cho sản

phụ và thai nhi: tăng ngạt cho thai nhi trong

chuyển dạ 6,7 lần so với nhóm không thiểu ối(10),

thai chậm phát triển trong tử cung, hít ối phân

su, do đó làm tăng tử suất chu sinh(4) Do tình

trạng chèn ép rốn dẫn đến thai suy nên tỷ lệ mổ

lấy thai trong thiểu ối tăng 2 – 5 lần so với không

thiểu ối(10) Với những nguy cơ trên, thiểu ối trở

thành điều quan tâm của các nhà lâm sàng, một

trong những vấn đề của sản khoa hiện đại Tuy

vậy, xử trí thiểu ối chưa được thống nhất, một số

bác sĩ sản khoa chọn mổ sanh, nhưng nhiều báo

cáo khác cho thấy thiểu ối có thể sanh ngả âm

đạo an toàn trong điều kiện nhất định Chi phí

một cuộc mổ lấy thai nhiều hơn cuộc sanh ngả

âm đạo, gây tốn kém cho gia đình và xã hội, mổ

lấy thai còn ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản

cho người phụ nữ ở những lần thai sau, tai biến

về gây mê, tai biến về phẫu thuật như nhiễm

trùng vết mổ, tổn thương bàng quang, dò bàng

quang âm đạo,… nặng nề nhất có thể gây tử

vong Hơn nữa, hệ miễn dịch ở trẻ sanh mổ

giảm so với trẻ sanh bình thường, đến 6 tháng

sau hệ miễn dịch của trẻ sanh mổ mới phát triển

kịp bằng trẻ sanh ngả âm đạo Vì vậy, chúng tôi

muốn xác định những yếu tố: tình trạng ối, khởi

phát chuyển dạ, chèn ép rốn, cân nặng thai nhi

liên quan như thế nào đến mổ lấy thai ở thai

trưởng thành thiểu ối, nhằm đưa ra những yếu

tố có tính quyết định chính xác mổ lấy thai hay

xây dựng phác đồ xử trí phù hợp cho các trường hợp thiểu ối, mong đem lại kết quả thai kỳ tốt đẹp cho mẹ và con

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định mối liên quan của yếu tố khởi phát chuyển dạ, chỉ số ối với mổ lấy thai ở thai

trưởng thành thiểu ối

Xác định mối liên quan của thai suy với mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Dân số nghiên cứu (8)

Tất cả thai phụ có thai trưởng thành siêu âm chẩn đoán thiểu ối (Chỉ số ối ≤ 5 cm)

Dân số chọn mẫu

Những thai phụ có thai trưởng thành thiểu

ối đã mổ lấy thai hay sinh ngả âm đạo tại khoa Sản bệnh viện Hóc Môn trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2009 đến tháng 4/2010

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh: Mổ lấy thai

Tiêu chuẩn nhận vào

Siêu âm đo chỉ số ối lúc nhập viện từ 3cm đến ≤5 cm, tuổi thai từ 37 ≤ 42 tuần (theo kinh chót hoặc siêu âm 3 tháng đầu) Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Siêu âm đo chỉ số ối lúc nhập viện <3 cm hoặc >5 cm, rỉ ối hoặc vỡ ối non, vết mổ cũ lấy thai hay bóc nhân xơ TC, khung chậu hẹp, giới hạn, thai quý, ngôi bất thường (ngôi mông, ngôi

Trang 3

ngang…), con to > 4.000g, con so, mẹ > 35 tuổi,

hồ sơ không đủ dữ kiện >10%

Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng

Sinh ngả âm đạo

Tiêu chuẩn nhận vào

Siêu âm đo chỉ số ối lúc nhập viện từ 3 cm

đến ≤5 cm tuổi thai từ 37- 42 tuần, ối còn nguyên

lúc vào viện (Nitrazintest âm tính), đồng ý tham

gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Siêu âm đo chỉ số ối lúc nhập viện <3 cm

hoặc >5 cm, rỉ ối hoặc vỡ ối non, không nhớ kinh

chót, không có siêu âm 3 tháng đầu, hồ sơ không

đủ dữ kiện >10%

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bệnh – chứng bắt cặp với tỷ lệ 1

bệnh: 1 chứng

Các bước tiến hành

Trong tuần ở ngày hậu phẫu thứ 3, nếu có

một sản phụ mổ lấy thai ở thai trưởng thành

thiểu ối thỏa tiêu chuẩn nhận vào, sau khi được

bác sĩ tư vấn đồng ý tham gia nghiên cứu, sẽ

chọn làm một ca bệnh

Khi ở trại hậu phẫu thu thập một ca bệnh thì

đồng thời sẽ chọn một sản phụ thai trưởng

thành thiểu ối sinh ngả âm đạo thỏa tiêu chuẩn

nhận bệnh, có cùng nhóm tuổi và tiền thai (con

so hay con rạ) để làm ca chứng bắt cặp với tỷ lệ

1: 1

Sau khi chọn được ca bệnh và ca chứng ở hai

trại hậu phẫu và hậu sản, các sản phụ này được

trải qua các bước: phỏng vấn trực tiếp tại giường

bệnh và thu thập số liệu từ hồi cứu hồ sơ bệnh

án, điền vào bảng thu thập số liệu

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm

Mổ lấy thai N1 = 115 (%)

Sanh ngả AĐ N2 = 115 (%)

Tổng N= 230(%) p

Nhóm tuổi

<20 tuổi 20 (17) 20 (17) 40 (17)

21 – 25 tuổi 29 (25) 29 (25) 58 (25)

26 – 30 tuổi 37 (32) 37 (32) 74 (32)

31 – 35 tuổi 22 (19) 22 (19) 44 (19)

36 – 40 tuổi 7 (6) 7 (6) 14 (6)

1,000

Tình trạng kinh tế Khá giả 5 (4) 7 (6) 12 (5)

Đủ ăn 85 (74) 74 (64) 159 (69) Nghèo 25 (22) 34 (30) 59 (26)

0,373

Tiền thai

>3 con 7 (6) 0 (0) 7 (3)

2 con 11 (10) 12 (10) 23 (10)

1 con 32 (28) 38 (33) 70 (30) Chưa con 65 (57) 65 (57) 130 (57)

0,279

Bệnh lý nội khoa Bướu cổ 2 (2) 2 (2) 4 (2) 1,000 Cao huyết áp 3 (3) 3 (3) 6 (3) 1,000 Đái tháo

đường 0 (0) 1 (1) 1 (0) 0,316

Đặc điểm lần sanh trước Sanh thường 43 (86) 46 (92) 89 (89) Sanh giúp 7 (14) 4 (8) 11 (11) 0,338

Cân nặng con lần trước

>3500g 5 (10) 1 (2) 6 (6) 3000g - 3500g 22 (44) 24 (48) 46 (46) 2500g-

<3000g 21 (42) 22 (44) 43 (43)

< 2500g 2 (4) 3 (6) 5 (5)

0,309

Tuổi thai: trung bình 39,5 ±1,2 tuần

37 - <39 tuần 25 (22) 32 (28) 57 (25)

39 - <41 tuần 71 (62) 74 (64) 145 (63)

41 - 42 tuần 19 (17) 9 (8) 28 (12)

0,060

Chỉ số ối

4 - 5 cm 42 (37) 86 (75) 128 (56)

3 - <4 cm 73 (63) 29 (25) 102 (44) <0,001

Hb trung bình 11,3 ± 1,5 11,3 ± 1,5 11,3 ± 1,5 0,853

Trang 4

Nhận xét: Không có sự khác biệt của hai nhóm

mổ lấy thai và sinh ngã âm đạo với p >0,05 của đặc

điểm dân số nghiên cứu trừ chỉ số ối

Các yếu tố liên quan của mổ lấy thai với

thai trưởng thành thiểu ối

Bảng 2 Kết quả hiệu chỉnh sau hồi quy đa biến

Yếu tố nguy cơ OR thô OR hiệu chỉnh 95% CI P

Đường huyết 1,03 0,99-1,07 0,142

Tuổi thai

39 - dưới 41 tuần 1,2 0,85 0,26-2,7 0,778

41 - 42 tuần 2,7 3,1 0,57-17,0 0,190

Chỉ số ối 5,2 4,5 1,5-13,2 0,006

Tim thai giai đoạn 1

Nhịp giảm sớm 2,7 0,14 0,015-1,4 0,096

Nhịp giảm bất

định 17,8 0,55 0,01-30,1 0,772

Tim thai giai đoạn 2

Nhịp giảm sớm 2,6 9,6 0,98-94,0 0,052

Nhịp giảm bất

định 14,6 32,4 2,3-456,6 0,01

Màu sắc nước ối

Vàng 4,1 0,08 0,0-4,3 0,210

Xanh 7,5 - - -

Vàng xanh 6,5 0,03 0,0-3,2 0,145

Khác 0,6 1,2 0,04-34,1 0,905

Đậm độ nước ối 10,0 23,7 0,5-1045,6 0,102

Nước ối nhuộm

phân su 6,6 3,8 0,9-15,6 0,064

Bishop 6,3 8,3 2,0-35,1 0,004

Tăng co 4,9 8,2 2,2-30,8 0,002

Apgar 11,1 1,4 0,27-7,0 0,706

BÀN LUẬN

Thiểu ối qua siêu âm đo chỉ số ối phản ánh

phần nào thể tích nước ối thực sự, vì cho đến

nay chưa có phương pháp nào có thể khảo sát

thể tích ối một cách chính xác Thiểu ối thường

gặp trên những thai kỳ nguy cơ cao như tiền

sản giật, cao huyết áp, thai chậm tăng trưởng

trong tử cung Trong bảng 1 khảo sát đặc điểm

của dân số nghiên cứu chúng tôi nhận thấy

không có sự khác biệt về tình trạng kinh tế,

tiền thai, đặc điểm lần sinh trước, bệnh lý nội

khoa giữa hai nhóm mổ lấy thai và sinh ngã

âm đạo Chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa bệnh lý nội khoa và tình trạng mổ hay sinh ngã âm đạo có lẽ do cách chọn mẫu của chúng tôi đều cùng là nhóm thiểu ối Chúng tôi bắt cặp theo nhóm tuổi và tiền thai

đã có sinh con hay chưa ở đối tượng nghiên cứu vì tuổi của thai phụ và tiền thai là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định

mổ lấy thai hay sinh ngã âm đạo Tuổi thai trong nghiên cứu của chúng tôi trung bình là 39,5 ±1,2 tuần, kết quả này cũng giống như những nghiên cứu khác như Trần Thị Nhật Thiên Trang(12) là 39,9 ±1,5 tuần, Danon D(5) là 39,8± 1,5 tuần Khảo sát về chỉ số ối có sự khác biệt rõ giữa nhóm mổ lấy thai và sinh ngã âm đạo với p < 0,05 Điều này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác: thiểu ối tăng nguy cơ

mổ lấy thai, nghiên cứu của Magann Everett

F(7) cho thấy nhóm AFI < 5cm có nguy cơ mổ lấy thai so với AFI bình thường Nghiên cứu của chúng tôi cũng giống kết quả của Baron

chuyển dạ cao hơn trong nhóm chỉ số ối < 5cm (RR 6,8, 95 KTC 1,55-30,4)

Khi phân tích hồi quy tìm các yếu tố nguy cơ chúng tôi chọn các yếu tố có p < 0,02 đưa vào phân tích Tuổi thai không phải là yếu tố nguy

cơ của mổ lấy thai có lẽ do chúng tôi chọn tuổi thai > 37 tuần là thai đã trưởng thành Tại bệnh viện chúng tôi, chỉ số ối được khảo sát qua siêu

âm khi nhập viện, những trường hợp chỉ số ối < 2cm được mổ lấy thai nên chúng tôi không đưa vào phân tích Yếu tố chỉ số ối < 3-4cm là nguy

cơ cho mổ lấy thai với (OR, 4,5: 95% KTC 1,5-13,2) so với nhóm ối 4-5cm, điều này cũng phù hợp vì nước ối càng ít nguy cơ chèn ép rốn càng cao gây thai suy và là lý do của mổ lấy thai Thai

kỳ với chỉ số ối < 5cm thường được khởi phát chuyển dạ vì nguy cơ cho thai nếu kéo dài thai

kỳ, trong nghiên cứu của Casey và c/s(4) tỷ lệ khởi phát chuyển dạ tăng 42% so với nhóm không thiểu ối là 18% (p < 0,01) Tuy nhiên khởi phát chuyển dạ nếu CTC chưa thuận tiện sẽ là yếu tố nguy cơ cho sinh ngả âm đạo thất và kết cuộc thai kỳ là mổ lấy thai(3) Trong nghiên cứu

Trang 5

của chúng tôi khi Bishop < 5 điểm nguy cơ mổ

lấy thai tăng gấp 8 lần so với nhóm có Bishop

thuận lợi, kết quả nghiên cứu của chúng tôi

giống như của Rayamajhi và cs (2009) nếu

Bishop < 5 điểm khởi phát chuyển dạ thất bại

là 41 % so với 24% nếu Bishop > 5 điểm Yếu tố

chỉ số ối và điểm Bishop không thể thay đổi

được trong thực hành sản khoa nhưng nó có

giá trị hướng dẫn lâm sàng để có hướng xử trí

phù hợp

Thai suy được chẩn đoán khi có nhịp giảm

muộn là nguyên nhân gây mổ lấy thai cấp cứu,

không có trường hợp nào được sinh ngả âm đạo

Tim thai giảm bất định trong giai đoạn 2 của

chuyển dạ là yếu tố liên quan đến chỉ định mổ

monitoring là một phương tiện để đánh giá và

theo dõi tình trạng thai nhi trong chuyển dạ với

độ nhạy 87%, độ đặc hiệu 66%, dương tính giả

54% và âm tính giả 92%, vì thế một biểu đồ tim

thai bình thường trên monitoring là yếu tố tiên

lượng đáng tin cậy cho kết quả thai kỳ bình

thường, do đó, việc tim thai giảm bất định giai

đoạn 2 chuyển dạ trong nghiên cứu này là điều

có cơ sở để tin cậy Nghiên cứu của chúng tôi

cũng giống như nghiên cứu của Locatelli(6) Theo

Alchalabi(1) khảo sát nhóm thiểu ối thai 37 đến <

42 tuần so với nhóm không có thiểu ối mổ lấy

thai vì thai suy với OR 6,52 (95% KTC: 1,82,

23,2) Tăng co khi cơn co không đủ hay dùng để

khởi phát chuyển dạ trong nghiên cứu của

chúng tôi làm tăng tỷ lệ mổ lấy thai gấp 8 lần so

với nhóm sinh ngả âm đạo

Nghiên cứu của chúng tôi không thấy có

mối liên quan giữa điểm số Apgar < 7 và tình

trạng sinh hay mổ, giống kết quả nghiên cứu

của Alchalab(1), Locatelli(6), Rainford(9) có lẽ do tất

cả các trường hợp thiểu ối khi vào chuyển dạ

đều được theo dõi sát bằng monitoring và xử trí

ngay khi có tim thai bất thường

KẾT LUẬN Các yếu tố liên quan đến mổ lấy thai ở thai trưởng thành thiểu ối gồm

Chỉ số ối = 3 - 4 cm có nguy cơ mổ lấy thai gấp 4,5 lần so với chỉ số ối = 4 - 5 cm

Bishop < 5 điểm có nguy cơ mổ lấy thai tăng 8,3 lần so với Bishop >5 điểm

Nhịp tim thai giảm muộn, và bất định giai đoạn 2 trên monitoring có nguy cơ mổ lấy thai tăng 32,4 lần so với nhịp tim thai bình thường Tăng co khi vào chuyển dạ có nguy cơ mổ

lấy thai 8,2 lần so với không tăng co

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alchalabi HA, Obeidat BR, Jallad MF, Khader YS (2006)

“Induction of labor and perinatal outcome: the impact of the

amniotic fluid index” Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol,

129(2):124-127

2 Baron C, Morgan MA, Garite TJ (1995) “The impact of amniotic

fluid volume assessed intrapartum on perinatal outcome” Am J

Obstet Gynecol, 173(1), 27-36

3 Boulvain M, Kelly AJ, Lohse C, Stan CM, Irion O (2001)

“Mechanical methods for induction of labour” Cochrane Database

Syst Rev, 4(4)

4 Casey BM, McIntire DD, Bloom SL, Lucas MJ, Santos R, Twickler

DM, Ramus RM, Leveno KJ (2000) “Pregnancy outcomes after antepartum diagnosis of oligohydramnios at or beyond 34

weeks’ gestation” Am J Obstet Gynecol, 182(4): 909-912

5 Danon D, Ben-Haroush A, Yogev Y, Bar J, Hod M, Pardo J (2007)

“Prostaglandin E2 induction of labor for isolated

oligohydramnios in women with unfavorable cervix at term”

Fetal Diagnosis and Therapy, 22(1) 75-79

6 Locatelli A, Vergani P, Toso L, Verderio M, Pezzullo JC, Ghidini

A (2004) “Perinatal outcome associated with oligohydramnios in

uncomplicated term pregnancies” Archives of Gynecology and

Obstetrics, 269(2):130-133

7 Magann EF, Kinsella MJ, Chauhann SP, McNamara MF, Gehring

BW, Morrison JC (1999) “Does an amniotic fluid index of ≤5 cm necessitate delivery in high-risk pregnancies? A case-control

study” Am J Obstet Gynecol, 180(6):1354-1359

8 Nguyễn Đỗ Nguyên Phương pháp nghiên cứu khoa học trong y

khoa Bộ môn Dịch tễ - Đại học Y Dược TP.HCM, 39-40

9 Rainford M, Adair R, Scialli AR, Ghidini A, Spong CY (2001)

“Amniotic fluid index in the uncomplicated term pregnancy

Prediction of outcome” J Reprod Med, 46(6): 589-592

10 Rutherford SE, Phelan JP, Smith CV, Jacobs N(1987) “The four – quadrant assessment of amniotic fluid volume: an adjunct to

antepartum fetal heart rate testing” Obstet Gynecol, 70: 353-356

11 Sultana J, Chowhury TA, Begum K, Khan MH (2009)

“Comparison of normal and abnormal cardiotocography with

pregnancy outcomes and early neonatal outcomes” Mymensingh

Med J, 18: 103-107

12 Trần Thị Nhật Thiên Trang (2003) Kết quả thai kỳ ở sản phụ thiểu ối

và thai đủ trưởng thành Luận văn tốt nghiệp nội trú: 59-68

Ngày đăng: 23/01/2020, 13:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w