Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau và ảnh hưởng lên chức năng thận, đông cầm máu khi phối hợp ketorolac ngắt quãng với morphin PCA sau phẫu thuật cột sống. 100 bệnh nhân được chia vào nhóm MK (ketorolac + morphin PCA, n = 50) và nhóm M (morphin PCA, n = 50). Thời gian nghiên cứu trong 48 giờ. Kết quả cho thấy, điểm VAS trung bình, tiêu thụ morphin ở nhóm MK thấp hơn nhóm M (p < 0,05).
Trang 1HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU VÀ THAY ĐỔI CHỨC NĂNG THẬN, ĐÔNG MÁU KHI PHỐI HỢP KETOROLAC VỚI MORPHIN PCA
SAU PHẪU THUẬT CỘT SỐNG
Nguyễn Thị Thơm¹, Nguyễn Toàn Thắng²
¹Bệnh viện Việt Đức, ²Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau và ảnh hưởng lên chức năng thận, đông cầm máu khi phối hợp ketorolac ngắt quãng với morphin PCA sau phẫu thuật cột sống 100 bệnh nhân được chia vào nhóm MK (ketorolac + morphin PCA, n = 50) và nhóm M (morphin PCA, n = 50) Thời gian nghiên cứu trong 48 giờ Kết quả cho thấy, điểm VAS trung bình, tiêu thụ morphin ở nhóm MK thấp hơn nhóm M (p < 0,05) Số lượng nước tiểu, kali và creatinin máu trung bình tương đương giữa hai nhóm ở ngay sau mổ, 24, 48 giờ và ngày thứ 5 sau mổ Không có khác biệt về chảy máu dẫn lưu và truyền máu trong 2 ngày đầu giữa hai nhóm Hematocrit, tiểu cầu, APTT, tỉ lệ prothrombin trung bình đều thay đổi trong giới hạn bình thường và tương đương nhau giữa hai nhóm Phối hợp ketorolac với morphin PCA làm tăng hiệu quả giảm đau, giảm tiêu thụ morphin PCA Sự kết hợp này không làm thay đổi ý nghĩa về chức năng thận và đông cầm máu.
Từ khóa; ketorolac, morphin, giảm đau do bệnh nhân kiểm soát (PCA), phẫu thuật cột sống, suy thận
và chảy máu sau mổ
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật tại cột sống có xu hướng ngày
càng gia tăng với vai trò như một giải pháp
cuối cùng đối với nhiều loại bệnh lý cột sống
Đây là can thiệp thường có mức độ đau nhiều
và kéo dài sau mổ Kiểm soát hiệu quả đau
giúp tăng cường quá trình hồi phục đồng thời
giảm lo lắng sợ hãi cho bệnh nhân Hiện nay
các opioid vẫn được coi là “tiêu chuẩn vàng”
trong điều trị đau cấp tính từ mức độ trung
bình trở lên Tuy nhiên, các tác dụng không
mong muốn như buồn nôn, nôn, ngứa, bí đái,
an thần quá mức, ức chế nhu động ruột và hô
hấp đã tạo ra “trần lâm sàng” làm hạn chế sử
dụng opioids trên thực hành Chính vì vậy xu
hướng phối hợp opioids với các thuốc tác
dụng ở các vị trí khác nhau trên đường dẫn truyền và cảm thụ đau ngày càng trở nên phổ biến trong giảm đau hiện đại [1; 2; 3]
Vai trò của các thuốc chống viêm giảm đau không steroid (NSAIDs) trong kiểm soát đau sau mổ đã được xác nhận bởi các phân tích gộp bao gồm nhiều nghiên cứu (meta-analysis) Với phẫu thuật có mức độ đau nhiều sau mổ kết hợp NSAIDs và opioid (chủ yếu là morphin) đã cho thấy làm tăng hiệu quả giảm đau đồng thời giảm nhu cầu liều và các tác dụng không mong muốn của mỗi thuốc [2; 4; 5; 6; 7] Ketorolac thuộc nhóm ức chế men COX không chọn lọc và là NSAID đầu tiên được chấp nhận dùng đường tĩnh mạch tại Hoa Kỳ vào năm 1990 [1; 4] Đây cũng là thuốc được sử dụng khá phổ biến tại Việt Nam trong kiểm soát đau cấp tính nói chung
và đau sau mổ nói riêng với các biệt dược như Ketogesic, Ketoheath, Movepain, Kerolar…Tác dụng của thuốc bắt đầu trong
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Toàn Thắng, Bộ môn Gây mê Hồi
sức, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: thanggmhs@yahoo.com
Ngày nhận: 10/10/2015
Ngày được chấp thuận: 26/02/2016
Trang 2vòng 10 phút, giảm đau đạt đỉnh sau 75 - 150
phút khi tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, thời gian
bán hủy từ 5 - 6 giờ Mặc dù có hiệu quả giảm
đau tốt nhưng ảnh hưởng của ketorolac lên
chức năng thận, đông cầm máu và liền xương
vẫn là các vấn đề được quan tâm đặc biệt ở
giai đoạn chu phẫu [3; 4; 8]
Tại Việt Nam, sử dụng ketorolac phối hợp
với opioid đường tĩnh mạch ngày càng phổ
biến trong giảm đau sau các phẫu thuật lớn
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về hiệu
quả giảm đau cũng như các tác dụng không
mong muốn của sự kết hợp này, đặc biệt là
các ảnh hưởng của ketorolac đến chức năng
thận và quá trình đông cầm máu Do đó,
nghiên cứu nhằm:
- Đánh giá hiệu quả giảm đau của
ketorolac kết hợp với morphin PCA sau phẫu
thuật cột sống thắt lưng
- Đánh giá ảnh hưởng của ketorolac lên các
chỉ số về chức năng thận và đông cầm máu
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Gồm 100 bệnh nhân được phẫu thuật có
chuẩn bị đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bao gồm các bệnh nhân ở độ tuổi từ 18
-60, cân nặng từ 50 - 80 kg, phân loại sức khỏe
theo ASA (American Society of Anesthesiologists)
từ I - II, được phẫu thuật cố định cột sống
thắt lưng do bệnh lý Vô cảm trong mổ bằng
gây mê nội khí quản Bệnh nhân có tinh thần
bình thường đã được giải thích về nghiên
cứu, cách sử dụng PCA, thước VAS (Visual
Analogue Scale) và đồng ý tham gia nghiên
cứu
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có bệnh phổi cấp và mạn tính,
bệnh tim mạch, bệnh gan thận Tiền sử bản
thân, gia đình có rối loạn đông máu hoặc sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến đông máu ở trước trong và sau mổ Tiền sử viêm loét hay chảy máu dạ dày tá tràng, nghiện rượi, có hoặc nghi ngờ xuất huyết não Bệnh nhân nghiện hoặc phụ thuộc opioid Dị ứng với các thuốc dùng trong nghiên cứu Sử dụng NSAIDs và các giảm đau khác ở giai đoạn sau
mổ Trường hợp mổ kéo dài trên 3 giờ hoặc
có tai biến về gây mê và phẫu thuật
2 Phương pháp
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng được thực hiện tại khoa Gây mê hồi sức, khoa Phẫu thuật cột sống - Bệnh viện Việt Đức trong thời gian từ tháng 5/2009 đến tháng 2/2010
2.2 Phương tiện nghiên cứu
Thước đo độ đau VAS theo thang điểm từ
0 - 10 Bơm tiêm PCA Perfusor fm B/Braun của Đức và máy theo dõi nhiều thông số (điện tim, tần số tim, huyết áp, nhịp thở, bão hoà ôxy máu mao mạch (SpO2) Thuốc giảm đau ketorolac tromethamine (Ketogesic 3% ống 30 mg/1 ml của hãng DexaMedia, Indonesia) và morphin hydroclorid (ống 10mg/ml của Công
ty Dược phẩm Trung ương 2) Các thuốc và phương tiện hồi sức hô hấp tuần hoàn
2.3 Các bước tiến hành
Thăm khám trước mổ như thường quy, giải thích cho bệnh nhân về nghiên cứu, giảm đau PCA và thông báo mức độ đau bằng thước VAS đồng thời xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu Tại phòng mổ gây mê nội khí quản dùng propofol, fentanyl, rocuronium và isoforane Sau khi rút ống nội khí quản tại phòng hồi tỉnh bệnh nhân được rút thăm ngẫu nhiên vào nhóm M (dùng PCA morphin) và nhóm MK (dùng ketorolac + PCA morphin) Trước khi lắp PCA bệnh nhân đều được chuẩn độ bằng morphin để đạt điểm VAS < 4
Trang 3(nhóm MK dùng 30 mg ketorolac trước khi
chuẩn độ) Với cả hai nhóm PCA sử dụng
morphin nồng độ 1mg/ml với cài đặt; liều
bolus 1 ml, thời gian khóa 10 phút, giới hạn
liều trong 4 giờ là 15 ml Nhóm MK dùng
ketorolac với liều 15 mg/ mỗi 6 giờ Bệnh
nhân được thở ôxy qua xông mũi 2 lít/phút và
theo dõi liên tục các chỉ số điện tim, tần số tim,
huyết áp, tần số thở và SpO2 Nôn nhiều được
điều trị bằng metoclopramid 10 mg tĩnh mạch
An thần với Ramsay 5,6 hay suy hô hấp
(ngừng thở, tần số thở < 10 lần/phút) được
điều trị bằng hỗ trợ thông khí và naloxon (0,4
mg/10 ml, tiêm tĩnh mạch 1 - 2 ml mỗi 3 phút)
Truyền máu khi hematocrit < 25% Thời gian
nghiên cứu trong 48 giờ sau mổ với các thời
điểm từ H0đến H48tương ứng với số giờ sau
mổ Xét nghiệm đánh giá chức năng thận và
đông máu ở thời điểm ngay sau mổ, giờ thứ
24, 48 và ngày thứ 5 sau mổ
2.4 Các tiêu chí đánh giá
Bao gồm các tiêu chí liên quan đến bệnh
nhân (tuổi, giới, cân nặng, nghề nghiệp, tiền
sử bệnh tật, phân loại ASA), gây mê và phẫu
thuật (thuốc gây mê, thời gian mổ, thời gian rút nội khí quản, độ dài vết mổ, số đốt sống can thiệp) Tiêu chí liên quan đến giảm đau gồm; lượng morphin chuẩn độ, điểm VAS khi nằm yên và vận động, tiêu thụ morphin Tiêu chí lâm sàng và xét nghiệm liên quan đến chức năng thận, đông máu (nước tiểu, chảy máu qua dẫn lưu, nhu cầu truyền máu, xét nghiệm hematocrit và đông máu cơ bản, kali
và creatinin máu)
3 Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm
SPSS 16.0 Chỉ số định tính được trình bày dưới dạng n, %, định lượng được trình bày dưới dạng X + SD (min - max) Áp dụng test t-student để so sánh hai tỉ lệ và test khi square
để so sánh hai trung bình Khác biệt được coi
là có ý nghĩa, p < 0,05
4 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các quy định
về đạo đức nghiên cứu y sinh học Quá trình nghiên cứu làm giảm đau đớn cho bệnh nhân, giúp tăng cường hồi phục Các bệnh nhân có thể từ chối hoặc ngừng hợp tác ở bất cứ thời điểm nào
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm liên quan đến bệnh nhân, gây mê và phẫu thuật
Liên quan đến bệnh nhân
Tuổi (năm)
Giới nữ (n, %)
Cân nặng
45,7 ± 8,1
34, (68%) 56,1 ± 6,9
47,4 ± 8,5
32, (64%) 56,5 ± 6,8 Liên quan đến phẫu thuật
Thoát vị đĩa đệm
Hẹp ống sống
Tổn thương 1 tầng
31 (62%)
19 (38%)
26 (52%)
33 (66%)
17 (34%)
26 (52%)
Trang 4Yếu tố Nhóm Nhóm MK (n = 50) Nhóm M (n = 50)
Liên quan đến phẫu thuật
Tổn thương 2 tầng
Thời gian phẫu thuật (phút)
21 (42%) 125,2 ± 41,7
20 (40%) 133,4 ± 45,6 Liên quan đến gây mê
Propofol (mg)
Fentanyl (mg)
Sevofluran (ml)
Thời gian gây mê (phút)
Thời gian rút NKQ (phút)
98,9 ± 12,4 0,29 ± 0,06 28,5 ± 8,0 151,2 ± 41,1 17,2 ± 6,1
100,4 ± 19,2 0,30 ± 0,07 29,7 ± 9,1 159,9 ± 50,2 17,9 ± 5,3
Không có khác biệt ý nghĩa giữa hai nhóm về các yếu tố liên quan đến bệnh nhân, gây mê và phẫu thuật, p > 0,05
2 Hiệu quả giảm đau sau mổ
Hình 1 Điểm VAS khi nằm yên
Điểm VAS trung bình khi nằm yên đều <4 ở cả 2 nhóm, nhóm MK có điểm VAS thấp hơn nhóm M ở các thời điểm đánh giá từ phút 30 đến giờ thứ 48, p < 0,05
HO.5 - H48: p < 0,05
Hình 2 Điểm VAS khi vận động
Trang 5Điểm VAS trung bình khi vận động ở nhóm MK thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm M ở các thời điểm đánh giá từ giờ 16 - 48 (p < 0,05) Các giá trị này đều dao động từ 3 - 5,5
Tiêu thụ morphin ở nhóm MK và nhóm M trong ngày đầu và trong 48 giờ đầu tương ứng là 10,9 ± 5,2 mg & 30,7 ± 8,6 mg (nhóm MK giảm 19,8 mg, tương ứng 64 %, p < 0,001) và 17,7 ± 7,9 mg & 45,6 ± 13,0 mg (nhóm MK giảm 27,9 mg, tương ứng 61 %, p < 0,001) Liều ketorolac ở nhóm MK là 75 mg trong 24 giờ đầu (cả liều chuẩn độ) và 60 mg trong 24 giờ tiếp theo
3 Thay đổi các chỉ số chức năng thận
Bảng 2 Thay đổi một số chỉ số về chức năng thận
Giá trị creatinin và kali máu trung bình ở các thời điểm ngay sau mổ, 24 giờ, 48 giờ và ngày thứ 5 sau mổ ở mỗi nhóm đều trong giới hạn bình thường và tương đương giữa hai nhóm (p > 0,05) Không có khác biệt ý nghĩa về lượng nước tiểu trung bình trong ngày đầu và ngày thứ
2 sau mổ giữa hai nhóm, p > 0,05
4 Thay đổi các chỉ số huyết học và đông máu
Lượng máu mất qua dẫn lưu và máu cần truyền trung bình ở hai nhóm tương đương nhau (p > 0,05) Trong mỗi nhóm giá trị hematocrit trung bình ở thời điểm 24 và 48 giờ sau mổ thấp hơn có ý nghĩa so với thời điểm ngay sau mổ (p < 0,05) Không có khác biệt về giá trị này giữa hai nhóm ở từng thời điểm, p > 0,05 (bảng 3)
Xét nghiệm
Nhóm MK (n = 50) ( ± SD)
Nhóm M (n = 50) ( ± SD)
Creatinin (µmol/l)
Ngay sau mổ 77,9 ± 13,4 74,9 ± 12,7
24 giờ sau mổ 77,2 ± 15,9 72,2 ± 10,8
48 giờ sau mổ 70,0 ± 15,1 69,0 ±11,4
5 ngày sau mổ 66,6 ± 16,0 65,4 ± 10,6
Kali (mmol/l)
Ngay sau mổ 3,7 ± 0,4 3,6 ± 0,4
24 giờ sau mổ 3,6 ± 0,3 3,7 ± 0,4
48 giờ sau mổ 3,6 ± 0,3 3,6 ± 0,4
5 ngày sau mổ 3,6 ± 0,3 3,6 ± 0,3
Nước tiểu Ngày thứ nhất 2150 ± 320 2250 ± 360
Ngày thứ hai 2050 ± 250 2150 ± 270
Nhóm
Trang 6Chỉ số Nhóm MK (n = 50)
( ± SD)
Nhóm M (n = 50) ( ± SD)
Hematocrit (%)
Ngay sau mổ 34,7 ± 5,0 33,1 ± 4,3
24 giờ sau mổ 32,2 ± 4,4* 31,3 ± 4,0*
48 giờ sau mổ 31,9 ± 4,2* 30,9 ± 3,7* Máu mất qua dẫn
lưu (ml)
Trong ngày đầu 165,2 ± 85,1 186,8 ± 145,1 Trong ngày thứ 2 56,2 ± 39,3 65,7 ± 55,1 Lượng máu truyền (ml) 85,4 ± 158,2 102,5 ± 213,2
Nhóm
*p < 0,05 so sánh với thời điểm ngay sau mổ
Bảng 4 Thay đổi các chỉ số đông cầm máu cơ bản
Bảng 3 Thay đổi hematocrit và lượng máu mất sau mổ
Số lượng tiểu cầu, tỷ lệ prothrombin (PT), thời gian APTT trung bình ở thời điểm ngay sau mổ, sau mổ 24 và 48 giờ đều trong giới hạn bình thường Không có khác biệt ý nghĩa về các giá trị này giữa hai nhóm ở các thời điểm tương ứng, p > 0,05
Xét nghiệm
Nhóm MK (n = 50) ( ± SD)
Nhóm M (n = 50)
( ± SD)
SLTC (G/l)
Ngay sau mổ 217,7 ± 63,2 220,2 ± 56,5
24 giờ sau mổ 206,2 ± 50,2 214,7 ± 50,7
48 giờ sau mổ 207,2 ± 57,9 223,1 ± 62,6
PT (%)
Ngay sau mổ 96,7 ± 16,8 96,8 ± 17,2
24 giờ sau mổ 91,6 ± 14,3 94,7 ± 17,1
48 giờ sau mổ 94,4 ± 16,3 95,1 ± 12,5
APTT (giây)
Ngay sau mổ 28,0 ± 3,2 27,61 ± 4,5
24 giờ sau mổ 29,3 ± 5,1 29,41 ± 4,4
48 giờ sau mổ 27,1 ± 3,3 26,92 ± 2,5
Nhóm
IV BÀN LUẬN
Kết quả 2 nghiên cứu cho thấy các đặc
điểm liên quan đến bệnh nhân, gây mê cũng
như phẫu thuật tương đương nhau giữa hai
nhóm Sự đồng nhất này cho phép đánh giá
hiệu quả giảm đau và các ảnh hưởng khác chính xác hơn
Điểm VAS trung bình khi nằm yên và vận động đều dưới 4 và 5,5 tương ứng Kết hợp
Trang 7ketorolac và morphin PCA có hiệu quả giảm
tốt hơn khi dùng morphin đơn thuần với điểm
VAS trung bình khi nằm yên tại các thời điểm
từ H0.5đến H48 và điểm VAS trung bình khi
vận động tại các thời điểm từ H16đến H48ở
nhóm MK đều thấp hơn so với nhóm M Điều
này cũng phù hợp với kết quả của Reuben
trên bệnh nhân phẫu thuật cột sống với điểm
VAS trung bình đều dưới 4 ở các thời điểm
đánh giá và điểm VAS ở các nhóm MK (với 3
liều ketorolac khác nhau) thấp hơn có ý
nghĩa so với nhóm M [5] Nghiên cứu của
Cassinelli và Munro cũng xác nhận điểm VAS
thấp hơn khi phối hợp morphin với ketorolac
so với morphin đơn thuần tại các thời điểm
trong 36 giờ sau các phẫu thuật giải ép cột
sống thắt lưng [6] và kết hợp tủy sống [7]
Bên cạnh cải thiện hiệu quả giảm đau, chúng
tôi thấy rằng phối hợp hai thuốc làm giảm
nhu cầu tiêu thụ morphin 19,8 mg (64%) ở
ngày thứ nhất và 27,9 mg (61%) trong 48 giờ
sau mổ Điều này cũng phù hợp với kết quả
của các nghiên cứu trong tổng kết của
Vadivelu và cộng sự [4]
Ketorolac có khả năng làm thay đổi chức
năng thận thông qua ức chế men cyclooxygenase
làm giảm sản xuất prostaglandin, từ đó gây co
tiểu động mạch đến và ảnh hưởng đến tốc độ
lọc cầu thận Thông thường giảm mức lọc
cầu thận gây ra bởi NSAIDs không dẫn đến
suy thận Tuy nhiên với bệnh thận mạn, thiếu
khối lượng tuần hoàn sau mổ prostaglandin
giữ vai trò quan trọng trong duy trì mức lọc
cầu thận, lúc này dùng NSAIDs có thể dẫn
đến suy thận
Kết quả của chúng tôi cho thấy các chỉ số
liên quan đến chức năng thận như kali và
creatinine máu ở thời điểm khi sử dụng
ketorolac đều trong giới hạn bình thường và
tương đương giữa hai nhóm ở các thời 24, 48
giờ và ngày thứ 5 sau mổ Không có khác biệt
về lượng nước tiểu trung bình ở ngày thứ nhất và thứ hai giữa hai nhóm (bảng 2) Chúng tôi không gặp suy thận cấp sau mổ hoặc kali máu trên 5,5 mEq/ml Tổng kết của Lee và cộng sự cũng không cho thấy thay đổi
ý nghĩa chỉ số creatinin và lượng nước tiểu khi dùng ketorolac ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường [8] Thậm trí ở các bệnh nhân cho thận sử dụng ketorolac trong hai ngày đầu không gây bất cứ ảnh hưởng lâu dài nào đến chức năng thận [9] Tác dụng trên thận đã giảm đi từ khi có khuyến cáo về liều
và thời gian dùng thuốc (dưới 5 ngày) [4] Một quan tâm khác khi dùng ketorolac
ở giai đoạn chu phẫu là ảnh hưởng của thuốc lên chức năng đông cầm máu và chảy máu sau mổ Đối với phẫu thuật cột sống chảy máu có thể gây chèn ép tủy và để lại hậu quả kéo dài nếu không được phát hiện
và xử trí kịp thời NSAID gây ức chế tổng hợp prostaglandin dẫn đến ức chế hình thành thromboxane A2, giảm ngưng kết tiểu cầu Do đó có xu hướng tăng thời gian chảy máu và rối loạn đông máu Tuy nhiên ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu chỉ kéo dài đến khi thuốc bị thải trừ khỏi cơ thể Phân tích gộp các nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng của Gobble và cộng sự (n = 2314) không thấy khác biệt về tỉ lệ chảy máu sau
mổ giữa nhóm ketorolac (2,5%) và nhóm chứng (2,1%)
Kết quả trình bày ở bảng 4 cho thấy các giá trị trung bình về số lượng tiểu cầu, tỷ lệ prothrombin, thời gian APTT ở thời điểm ngay sau mổ, sau mổ 24 và 48 giờ đều thay đổi trong giới hạn bình thường và tương đương nhau giữa nhóm dùng morphin đơn thuần và nhóm phối hợp morphin với ketorolac Điều này phù hợp với kết quả của Chin và cộng sự khi không thấy khác biệt về đông máu giữa nhóm có và không dùng
Trang 8ketorolac [11] Chúng tôi không thấy khác biệt
về lượng máu trung bình chảy qua dẫn lưu,
cũng như lượng máu cần truyền giữa nhóm
MK và nhóm M trong hai ngày đầu sau mổ
Giá trị hematocrit trung bình ở các thời điểm
24 và 48 giờ trong mỗi nhóm đều thấp hơn so
với trước mổ nhưng không có khác biệt giữa
2 nhóm
Các nghiên cứu trên bệnh nhân phẫu thuật
cột sống của Vitale (liều 0,5 mg/kg cho mỗi 6
giờ trong 24 - 28 giờ sau mổ) [12], Chin (liều
30 mg sau đóng da) [11] và Munro (liều 15
mg/kg cho mỗi 6 giờ trong 36 giờ) [7] đều
không thấy khác biệt về lượng máu mất sau
mổ, nhu cầu truyền máu cũng như tỉ lệ mổ lại
giữa nhóm dùng và không dùng ketorolac Tuy
nhiên, một số nghiên cứu cho thấy ketorolac
làm tăng nguy cơ chảy máu sau mổ cắt
amidan, nhưng không rõ ràng với phẫu thuật
tuyến giáp và tạo hình ngực [4]
Nghiên cứu này cho thấy có thể sử dụng
kết hợp ketorolac và morphin PCA trong giảm
đau sau phẫu thuật cột sống do hiệu quả giảm
đau tốt, giảm tiêu thụ morphin và không gây
thay đổi đáng kể về chức năng thận và đông
cầm máu Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên
cứu với những thăm dò chuyên sâu hơn như
đo lưu lượng mạch thận, mức lọc cầu thận và
chức năng tiểu cầu…để đánh giá chính xác
hơn ảnh hưởng của ketorolac
V KẾT LUẬN
Phối hợp ketorolac (liều 15 mg/ mỗi 6 giờ)
với PCA morphin đường tĩnh mạch sau phẫu
thuật cột sống thắt lưng có hiệu quả giảm đau
tốt hơn, tiêu thụ morphin ít hơn so với dùng
PCA morphin đơn thuần Sự phối hợp này
không ảnh hưởng ý nghĩa đến chức năng
thận, lượng máu mất và nhu cầu truyền máu
trong 48 giờ sau mổ
Lời cám ơn
Chúng tôi xin chân thành cám ơn GS.TS Nguyễn Thụ, bác sĩ và điều dưỡng cũng như bệnh nhân tại khoa Gây mê Hồi sức, khoa Phẫu thuật cột sống Bệnh viện Việt Đức về những đóng góp quý báu và sự hợp tác của
họ trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 White P.F., Raeder J, and Kehlet H, (2012) Ketorolac: its role as part of a
multimodal analgesic regimen Anesth Analg,
114(2), 250 - 254.
2 Dahl J.B., Nielsen R.V., Wetterslev J
et al (2014) Post-operative analgesic effects
of paracetamol, NSAIDs, glucocorticoids, gabapentinoids and their combinations: a
topical review Acta Anaesthesiol Scand, 58
(10), 1165 - 1181.
3 Mathiesen O., Wetterslev J., Kontinen V.K et al (2014). Adverse effects of perioperative paracetamol, NSAIDs, glucocorticoids, gabapentinoids and their combinations: a topical review Acta
Anaesthesiol Scand, 58(10), 1182 - 1198.
4 Vadivelu N., Gowda A.M., Urman R.D
et al (2015) Ketorolac Tromethamine –
Routes and Clinical Implications Pain
Practice, 15(2), 175 - 193.
5 Reuben S.S., Connelly N.R, and Steinberg R (1997) Ketorolac as an adjunct
to patient-controlled morphine in postoperative
spine surgery patients Reg Anesth, 22(4),
343 - 346
6 Cassinelli E.H., Dean C.L., Garcia R M
et al (2008) Ketorolac use for postoperative
pain management following lumbar decompression surgery: a prospective, randomized, double - blinded,
placebo-controlled trial Spine, 33(12), 1313 - 1317.
Trang 97 Munro H.M., Walton S.R., Malviya S et
al (2002). Low-dose ketorolac improves
analgesia and reduces morphine requirements
following posterior spinal fusion in
adolescents Can J Anaesth, 49(5), 461 - 466.
8 Lee A., Cooper M.G., Craig J.C et al
(2007). Effects of nonsteroidal
anti-inflammatory drugs on postoperative renal
function in adults with normal renal function
Cochrane Database Syst Rev, 2, Cd002765.
9 Freedland S.J., Blanco-Yarosh M.,
Sun J.C et al (2002) Effect of ketorolac on
renal function after donor nephrectomy
Urology, 59(6), 826 - 830.
10 Gobble R.M., Hoang H.L., Kachniarz
B et al (2014) Ketorolac does not increase
perioperative bleeding: a meta-analysis of randomized controlled trials Plast Reconstr
Surg, 133(3), 741 - 755.
11 Chin K.R., Sundram H., and Marcotte P (2007). Bleeding risk with ketorolac after lumbar microdiscectomy J
Spinal Disord Tech, 20(2), 123 - 126.
12 Vitale M.G., Choe J.C., Hwang M.W
et al (2003) Use of ketorolac tromethamine in
children undergoing scoliosis surgery: an analysis of complications The Spine Journal,
3(1), 55 - 62.
Summary ANALGESIC EFFICACY, RENAL AND COAGULATION EFFECTS OF COMBINATION OF KETOROLAC AND IV MORPHINE PCA AFTER
LUMBAR SPINE SURGERY
A prospective, randomized trial was carried out to assess the analgesic efficacy and effects on renal and coagulation functions of intermittent IV ketorolac combined with morphine PCA One hundred patients scheduled for lumbar spine surgery was randomly allocated to receive ketorolac plus morphine PCA (group MK, n = 50) and morphine PCA (group M, n = 50) for postoperative pain control during 48 hours The results showed that, mean VAS at rest and on movement and consumption of morphine (17.7 ± 7.9 mg vs 45.6 ± 13.0 mg, p < 0.001) in group MK were signifi-cantly lower than that in group M during first 48 hours There was no difference in urine output of first 2 days, plasma potassium and creatinine at 24th, 48thhour and 5thday after surgery between
2 groups Drain bleeding, transfusion need, averages of hematocrit, APTT and prothrombin were
in normal ranges and comparable in 2 groups (p > 0.05) In conclusion, ketorolac plus IV morphine PCA produced better analgesia and less consumption of morphine than that of only morphine PCA Effects of this combination on renal and coagulation functions were not significant
Keywords: ketorolac, morphine patient-controlled analgesia (PCA), spinal surgery, renal dysfunction and bleeding