1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả bước đầu của kỹ thuật đặt stent thực quản trong điều trị ung thư thực quản không còn chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện 103

8 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 391,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả và tai biến của kỹ thuật đặt stent thực quản qua nội soi, một phương pháp không phẫu thuật, xâm nhập tối thiểu nhằm điều trị cho BN UTTQ không còn chỉ định phẫu thuật.

Trang 1

150

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA KỸ THUẬT ĐẶT STENT THỰC QUẢNTRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN

KHÔNG CÕN CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT

TẠI BỆNH VIỆN 103

Lê Xuân Thắng*; Dương Xuân Nhương*

Đào Trường Giang*; Thái Bá Có*; Phí Văn Khoa**

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả bước đầu của kỹ thuật đặt stent thực quản trong điều trị ung thư thực quản (UTTQ) không còn chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện 103

Kết quả:

- Nam chiếm 95,5%, độ tuổi trung bình 62,5 Tiền sử nghiện rượu gặp ở 86,4% bệnh nhân (BN) Triệu chứng lâm sàng đa dạng: 90,9% đau ngực, 100% nuốt nghẹn, 17 BN (77,3%) sụt cân > 3 kg

- Đa số có tổn thương > 5 cm: 20/22 BN (90,9%) 72,7% có xâm lấn của khối u Vị trí chủ yếu gặp ở 1/3 giữa và 1/3 dưới thực quản (100%) Hẹp thực quản chủ yếu từ mức độ vừa đến nhiều (86,4%) Nong thực quản cho 5 BN Tỷ lệ thành công 100% Thời gian đặt <

30 phút là chủ yếu Không có tai biến nghiêm trọng xảy ra Mức độ cải thiện triệu chứng nuốt khó trong 24 giờ chiếm 90,9% Sau 3 tháng theo dõi, 2 BN tử vong do di căn và suy

kiệt Sau 6 tháng theo dõi, 5 BN tử vong, sau 1 năm theo dõi 8 BN tử vong

* Từ khóa: Ung thư thực quản; Stent thực quản; Nội soi

ACCESSING THE PRIMARY EFFECTS OF ESOPHAGEAL STENTING

IN TREATING ESOPHAGUS CANCER PATIENTS

WITH NON-SURGICAL INDICATION

SUMMARY

This study is to access the primary effects of esophageal stenting in patients with non-surgical indication

Results: Male patientis made up 95.5%, mean age was 62.5 The history of alcoholism was 86.4% of the patients Symptoms were various: severe chest pain in 90.9% patients, 100% with dysphagia, weight loss over 3 kg in 17/22 patients (77.3%)

* Bệnh viện 103

** Bệnh viện 105 (Cục Hậu cần)

Người phản hồi (Corresponding): Lê Xuân Thắng (bsxuanthang @gmail.com )

Ngày nhận bài: 26/8/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 8/11/2013

Ngày bài báo được đăng: 19/11/2013

Trang 2

151

Most patients had large tumor more than 5 cm (20/22 patients = 90.9%) 72.7% was at the metastatic stage The site of the tumor is mainly at the middle and the distal of the esophageal (100%) 5 patients were pre-dilated before the procedure The rate of successful was 100% Dysphagia decreased in 90.9% patients at the fist 24 hours There was no serious complication After 3 months, 2 patients died 5 patients died after 6 months and 8 patients died after12 months’ follow-up

* Key words:Esophageal cancer; Esophageal sten; Endoscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư thực quản là 1 trong 6

nguyên nhân hàng đầu gây tử vong

UTTQ thường có tiên lượng xấu, thời

gian sống thêm thường < 9 tháng và

tỷ lệ sống 5 năm < 20% [9] Nếu bệnh

được chẩn đoán sớm, chỉ định phẫu

thuật là lựa chọn hàng đầu Tuy

nhiên, hầu hết BN UTTQ và ung thư

tâm vị dạ dày được chẩn đoán khi

bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, không

còn khả năng cứu chữa Những BN

này được chỉ định điều trị bằng các

biện pháp thay thế: hóa chất, xạ trị,

nong thực quản, cắt, đốt, đặt stent

qua khối u làm chậm khối u tiến

triển và cải thiện triệu chứng, chủ yếu

giúp BN có thể ăn uống, cải thiện

chất lượng cuộc sống cho người bệnh

[1, 3] Kỹ thuật đặt stent thực quản

qua nội soi được thực hiện từ những

năm 1990 [5, 9] Đây là một kỹ

thuật ít xâm lấn, hiệu quả hơn so với

phương pháp khác như nong, cắt đốt

hay mở thông nuôi dưỡng [2, 3, 6, 7]

Tại Việt Nam, kỹ thuật này chưa

được áp dụng rộng rãi Tại Bệnh viện

103, chúng tôi thực hiện kỹ thuật này

từ 07 - 2011 đến nay và ngày càng

thu được hiệu quả rõ rệt

Chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm:

Đánh giá hiệu quả và tai biến của kỹ thuật đặt stent thực quản qua nội soi, một phương pháp không phẫu thuật, xâm nhập tối thiểu nhằm điều trị cho BN UTTQ không còn chỉ định phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

22 BN được chẩn đoán UTTQ không còn chỉ định phẫu thuật, được đặt stent thực quản, điều trị tại Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện 103 từ tháng 07 - 2011 đến nay

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- UTTQ: giai đoạn muộn (có di căn), hoặc tình trạng BN không cho phép phẫu thuật, hoặc đã phẫu thuật nhưng có hẹp do tái phát

- Ung thư tâm vị lan tới 1/3 dưới thực quản

Loại trừ các BN không đồng ý thực hiện thủ thuật, hoặc UTTQ quá sát hầu họng, hoặc đã chèn ép gây khí phế quản

2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả cắt ngang

* Phương tiện nghiên cứu: mẫu bệnh án,

máy nội soi dạ dày, màn hình tăng sáng,

Trang 3

153

bóng nong, stent thực quản (loại Nuti-S

của Hàn quốc) và các phương tiện đi kèm

* Phương pháp tiến hành:

- Chuẩn bị: lựa chọn BN, thăm khám

lâm sàng, tiến hành nội soi xác định tổn

thương, chụp X quang thực quản cản

quang, chụp CT-scan lồng ngực BN

được giải thích thủ thuật, nhịn ăn uống

trước 8 giờ, dùng thuốc giãn cơ, cầm

máu, giảm tiết và kháng sinh dự phòng

- Gây mê tĩnh mạch hoặc nội khí quản

- Tiến hành:

+ Nội soi thực quản xác định vị trí,

chiều dài, mức độ hẹp, đưa guidewire

vào dạ dày

+ Đánh dấu đoạn hẹp: nếu đưa ống

soi qua được, dùng trực tiếp chiều dài

của ống soi, nếu không đưa ống nội soi

qua được, căn cứ phim chụp X quang

thực quản cản quang, phim chụp CT-

scan và bơm thuốc cản quang hoặc quan

sát trực tiếp trên màn tăng sáng

+ Rút ống soi, giữ nguyên vị trí của

guidewire, nong thực quản (nếu có hẹp

khít), luồn stent qua guidewire và đưa

qua đoạn hẹp, xác định vị trí stent cần bung

+ Bung stent từ đầu xa đến đầu gần

bằng cách rút sợi dây của stent, đồng

thời theo dõi quá trình bung stent trên

màn hình tăng sáng để điều chỉnh vị trí

cần bung stent

+ Nội soi kiểm tra, điều chỉnh vị trí stent

- Xử lý số liệu: bằng chương trình

phần mềm SPSS 16.0

- Đánh giá hiệu quả sau điều trị:

+ Kết quả: thành công hay thất bại + Thời gian thực hiện kỹ thuật

+ Hiệu quả: mức độ cải thiện triệu chứng nuốt khó theo bảng phân loại mức

độ nuốt khó của Mellow và Pinkas; độ 0: không nuốt khó; độ 1: ăn được thức

ăn đặc; độ 2: ăn được thức ăn nghiền nhỏ (cơm nhão, cháo); độ 3: chỉ ăn được thức ăn lỏng; độ 4: tắc nghẽn hoàn toàn, không ăn uống được

- Tai biến và biến chứng: tức thì, trong tuần đầu, sau 1 tuần, thời gian sống của BN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu

Tổng số BN: 22 Tất cả đặt stent tự bung, có màng bao bọc Về giới, gặp chủ yếu là BN nam (21/22 BN = 95,5%) Tỷ lệ nam/nữ: 21/1 Về độ tuổi: nhỏ nhất 46 tuổi, cao nhất 79 tuổi, độ tuổi trung bình 62,5

* Đặc điểm về thời gian biểu hiện bệnh:

< 3 tháng: 12 BN (54,5%); 3 - 6 tháng:

8 BN (36,4%); > 6 tháng: 2 BN (9,1%) Hơn 1/2 sè BN phát hiện trong 3 tháng đầu, chứng tỏ UTTQ tiến triển khá nhanh

* Đặc điểm về nghề nghiệp:

Nông dân: 16 BN (72,7%); công nhân, viên chức: 6 BN (21,3%) Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nông dân, điều này phản ánh một thực trạng tại Việt Nam, đó là, việc quan tâm, chăm sóc sức khỏe và phát hiện sớm bệnh còn nhiều

Trang 4

154

hạn chế, thường khi bệnh ở giai đoạn

muộn, người bệnh mới nhờ đến sự chăm

sóc của thầy thuốc

* Đặc điểm tiền sử của đối tượng

nghiên cứu:

Nghiện rượu: 19 BN (86,4%); nghiện

thuốc lá: 11 BN (50%); nghiện rượu +

thuốc lá: 9 BN (40,9%); bệnh khác:

3 BN (13,6%)

Kết quả này phản ánh phong tục tập

quán và thói quen sinh hoạt có hại cho

sức khỏe của người dân, trong đó, uống

rượu và hút thuốc lá còn phổ biến

Bảng 1: Đặc điểm triệu chứng lâm sàng

của đối tượng nghiên cứu

(n = 22)

TỶ LỆ (%)

Đau ngực 20 90,9

Nuốt

nghẹn

Rắn

Đặc

Lỏng

0

14

8

0 63,6 36,4 Nói khàn 6 27,3

Sụt cân < 3 kg

3 - 10 kg

> 10

5

15

2

22,7 68,2 9,1 Nôn máu 0 0

Tổng 22 100

Triệu chứng lâm sàng khá đa dạng:

hầu hết BN có đau ngực Khi khảo sát

việc nuốt nghẹn của BN, chúng tôi thấy

8/22 BN (36,4%) nuốt nghẹn với chất

lỏng Đây là những BN đã bị nghẹn gần

hoàn toàn, khi triệu chứng lâm sàng đã

nặng mới đến bệnh viện; 14/22 BN (63,6%) nuốt nghẹn với chất đặc Như vậy, toàn bộ BN đều có nuốt nghẹn, tương

tự kết quả của Vũ Văn Khiên và CS [2]

Về triệu chứng nói khàn, 6/22 BN (27,3%) có triệu chứng nói khàn 17/22

BN (77,3%) sụt > 3 kg Như vậy, đối tượng nghiên cứu ở đây chủ yếu khi thấy nuốt nghẹn, sụt cân mới tìm đến sự can thiệp của thầy thuốc

2 Kết quả thủ thuật đặt stent thực quản

Bảng 2: Đặc điểm khảo sát tổn thương

khối u qua cận lâm sàng

(n = 22)

TỶ LỆ (%)

Chiều dài tổn thương (X quang)

< 5 cm

5 - 10 cm

> 10 cm

2

15

5

9,1 68,2 22,7

Di căn (CT-can) (n = 12)

Xâm lấn

Di căn gần

Di căn xa

16

6

0

72,7 27,3

0

Vị trí 1/3 giữa

1/3 dưới

12

10

54,5 45,5

Nguồn gốc

Ung thư thực quản Ung thư

dạ dày xâm lấn

20

2

90,9 9,1

Mức độ hẹp

Hẹp ít Hẹp vừa Hẹp nhiều

3

10

9

13,6 45,5 40,9 Nong thực quản 5 22,7 Xâm lấn tâm vị 7 31,8 Tổng 22 100

Trang 5

155

Trên phim chụp X quang thực quản

có cản quang, chúng tôi thấy chiều dài

tổn thương chủ yếu từ 5 - 10 cm, 5 BN

có chiều dài tổn thương > 10 cm, với

những tổn thương > 10 cm gây khó khăn

cho việc tiến hành thủ thuật Trên phim

chụp cắt lớp vi tính cũng cho thấy đa số

BN đều có xâm lấn của khối u ra các cơ

quan xung quanh (16/22 BN = 72,7%) 6

BN (27,3%) có di căn

Về vị trí có khối u, tất cả khối u ở 1/3

giữa và 1/3 dưới của thực quản Theo Lê

Quang Nghĩa, với chiều dài tổn thương

> 5 cm, BN không còn chỉ định phẫu

thuật vì u đã xâm lấn các cơ quan lân

cận [1] Về nguồn gốc khối u: 20/22 BN

(90,9%) là ung thư thực quản, chỉ 2

trường hợp ung thư dạ dày xâm lấn lên

1/3 dưới thực quản

Qua nội soi, chúng tôi đánh giá mức

độ hẹp thực quản của BN và thấy: đa số

BN đều có hẹp từ mức độ vừa đến mức

độ nhiều Và mức độ hẹp này phù hợp

với triệu chứng lâm sàng, hầu hết BN

đều nuốt nghẹn với chất đặc và chất

lỏng Đặc biệt, 5 BN phải nong thực

quản bằng dụng cụ trước khi đưa stent

vào

Xâm lấn tâm vị cũng là tổn thương

hay gặp trong UTTQ (7/22 BN = 31,8%)

Bảng 3: Kết quả, tai biến của kỹ thuật

và mô bệnh học

KẾT QUẢ ĐẶT STENT

SỐ LƯỢNG (n = 22)

TỶ LỆ

%

Thành công 22 100 Thời

gian đặt

< 15 phút

15 - 30 phút

> 30 phút

11

9

2

50,0 40,9 9,1 Giải

phẫu bệnh

Ung thư biểu

mô gai Ung thư biểu

mô tuyến

16

6

72,7 27,3

Tai biến

Đau ngực Khó thở Chảy máu Tụt stent Thủng Tắc

20

3

2

1

0

0

90,9 13,6 9,1 4,5

0

0

Thời gian cho thủ thuật thường < 30 phút (20/22 BN = 90,9%) Lúc đầu khi mới thực hiện kỹ thuật này, 2 BN đầu tiên tiến hành > 30 phút Do khối u gây hẹp nặng, chúng tôi phải nong thực quản, sau đó mới đặt stent Những BN sau, kỹ thuật thực hiện thành thạo hơn nên thời gian được rút ngắn Càng về sau, thời gian thực hiện kỹ thuật càng ngắn Kết quả mô bệnh học cho thấy: 16/22

BN (72,7%) ung thư biểu mô gai, ung thư biểu mô tuyến 27,3%

Mức độ cải thiện triệu chứng nuốt khó trong 24 giờ sau đặt stent là 20/22

BN (90,9%), tương tự kết quả của một

số tác giả khác: tỷ lệ cải thiện triệu

Trang 6

156

chứng nuốt khó đạt > 90% [9] Không

có tai biến nghiêm trọng xảy ra Chủ

yếu ngay sau khi can thiệp, triệu

chứng đau ngực là phổ biến nhất (20

BN = 90,9%) Tuy nhiên, triệu chứng

này chỉ kéo dài vài ngày đầu, sau đó

giảm dần Có 3 BN (13,6%) kèm theo

khó thở nhẹ 2 BN chảy máu tại khối u

nằm giữa vị trí thân stent do chèn ép

khi bung stent, tuy nhiên cũng tự cầm

máu Chúng tôi sử dụng 100% stent tự

bung, có bọc, 1 BN đặt nội khí quản,

15/22 BN đặt stent chống trào ngược

và 1 BN bị tụt stent sau đặt (do BN ăn

cơm, nuốt mạnh, stent tự tụt BN

không biết, sau 1 tuần stent theo

đường phân ra ngoài) Sau 3 tháng

theo dõi, 2 BN (9,1%) tử vong,

nguyên nhân do ung thư di căn và suy

kiệt nặng Sau 6 và 12 tháng theo dõi

lần lượt có 5 và 8 BN tử vong cũng do

tình trạng ung thư di căn C Munoz

kết luận tỷ lệ tử vong trong tuần đầu

tiên < 5%, và tỷ lệ tử vong trong 30

ngày đầu < 30% C Munoz cho

rằng biến chứng của đặt stent thực

quản liên quan tới vị trí của tổn

thương: với UTTQ 1/3 trên, biến

chứng hay gặp là hô hấp, liên quan tới

gây mê; với vị trí 1/3 dưới, biến chứng

hay gặp là trào ngược dạ dày thực

quản [9] Để khắc phục tình trạng này,

các tác giả khuyến cáo dùng stent

chống trào ngược

Tỷ lệ sống sót 5 năm sau đặt stent

thực quản của các nghiên cứu đều

dưới 20% Tuy nhiên, đây là một kỹ

thuật nâng cao chất lượng cuộc sống

của BN một cách rõ rệt, bằng cách cải

thiện triệu chứng, dự phòng viêm phổi, rối loạn điện giải do ăn uống kém và nuôi dưỡng tốt cho BN Theo

C Munoz, thời gian sống trung bình

từ 49 - 186 ngày [9] Điều đáng nói nhất và có tính nhân đạo nhất đó là cải thiện đường ăn uống sinh lý cho BN Sau đặt stent, BN có thể ăn được các chất lỏng như súp, cháo mà không sợ

bị sặc, bị nghẹn, không còn cảm giác đói, mặc dù rất thèm ăn mà không thể

ăn được Tinh thần được cải thiện cho

cả BN và gia đình họ, BN đã có thể ăn uống được và tăng cân

Tóm lại, kỹ thuật đặt stent thực quản là một kỹ thuật ít lâm lấn, tương đối đơn giản, được chỉ định nhằm điều trị triệu chứng cho BN UTTQ giai đoạn cuối, không còn khả năng phẫu thuật, điều trị hóa chất, có nuốt khó Các biến chứng hay gặp: đau ngực, chảy máu tại vị trí stent, thủng, tụt stent, stent lệch vị trí, hẹp khí phế quản, sốt, viêm phổi, trào ngược dạ dày thực quản…

KẾT LUẬN

1 Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu

- Chủ yếu đối tượng nghiên cứu là nam giới (95,5%) Tỷ lệ nam/nữ là 21/1 Độ tuổi trung bình: 62,5 Chủ yếu đối tượng nghiên cứu là nông dân (72,7%) 86,4% BN có tiền sử nghiện rượu, 50% nghiện thuốc lá, 40,9%

nghiện cả rượu lẫn thuốc lá

- 100% nuốt nghẹn, 90,9% đau ngực, sụt > 3 kg có 17/22 BN (77,3%)

Trang 7

157

2 Kết quả thủ thuật đặt stent

- Tổn thương có chiều dài > 5 cm gặp

ở 20/22 BN (90,9%) 72,7% BN có xâm

lấn của khối u ra xung quanh Vị trí chủ

yếu gặp ở 1/3 giữa và 1/3 dưới thực

quản Mức độ hẹp chủ yếu từ mức độ

vừa đến hẹp nhiều: 19/22 BN (86,4%) 5

BN phải nong thực quản Ung thư biểu

mô gai chiếm 16/22 BN (72,7%)

- Tỷ lệ thành công 100% Thời gian

đặt < 30 phút: 20/22 BN (90,9%) Mức

độ cải thiện triệu chứng nuốt khó trong

vòng 24 giờ sau đặt stent là 20/22 BN

(90,9%) 1 BN stent tự tụt theo đường

phân ra ngoài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Quang Nghĩa Ung thư thực quản

NXB Y học TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí

Minh 2001

2 Vũ Văn Khiên và CS Nghiên cứu hiệu

quả đặt stent cho BN UTTQ không còn chỉ

định phẫu thuật Tạp chí Y Dược lâm sàng

108 Tập 6, số đặc biệt, tháng 3/2011,

pp.117-124, ISSN, tr.1859- 2872

3 Ngô Phương Minh Thuận và CS Đánh

giá hiệu quả của kỹ thuật đặt stent kim loại

thực quản qua nội soi tại Bệnh viện Chợ Rẫy Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam Tập IV, số 25-2011, ISSN, tr.1895-0640

4 Alessandro Recipi, Giacomo Rando

Expandable stents for malignant dysphagia Techniques in Gastrointestinal endoscopy

2008, 10, pp.175-183

5 Lee, S H The role of oesophageal

stenting in non-surgical management of oesophageal strictures Br J Radiol 2001,

74 (886), pp.891-900

6 Ramirez, F C, Dennert, B, Zierer, S T, Sanowski, R A Esophageal self- expandable

metallic stents: indications, practice, technique, and complications: results of a national survey Gastrointest Endosc 1997, 45 (5), pp.360-364

7 Sharma, P, Kozarek, R Role of esophageal

stents in benign and malignant diseases Am

J Gastroenterol 2001, 105 (2), pp.258-273; quiz 274

8 Mellow, M H, Pinkas, H Endoscopic

laser therapy for malignancies affecting the esophagus and gastroesophageal junction Analysis of technical and functional eddicacy Arch Intern Med 1985, 145 (8), pp.1443-1446

9 Juan C Munoz, MD Esophageal stenting

in patients with advanced esophageal cancer

2010

Trang 8

158

Ngày đăng: 23/01/2020, 12:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w