1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá chất lượng ý dĩ ở một số cơ sở cung ứng và sử dụng trên địa bàn Hà Nội

8 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 750,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý dĩ (Semen Coisis) là vị thuốc cổ truyền được sử dụng phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên, vị thuốc này dễ bị nhầm lẫn và giả mạo. Đề tài tiến hành khảo sát chất lượng 15 mẫu Ý dĩ tại Thành phố Hà Nội theo chuyên luận Ý dĩ của Dược điển Việt Nam IV có so sánh với mẫu chuẩn và mẫu đối chiếu. Với 15 mẫu khảo sát thì chỉ tiêu tỉ lệ tạp chất (từ 0,15% đến 0,42%) và hàm lượng tro toàn phần (từ 1,25% đến 1,82%) đạt theo quy định; 10 mẫu có giới hạn hàm ẩm (từ 8,00 đến 11,55%); 2 mẫu có chỉ tiêu soi bột và chỉ tiêu mô tả đạt theo quy định; hàm lượng chất chiết được của 15 mẫu (từ 1,51% đến 3,54%) không đạt (qui định ≥ 5,5%).

Trang 1

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Văn Phúc – Khoa Y học cổ truyền

– Trường Đại học Y Hà Nội

Email: phucdhy@gmail.com

Ngày nhận: 28/7/2016

Ngày được chấp thuận: 08/10/2016

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG Ý DĨ Ở MỘT SỐ CƠ SỞ CUNG ỨNG

VÀ SỬ DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Nguyễn Văn Phúc, Hoàng Minh Chung

Trường Đại học Y Hà Nội

Ý dĩ (Semen Coisis) là vị thuốc cổ truyền được sử dụng phổ biến ở Việt Nam Tuy nhiên, vị thuốc này dễ

bị nhầm lẫn và giả mạo Đề tài tiến hành khảo sát chất lượng 15 mẫu Ý dĩ tại Thành phố Hà Nội theo chuyên luận Ý dĩ của Dược điển Việt Nam IV có so sánh với mẫu chuẩn và mẫu đối chiếu Với 15 mẫu khảo sát thì chỉ tiêu tỉ lệ tạp chất (từ 0,15% đến 0,42%) và hàm lượng tro toàn phần (từ 1,25% đến 1,82%) đạt theo quy định; 10 mẫu có giới hạn hàm ẩm (từ 8,00 đến 11,55%); 2 mẫu có chỉ tiêu soi bột và chỉ tiêu mô tả đạt theo quy định; hàm lượng chất chiết được của 15 mẫu (từ 1,51% đến 3,54%) không đạt (qui định ≥ 5,5%).

Từ khóa: Semen Coisis, Coix Seed

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hà Nội là trung tâm văn hoá, kinh tế,

chính trị của cả nước, là nơi tập trung các

bệnh viện từ trung ương đến địa phương,

các bệnh viện tư nhân, nhà thuốc tư nhân

Hà Nội còn có các khu nuôi trồng dược liệu

có quy mô lớn được quy hoạch như Thanh

Trì, Sóc Sơn và trung tâm buôn bán dược

liệu quy mô lớn nhất cả nước như phố Lãn

Ông (Hoàn Kiếm), Ninh Hiệp (Gia Lâm)

Chính vì thế, lượng bệnh đến với những cơ

sở khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền

ngày càng đông, đóng góp rất lớn trong việc

chăm sóc sức khoẻ nhân dân không chỉ trong

nội thành, ngoại thành mà cả các tỉnh, thành

phố khác trong toàn quốc [1; 2]

Dược liệu và thuốc cổ truyền đã được sử

dụng phổ biến và thông dụng từ lâu đời ở Việt

Nam Thuốc cổ truyền trước khi đưa vào sử

dụng đều phải kiểm tra chất lượng và phải đạt

yêu cầu chất lượng như tiêu chuẩn Dược điển

hay tiêu chuẩn cơ sở [3] Tiêu chuẩn hoá và kiểm tra chặt chẽ nguồn nguyên liệu ban đầu

là yếu tố quan trong để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị của thuốc cổ truyền Việc sử dụng thuốc cổ truyền ở các nước đa phần được quy định rất nghiêm ngặt, có những tiêu chuẩn và quy định của nhà nước về chất lượng Vì vậy, thuốc cổ truyền bị nhầm lẫn, giả mạo, kém chất lượng là mối quan tâm hàng đầu [4] Hiện nay, tình hình cung ứng

và sử dụng dược liệu cũng như thuốc cổ truyền ở Việt Nam còn rất nhiều bất cập Việc kiểm tra chất lượng dược liệu khi nhập khẩu, trồng tại địa phương và sử dụng chưa được chặt chẽ Nhiều dược liệu cùng tên nhưng khác loài, dược liệu có hình dáng gần giống nhau rất dễ bị nhầm lẫn trong nhận biết, dẫn đến nhầm lẫn trong sử dụng trong đó có vị thuốc Ý dĩ [5]

Vị thuốc Ý dĩ (Semen Coisis) là nhân hạt

của quả chín đã phơi hay sấy khô của cây Ý

dĩ (Coix lachryma-JobiL.), họ Lúa (Poaceae)

có tác dụng bồi bổ cơ thể, lợi tiểu tiện, tiêu phù thũng, chữa phong thấp lâu ngày không khỏi [6] Mặc dù được sử dụng phổ biến với nhiều công dụng như vậy, nhưng Ý dĩ được

Trang 2

sử dụng trong nước chủ yếu được nhập khẩu

từ Trung Quốc, sự nhầm loài của Ý dĩ (Semen

coicis) đã được một số tác giả đề cập [7; 8].

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu

chất lượng của vị thuốc này hiện đang được

sử dụng tại Hà Nội có đạt tiêu chuẩn chất

lượng như Dược điển Việt Nam quy định

không? Để góp phần nâng cao chất lượng

thuốc cho người bệnh, nghiên cứu được tiến

hành nhằm mục tiêu: Kiểm nghiệm chất lượng

dược liệu Ý dĩ ở một số cơ sở cung ứng và sử

dụng trên địa bàn Hà Nội theo tiêu chuẩn

Dược điển Việt Nam IV

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng

Mẫu Ý dĩ được thu thập trên thị trường Hà

Nội bằng cách đóng vai khách hàng đi đến

các cơ sở được chọn trước để mua vị thuốc Ý

dĩ mà người bán hàng không biết khách hàng

này đang tham gia vào nghiên cứu

2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Mẫu được chọn vào nghiên cứu là: Ý dĩ

chưa qua chế biến bằng cách sao, không

được xay vụn nát, không bị mốc, mọt

Mẫu loại khỏi nghiên cứu là: Ý dĩ đã được

sao vàng hoặc được xay nát không nhìn thấy

hạt, đã bị mốc hoặc bị mọt xâm hại

3 Phương pháp thu thập mẫu

Mẫu thu thập có chủ đích sao cho số mẫu

ở cơ sở cung ứng tương đương cơ sở sử

dụng và tương đối đại diện về hành chính

cũng như mô hình hoạt động cho 29 quận

huyện của Hà Nội Vì vậy, mẫu thu thập được

phân bố như sau:

+ Doanh nghiệp: 01 Doanh nghiệp thuộc

Hoàn Kiếm, 01 doanh nghiệp thuộc Hà Đông,

01 doanh nghiệp Trung ương

+ Cơ sở kinh doanh: 02 cơ sở ở Ninh Hiệp (Gia Lâm - Hà Nội), 02 cơ sở ở Lãn Ông (Hoàn Kiếm - Hà Nội)

+ Các cơ sở khám chữa bệnh và phòng chẩn trị (cơ sở sử dụng): công lập có 02 bệnh viện Y học cổ truyền; 02 khoa Y học cổ truyền thuộc bệnh viện đa khoa Tư nhân: chọn theo phương pháp ngẫu nhiên 03 phòng chẩn trị thuộc 6 quận huyện Đống Đa, Đông Anh, Nam Từ Liêm, Đan Phượng, Chương

Mỹ, Thạch Thất

4 Mẫu nghiên cứu

Tổng số mẫu lấy là 15 mẫu được ký hiệu lần lượt T1, T2, T3,… , T15 Thời gian lấy mẫu từ tháng 5/2011 đến tháng 4/2012

Mẫu đối chiếu: Ý dĩ của Công ty cổ phần dược Quảng Châu (C - TQ)

Mẫu chuẩn: Ý dĩ của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương (C - DD)

5 Phương pháp chung đánh giá chất lượng dược liệu

Các mẫu dược liệu thu về được nghiên cứu về chất lượng theo chuyên luận Ý dĩ của Dược điển Việt Nam IV, so sánh với mẫu chuẩn và mẫu đối chiếu [6]

6 Đánh giá chất lượng các dược liệu được khảo sát

Chất lượng của các dược liệu nghiên cứu được đánh giá theo tiêu chuẩn của chuyên luận của Ý dĩ ghi trong Dược điển Việt Nam IV

để xác nhận kết quả theo các mức độ sau: Mẫu đạt tiêu chuẩn IV là mẫu đạt 100 % không đạt bất kỳ một chỉ tiêu nào như Dược điển Việt Nam IV đã nêu Mẫu sau khi làm 3 lần coi như không đạt tiêu chuẩn làm thuốc Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Dược học cổ truyền, Khoa Y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội; Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Trường Đại học Dược Hà Nội

Trang 3

* Hóa chất và thiết bị

- Hóa chất: Silica gel G, acid acetic, ethyl

acetat, ether dầu hoả

- Máy móc, thiết bị: máy siêu âm, máy xay

dược liệu, thiết bị chiết xuất và cô dưới áp

suất giảm, kính hiển vi quang học Olympus

CH - 20 (Nhật), kính lúp soi nổi Leica E24,

Máy cô quay áp suất giảm, tủ sấy thường,

tủ ấm …

- Ý dĩ chuẩn: do Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương cung cấp Mẫu đối chiếu do công

ty Dược Quảng Châu – Trung Quốc cung cấp

III KẾT QUẢ

1 Mô tả đặc điểm vị thuốc

15 mẫu nghiên cứu theo mô tả được chia thành 2 loại Với một số hình đại diện như sau:

Hình 1 Hình ảnh một số mẫu Ý dĩ

Các mẫu thu thập được có hạt hình trứng ngắn, hơi tròn Kích thước có 2 loại: Các mẫu 1, 3,

4, 5, 6, 7, 8, 9, 14, 15 có các hạt hơi tròn, dài 1 - 2 mm, đường kính 1 - 2 mm, mặt ngoài màu trắng hay trắng ngà, hơi bóng, mặt trong có rãnh nhỏ nhưng ngắn, ở đầu rãnh có một chấm màu nâu đen, rắn chắc, chỗ vỡ màu trắng ngà, có bột; Mẫu số 2, 10, 11, 12, 13 bị vỡ vụn không còn nguyên hình hạt Các mẫu này có hình thái khác, cỡ hạt khoảng dài 5 8 cm, đường kính 2

-5 cm Mặt ngoài màu trắng hay trắng ngà, hơi bóng, chỗ vỡ màu trắng ngà, có bột, rắn chắc Các đặc điểm này không phù hợp với tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam IV cũng như mẫu chuẩn và đối chiếu

Riêng mẫu số 2, 10 nhiều hạt mặt trong có rãnh hình máng, ở đầu rãnh có một chấm màu nâu đen tương tự mẫu chuẩn và đối chiếu

Cắt dọc giữa rãnh các mẫu Ý dĩ còn nguyên hạt chưa vị vỡ vụn, soi dưới kính lúp: thấy 13 mẫu nội nhũ nhưng hầu như không trắng, phôi hẹp ngắn, nằm ở một bên rãnh, đặc điểm này

Mẫu chuẩn

Trang 4

không phù hợp tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam IV cũng như mẫu chuẩn và đối chiếu Riêng mẫu số 2, 10 chỉ còn một số hạt có thể cắt ngang qua rãnh thấy hình ảnh phôi hẹp dài hơn các mẫu khác, gần giống với mẫu đối chiếu

Mẫu chuẩn

Hình 2 Ảnh vi phẫu một số mẫu Ý dĩ Soi bột: nghiền bột các mẫu Ý dĩ nghiên cứu, soi dưới hính hiển vi ở độ phóng đại 40 lần thu

được các hình ảnh sau:

VI V

IV

I

Hình 3 Ảnh hạt tinh bột Ý dĩ mẫu nghiên cứu:

I: Mẫu chuẩn VKN; II: Mẫu so sánh; III: Mẫu số 7; IV: Mẫu số 10; V: Mẫu số 13; VI: Mẫu số 14.

Mẫu số 2 và 10 có các đặc điểm bột hình đĩa, đường kính 20 - 21mm, rốn có hình sao, tương

tự mẫu chuẩn, đối chiếu và quy định của Dược điển Việt Nam IV Trong các mẫu còn lại có những hạt tinh bột có kích thước lớn hơn 21µm, rốn sâu và rõ hơn so với mẫu chuẩn Mẫu số 7

có các hạt tinh bột thấy rõ vân tăng trưởng đồng tâm khác với mẫu chuẩn Mẫu số 14 thấy đa số

là hạt tinh bột hình đa giác

Sắc ký lớp mỏng: tiến hành với 15 mẫu nghiên cứu (T1…T15), 1 chuẩn (C - DD) và 1 đối

chiếu (C - TQ), hệ dung môi triển khai: Ether dầu (60 - 800C) - ethyl acetat - acid acetic (theo tỷ lệ

10 : 3 : 0,1) và quan sát dưới đèn tử ngoại ở bước sóng λ = 366 nm

Trang 5

Hình 4 Hình ảnh sắc ký đồ bản mỏng của các mẫu Ý dĩ

15 mẫu nghiên cứu từ T1 đến T15 và mẫu C - DĐ (mẫu chuẩn Viện kiểm nghiệm) C - TQ: (Mẫu đối chiếu).

Trên sắc ký đồ mẫu chuẩn và đối chiếu có 1 vết màu lơ xanh và 2 vết màu xanh sáng ở Rf lần lượt là 0,32; 0,37 và 0,42 15 mẫu thử đều thiếu vết so với sắc ký đồ của mẫu chuẩn Mẫu 4 có vết ở Rf 0,32; mẫu 7 không có vết Mẫu 2, 3, 5, 6 chỉ có 1 vết Mẫu 1 có vết khác

Kết quả kiểm nghiệm các mẫu Ý dĩ được tổng hợp ở bảng sau

Bảng 1 Tổng hợp chất lượng 15 mẫu Ý dĩ

tả

Vi phẫu

Soi bột

SKLM (có 3 vết)

Độ ẩm

< 12% Tro TP

< 2%

Tạp chất

< 0,5%

TL vụn nát

< 2%

Chất chiết được

> 5,5%

TCĐ/

9 TC

Trang 6

Độ ẩm: 10 mẫu đạt Tro toàn phần và tỷ lệ tạp chất: 15 mẫu đạt Tỷ lệ vụn nát: 13 mẫu đạt Hàm lượng chất chiết được trong dược liệu: Tiến hành theo phương pháp chiết nóng 15 mẫu nghiên cứu đều không đạt

V BÀN LUẬN

Theo quy định của Bộ Y tế, chất lượng

dược liệu Ý dĩ được sử dụng ở Việt Nam

phải đạt mọi chỉ tiêu theo chuyên luận ý dĩ

trong Dược điển Việt Nam IV [6] Theo

nghiên cứu này, có 3 tiêu chí của chỉ tiêu mô

tả là hình thái với kích thước hạt; vi phẫu với

đặc điểm nội nhũ và phôi; soi bột với đặc

điểm hạt tinh bột hình đĩa, nhân có rốn

thường phân nhánh hình sao là điển hình

cho Ý dĩ Đây có thể coi là những đặc điểm

để có thể nhận dạng được “tính đúng” của

dược liệu Ý dĩ Kết quả nghiên cứu có 13/15

mẫu không đạt 3 chỉ tiêu này Theo một số

tác giả [1; 3; 8; 10], Ý dĩ dùng ở Việt Nam có

thể bị nhầm lẫn với Cao lương (Sorghum

vul-gare Pers.) có đặc điểm hình ảnh như 13

mẫu được gọi là Ý dĩ mà chúng tôi khảo sát

Trong nghiên cứu hóa thực vật, hình ảnh

sắc ký lớp mỏng như là “Dấu vân tay” cho mỗi

loài dược liệu làm thuốc [9] Mỗi một vết được

thể hiện như một nhóm hoạt chất có trong

dược liệu, một khi thiếu hoặc thừa vết coi như

mẫu đó không đúng về chỉ tiêu định tính bằng

sắc ký lớp mỏng vì có thể là không đủ thành

phần hoạt chất hoặc có thêm chất lạ [13] Kết

quả nghiên cứu cho thấy 14/15 mẫu thử sắc

ký đồ thiếu một vết so với yêu cầu Dược điển

Việt Nam IV Đặc biệt có 1/15 mẫu không có

vết trên sắc ký đồ Như vậy, trong tổng 15 mẫu

có đến 14 mẫu không đạt chỉ tiêu định tính,

cũng có nghĩa các mẫu này không phải là loài

Ý dĩ quy định trong Dược điển Việt Nam IV

Chất chiết trong dược liệu là chỉ tiêu quan

trọng để đánh giá lượng hoạt chất, chất lượng

dược liệu Chất chiết được thường là hỗn hợp gồm nhiều hoạt chất của dược liệu, lượng chất chiết được đạt theo quy định thì lượng hoạt chất chính có tác dụng điều trị bệnh mới

đủ đáp ứng đúng tiêu chuẩn của dược liệu [11; 13] Kết quả nghiên cứu 15/15 mẫu đều không đạt chỉ tiêu này Kết hợp với kết quả 3 chỉ tiêu mô tả với đặc điểm kích thước; vi phẫu với đặc điểm nội nhũ và phôi; soi bột với đặc điểm hạt tinh bột cho thấy mặc dù 2/15 mẫu đạt tiêu chuẩn này nhưng lại không đạt

về chỉ tiêu chất lượng

Độ ẩm ảnh hưởng đến hàm lượng hoạt chất vì có thể làm thay đổi hoặc làm giảm hàm lượng hoạt chất, chịu ảnh hưởng của công tác bảo quản Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nấm mốc, mối mọt làm thay đổi chất lượng dược liệu và có thể gây ra những tác dụng phụ trong điều trị bệnh [3; 11] Kết quả nghiên cứu có 10/15 mẫu đạt chỉ tiêu độ ẩm, còn lại 5 mẫu chưa đạt chỉ tiêu này, đây cũng là yếu tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu

Theo tập tuyển chọn những cây thuốc ở

Việt Nam [12], loài Ý dĩ (Coix lacryma - jobi L.) được làm thuốc có 2 thứ là Coix lacryma

-jobi L.var.mayuen Stapf (như DĐTQ 2010)

và Coix lacryma-jobi L.var.susudama Honda.

Ngoài ra, còn có loài Ý dĩ hoang dại được

chia làm 3 thứ: Coix lacryma - jobi L.var stenocarpa, Coix lacryma-jobi L.var monilif-era và Coix lacryma - jobi L.var.puellarum,

nhìn chung hình dáng của chúng giống loài được trồng trọt

Trang 7

Theo Trung tâm dữ liệu Việt Nam, giới

thiệu chi Coix có 4 loài là:

- Coix aquatica Roxb Tên khác: Coix

lacryma-jobi L form aquatica (Roxb.) Back;

- Coix chinensis Todaro ex Balansa (Bo bo;

ý dĩ) Tên khác: *Coix lacryma - jobi L var

mayuen (Romanet) Stapf

- Coix lacryma jobi var gigantea (Roxb.)

Hook (Nga núi)

- **Coix lacryma-jobi L (Cườm gạo; Bo bo

nếp; ý dĩ nhọn) Tên khác: Coix lacryma L.,

Coix agrestis Lour., Coix puellarum Bal

Dược điển Trung Quốc 2010 sử dụng loài

(*) Coix lacryma - Jobi L.var.mayuen Stapf.

[13] Dược điển Việt Nam IV quy định ý dĩ là

hạt của cây **Coix lachryma-Jobi L [6].

Như vậy loài Ý dĩ của Trung Quốc và Việt

Nam quy định có khác nhau, có hình dạng,

đặc điểm bột giống nhau; tuy nhiên định tính

bằng sắc ký lớp mỏng cho thấy hai loài Ý dĩ

Việt Nam và mẫu so sánh Ý dĩ Trung Quốc

đều cho 3 vết Rf giống nhau trên sắc ký đồ,

tuy nhiên màu sắc và diện tích vết của hai

mẫu có khác nhau Điều đó cho thấy dược

liệu Ý dĩ của Việt Nam là một thứ khác Do

nghiên cứu mới ngừng ở mức độ định tính,

cần có các nghiên cứu định danh Ý dĩ theo

mức phân loại dưới loài là thứ, để thống nhất

dược liệu Ý dĩ dùng làm thuốc ở Việt Nam

Việc sử dụng vị dược liệu, vị thuốc y học

cổ truyền đảm bảo chất lượng trong các cơ sở

khám chữa bệnh đã được chú trọng Chất

lượng dược liệu vị thuốc y học cổ truyền sử

dụng trong các bệnh viện y học cổ truyền đã

được tăng cường kiểm tra, kiểm soát Tuy

nhiên, việc quản lý chất lượng dược liệu còn

gặp nhiều khó khăn Nhiều dược liệu chỉ được

kiểm tra, kiểm soát chất lượng bằng cảm quan

và kinh nghiệm [3; 7] Riêng đối với dược liệu

Ý dĩ đã có nhiều chuyên luận đề cập đến vấn

đề Ý dĩ giả mạo và kém chất lượng từ những năm 2009 cho đến 2012 [3; 7; 8], nhưng tại thời điểm khảo sát tình trạng này vẫn tồn tại

V KẾT LUẬN

Kết quả kiểm tra chất lượng của 15 mẫu Ý

dĩ thu thập trên thị trường Hà Nội so với tiêu chuẩn chuyên luận của Ý dĩ trong Dược điển Việt Nam IV mẫu chuẩn và đối chiếu được kết quả: 15/15 mẫu có tỉ lệ tạp chất (từ 0,15% đến 0,42%) và hàm lượng tro toàn phần (từ 1,25% đến 1,82%) đạt (quy định ≤ 2,0%); 10/15 mẫu

có giới hạn hàm ẩm (8,00 - 11,55%) đạt (quy định ≤ 12,0%); 2/15 mẫu đạt chỉ tiêu mô tả và soi bột; 15/15 mẫu có hàm lượng chất chiết được (1,51% - 3,54%) không đạt (qui định

≥ 5,5%)

Như vậy, 15/15 mẫu nghiên cứu không đạt

đủ các chỉ tiêu theo chuyên luận Ý dĩ của Dược điển Việt Nam IV cũng như mẫu chuẩn

và đối chiếu

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự giúp

đỡ của Hội Đông y Hà Nội; Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương trong quá trình thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Minh Chung (2010) Báo cáo

tình hình chất lượng một số dược liệu dùng trong Y học cổ truyền trên thị trường Hà Nội Tài liệu tập huấn triển khai thông tư 12/2010/ TT-BYT và Thực trạng chất lượng dược liệu trên thị trường & trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền hiện nay

2 Cục thống kê Hà Nội (2010) Niên giám

thống kê Hà Nội năm 2009 Cục thống kê Hà Nội.

Trang 8

3 Trần Thị Hồng Phương (2010) Báo

cáo thực trạng chất lượng dược liệu và thuốc

đông y, thuốc từ dược liệu tên thị trường và

các biện pháp quản lý Tài liệu Hội nghị tổng

kết công tác y dược cổ truyền năm 2009

phương hướng công tác năm 2010.

4 趙中振,李應生 (2005) 香港容易混淆中

藥 香港中藥聯商 12-20

5 Cục quản lý Dược Việt Nam (2005).

Một số vấn đề liên quan đến thuốc cổ truyền

Tài liệu Hội nghị phát triển đông dược và các

chính sách có liên quan Bộ Y tế, Hà Nội, 58 –

61

6 Bộ Y tế (2009) Dược điển Việt Nam IV.

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 938.

7 Hoàng Minh Chung (2012) Tình hình

chất lượng dược liệu và các vị thuốc Y học cổ

truyền dễ bị nhầm lẫn, giả mạo Tài liệu tập

huấn Nhận dạng dược liệu và phương pháp

bào chế theo Y học cổ truyền Viện Y Dược

học dân tộc, Thành Phố Hồ Chí Minh

8 Nguyễn Viết Thân (2009) Thực trạng

chất lượng dược liệu trên thị trường và công

tác kiểm định chất lượng thuốc Y học cổ

truyền Tài liệu tập huấn Thực trạng và các

phương pháp kiểm định chất lượng thuốc Y học cổ truyền Vụ Y Dược cổ truyền, Bộ Y tế.

9 Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Viết Thân và cộng sự (2007) Nghiên cứu tiêu

chuẩn hóa dược liệu bằng sắc ký lỏng cao áp

với kỹ thuật dấu vân tay Tài liệu Hội nghị

dược liệu toàn quốc lần thứ hai - Phát triển dược liệu đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.

Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, 262 - 269

10 Nguyễn Viết Thân (2003) Kiểm

nghiệm dược liệu bằng phương pháp hiển vi

Tập 1 Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật

260 - 262

11 Bùi Thị Bích Liên (2012) Một số vấn

đề về chất lượng dược liệu ở Quảng Ngãi Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi

12 Nguyễn Thượng Dong (2004) Cây thuốc và động vật làm thuốc, Tập II Nhà xuất

bản Khoa học và kỹ thuật,1155 - 1157.

13 国家药典委员会 (2010) 中华人民共和

国药典一部.北京: 化学工业出版社,291 - 293

14 Chinese Medicine in Hong Kong, China, The 2nd world Intergrative Medicine Congress Abtracts 11

Summary QUALITY OF SEMEN COIX FROM VARIOUS SUPPLIERS

AND CONSUMERS IN HANOI

Semen Coix is used as a popular traditional medicine in Vietnam, however it is easy to get fake product and substandard quality In this study, we evaluated the quality of 15 Semen Coix samples taken in Hanoi City in accordance with the Semen Coix composition under the Vietnamese Pharmacopoeia Fourth Edition in comparison with standard samples 15 Semen Coix samples met requirements with the impurity level of 0.15 - 0.42% and total Ash of 1.25 - 1.82%

10 samples met the moisture limit (8.00 - 11.55%) requirement; 2 samples met the descriptive and powdered criteria; the extracted content of 15 samples (1.51% - 3.54 %) failed to meet requirements (≥ 5.5%)

Keywords: Semen Coix, Coix Seed

Ngày đăng: 23/01/2020, 12:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w