1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011

7 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 277,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành để khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Nghiên cứu tiến hành mô tả hàng loạt ca các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

BỆNH VIÊM RUỘT HOẠI TỬ Ở TRẺ SANH RẤT NHẸ CÂN

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ THÁNG 12/2010 ĐẾN THÁNG 08/2011

Nguyễn Quý Tỷ Dao*, Huỳnh Thị Duy Hương*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân

tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột

hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011

Kết quả: Với 18 trường hợp viêm ruột hoại tử, chúng tôi đã xác định được các đặc điểm sau: đa phần,

(16/18) trẻ có cha mẹ sống ở tỉnh ngoài TP.HCM, 12/18 trẻ được chuyển đến Bệnh viện Nhi Đồng 1 vì sanh non, 12/18 trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 1250g và 9/18 trẻ sanh non dưới 28,5 tuần tuổi thai, 3/18 trẻ có mẹ được dùng corticoide trước sanh Trẻ thường được bắt đầu cho ăn sữa vào 3 ngày tuổi, ăn được nửa lượng sữa vào 7 ngày tuổi và ăn được đủ sữa lúc 10 ngày tuổi Phần lớn trẻ được ăn sữa công thức (16/18) Tốc độ tăng sữa tối

đa là 33,6ml/kg/ngày Trẻ thường có bệnh khác kèm theo: 15/18 bệnh màng trong, 15/18 suy hô hấp phải hỗ trợ CPAP hay thở máy, 11/18 nhiễm trùng huyết, 6/18 trẻ có PDA trước khi khởi phát viêm ruột hoại tử Không trẻ nào được sử dụng probiotic Có 9/18 trẻ khởi phát VRHT trước 12 ngày tuổi với bệnh cảnh 16/18 trẻ có chướng bụng, 15/18 trẻ có dịch dạ dày ứ; 14/18 trẻ lừ đừ; 9/18 trẻ có hạ thân nhiệt Về cận lâm sàng thì 11/18 trường hợp

có quai ruột dãn cố định, 3/18 có hơi trong thành ruột và không bệnh nhi nào có hơi trong tĩnh mạch cửa trên X quang bụng không sửa soạn 8/18 trẻ có hình ảnh viêm phúc mạc; 2/18 trẻ có hơi trong tĩnh mạch cửa và 2/18 trẻ

có hơi trong thành ruột phát hiện bằng siêu âm bụng.Trong 18 trẻ VRHT thì có 4/18 trẻ được dẫn lưu ổ bụng và 6/18 trẻ được phẫu thuật, 9/18 VRHT tử vong

Kết luận:Viêm ruột hoại tử xảy ra tập trung ở nhóm trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 1250g, 50% trường hợp

dưới 28,5 tuần tuổi thai Triệu chứng thường gặp nhất là chướng bụng (16/18), dịch dạ dày ứ (14/18) Triệu chứng thường gặp nhất trên Xquang bụng không sửa soạn là quai ruột dãn cố định (11/18) và trên siêu âm bụng

là viêm phúc mạc (8/18) Tỉ lệ tử vong đến 50%

Từ khóa: viêm ruột hoại tử, dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng

ABSTRACT

NECROTISING ENTEROCOLITIS IN NEWBORNS WITH VERY LOW BIRTH WEIGHT

AT CHILDREN’S HOSPITAL 1

Nguyen Quy Ty Dao, Huynh Thi Duy Huong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 217 - 223

Objective:The present study was designed to describe the epidemiological, clinical characteristics and lab

results of very low birth weight (VLBW) newborns with necrotizing enterocolitis (NEC)

Methods: A prospective case series investigation conducted in the Neonatal Intensive Care Department,

Children’s Hospital 1, Vietnam between December 2010 and August 2011 Twenty one VLBW newborns with NEC were enrolled in the study Of them, three individuals were excluded by having severe congenital defects

Results: Among 18 cases, number of patients came from provinces, transferred to Children’s hospital 1 due

* Đại học Y dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BSCK1 Nguyễn Quý Tỷ Dao ĐT: 0937250092 Email: hdvb2004@yahoo.com

Trang 2

to premature, had birth weight under 1250g, gestational age under 28.5 weeks, and their mothers injected corticoid before delivery were 16, 12, 12, 9, and 3 respectively Newborns were started enteral feeding at 3-day old, got the half of enteral feeding at 7- day old and caught full feeding at 10-day old Sixteen cases fed formula milk with maximum volume increase was 33.6ml/kg/d In addition, they often had co-morbidities such as severe respiratory distress syndrome (15/18), sepsis (11/18), and patent ductus arteriosus (6/18) None of them has been used probiotic before developing NEC; 9/18 developed NEC before 12-day old with; 16/18 abdominal distention, 15/18 gastric retention, 14/18 lethargy, 9/18 hypothermia On abdominal radiograph, there were 11/18 patients with persistent dilated loops of bowel, 3/18 patients with pneumatosis intestinalis, none of patients had portal venous gas In term of abdominal ultrasonography, we detected 8/18 cases with peritonitis, 2/18 cases with portal venous gas, 2/18 cases with pneumotosis intestinalis Among the 18 cases, there were 4/18 patients with peritoneal drainage, 6/18 patients with surgical management and 9/18 died

Conclusions: These data suggest that NEC frequently occurred in newborns under 1250g birth weight and

up to 28.5 weeks for gestational age The most often signs were abdominal distention, gastric retention, persistent dilated loops of bowel and peritonitis The mortality rate is still high

Keywords: Necrotizing enterocolitis, epidemiology, and clinical, subclinical characteristic

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm ruột hoại tử (VRHT) là một cấp cứu

tiêu hoá thường gặp nhất ở giai đoạn sơ sinh,

tập trung 90% ở trẻ sanh rất nhẹ cân (SRNC)

và 7-14% trẻ SRNC bị VRHT, bệnh đặc trưng

bởi tình trạng thiếu máu gây hoại tử ruột, xuất

hiện hơi trong lớp cơ thành ruột và tĩnh mạch

cửa Tỉ lệ bệnh VRHT sơ sinh vẫn không thay

đổi trong 20 năm gần đây(4) và gây tử vong

cao, 15-30% tại Mỹ(6) hoặc để lại di chứng nặng

nề, do đó, vấn đề phòng ngừa bệnh luôn được

đặt lên hàng đầu

Tại Việt Nam, những nghiên cứu về VRHT

sơ sinh chưa có nhiều Hiện ở miền Nam Việt

Nam rất ít nghiên cứu về VRHT sơ sinh để cho

chúng ta một cái nhìn chung về bệnh và đặc biệt

những yếu tố nguy cơ gây VRHT tại đây

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Mô tả hàng loạt ca

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Dân số chọn mẫu

Tất cả các trẻ sơ sinh sanh rất nhẹ cân bị

VRHT trước 6 tuần tuổi điều trị tại Khu chuyên

sâu Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng

12/2010 đến tháng 08/2011

Cỡ mẫu

Lấy trọn

Tiêu chí chọn bệnh

Tiêu chí chọn vào lô nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhi có cân nặng lúc sanh từ dưới 1500g, mắc VRHT từ giai đoạn II trở đi lúc dưới 6 tuần tuổi

Tiêu chí loại trừ

Bệnh nhi có gia đình bệnh nhi không đồng ý tham gia nghiên cứu

Những bệnh nhi sanh ngạt nặng (độ III), có

dị tật bẩm sinh nặng như bất thường nhiễm sắc thể, tim bẩm sinh phức tạp (chuyển vị đại động mạch, bất thường tĩnh mạch phổi về tim toàn phần, bất sản thất phải, bất sản thất trái, …), dị tật tiêu hoá (teo đường ruột bẩm sinh, hở thành bụng, thoát vị rốn, …)

Phương pháp chọn mẫu

Tất cả các bệnh nhi thoả tiêu chí chọn bệnh nói trên

Xử lý và phân tích số liệu

Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 19.0

Biến số rời được tính tỉ lệ phần trăm

Biến số liên tục được tính trị số trung bình,

độ lệch chuẩn, trung vị, giá trị tối thiểu và giá trị tối đa, tối thiểu (Min – Max)

Trang 3

KẾT QUẢ

Trong 9 tháng thực hiện đề tài, chúng tôi có

được 21 ca VRHT CNLS dưới 1500g, giai đoạn II

trở đi, chỉ có 18 trường hợp thoả tiêu chí nhận

vào nghiên cứu, 3 trường hợp bị loại đi vì 1

trường hợp dị tật tim bẩm sinh phức tạp, 1

trường hợp dị tật không lỗ hậu môn và 1 trường

hợpRubella bẩm sinh

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm dịch tễ học

Có 16/18 bệnh nhi có ba mẹ ở các tỉnh khác

ngoài TP.HCM và chỉ 2/18 bệnh nhi có cha mẹ ở

TP.HCM Có 16/18 bệnh nhi được chuyển đến

BV Nhi Đồng 1 từ Khoa nhi các BV và 2/18 bệnh

nhi đến từ BV Sản

Có 11/18 bệnh nhi chuyển viện ngay sau

sanh với chẩn đoán sanh non Bảy trường hợp

khác chuyển viện vì: VRHT (2), nhiễm trùng

huyết (3) và mổ ROP (2)

16/18 bệnh nhi điều trị tại Khoa HSSS

Tỉ lệ nam: nữ là 0,8:1

Bảng 1: Tỉ lệ phân bố theo cân nặng

<750 gram 0 0 751-1000 gram 5 27,8 1001-1250 gram 7 38,9

1251 – 1500 gram 6 33,3

CNLS (cân nặng lúc sanh) trung bình ± SD là 1206,7 ± 210 gram 50% trẻ có CNLS dưới 1125gram 12/18trường hợp có CNLS dưới 1250 gram

Tuổi thai trung bình là 28,59 ± 2,36 tuần tuổi 50% trẻ có tuổi thai dưới 28,5 tuần tuổi và dao động trong khoảng 25 đến 33 tuần tuổi thai

Bảng 2: Tiền căn sử dụng thuốc của mẹ

Corticoide trước sanh 3 bệnh nhi 16,7% Cocain 0 bệnh nhi 0 %

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng trước khi khởi phát bệnh VRHT

Bảng 3: Đặc điểm về ngày tuổi ăn sữa

Ngày tuổi bắt đầu cho ăn (ngày) 3,06 ± 2,01 2 2-9

Ngày tuổi ăn được nửa lượng sữa (ngày) 7,11 ± 3,30 9,00 3,00-11,00 Ngày tuổi ăn được đủ sữa (ngày) 10,63 ± 4,78 10,00 5,00-19,00

Bảng 4: Đặc điểm phân bố loại sữa ăn mỗi tuần

Tuần 1 17 16 (88,9%) 1 (5,6%)

Cách tăng sữa

Bảng 5: Tốc độ tăng sữa mỗi tuần (ml/kg/ngày)

Tốc độ tăng sữa tuần 1 (ml/kg/ngày) 8,8 (0,00 – 33,6) 9,8 ± 10,3

Tốc độ tăng sữa tuần 2 (ml/kg/ngày) 8,0 (0,00 – 17,14) 8,9 ± 6,4

Tốc độ tăng sữa tuần 3 (ml/kg/ngày) 5,7 (0,00 – 11,43) 5,7 ± 5,7

Tốc độ tăng sữa tuần 4 (ml/kg/ngày) 2,9 (0,00 – 05,7) 2,9 ± 4,0

Tốc độ tăng sữa tuần 5 (ml/kg/ngày) 3,4 (0,00 – 6,9) 3,4,8

Ngày tuổi ăn được nửa lượng sữa, n=9 9 (3-11) 7,1 ± 3,3

Ngày tuổi ăn được đủ sữa, n=8 10 (5-19) 10,6 ± 4,8

Trang 4

Bệnh kèm theo: 15/18 bệnh màng trong,

10/18 nhiễm trùng huyết kèm theo, 6/18 dị tật

tim bẩm sinh còn ống động mạch (PDA)

Bảng 6 Thuốc sử dụng trước khi bệnh VRHT khởi

phát

Probiotic 0 0

Thuốc đóng PDA 0 0

Thuốc ức chế H2 2 11,1

Tình trạng bệnh nhi suy hô hấp nặng phải

hỗ trợ hô hấp bằng dụng cụ cung cấp oxy lưu

lượng cao (CPAP và thở máy) là 15/18, chỉ có 1

trẻ không suy hô hấp trước khi VRHT

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng bệnh

VRHT

Tuổi khởi phát VRHT

Tuổi khởi phát VRHT trung bình: 14,56 ±

10,43 (ngày tuổi) Có 50% trẻ khởi phát VRHT

trước 12 ngày tuổi Tuổi khởi phát sớm nhất: 4

ngày tuổi, muộn nhất: 40 ngày tuổi

Số bệnh nhi khởi phát VRHT vào lúc 2 tuần

tuổi là cao nhất, 9 bệnh nhi (50%) Không bệnh

nhi nào khởi phát VRHT vào lúc 5 tuần tuổi

100% bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng

tôi (NC) khởi phát VRHT trước 5 tuần tuổi đều

ăn sữa công thức; 2 bệnh nhi khởi phát VRHT

vào lúc 6 tuần tuổi đều được ăn sữa mẹ trước đó

VRHT giai đoạn IIIB chiếm tỉ lệ cao nhất

(7/18) và thấp nhất là IIIA (2/18)

Triệu chứng toàn thân

Bảng 7: Đặc điểm các triệu chứng toàn thân

(Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)

Thần kinh

Tỉnh táo 0 0

Lừ đừ 14 77,8 Hôn mê 4 22,2

Hô hấp

Cơn ngưng thở làm

chậm nhịp tim 8 44,4 Cơn ngưng thở > 20s 5 27,8

Tuần hoàn Không sốc 15 83,3

Sốc 3 16,7

Tim mạch

Nhịp tim < 100l/ph 1 5,6

Nhịp tim 100-160l/ph 15 83,3

Nhịp tim > 160l/ph 2 11,1

Thân nhiệt Hạ thân nhiệt 9 50

(Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)

Thân nhiệt ổn định 9 50 Tăng thân nhiệt 0 0

Triệu chứng tiêu hoá

Bảng 8: Đặc điểm các triệu chứng tiêu hoá

(bệnh nhi)

Tỉ lệ (%)

Chướng bụng 16 88,9 Dịch dạ dày ứ 15 83,3 Viêm mô tế bào thành bụng 5 27,8

Ọc dịch 1 5,6 Tiêu phân xanh 1 5,6 Bụng chướng kèm dịch dạ dày ứ 13 72,2 Bụng chướng kèm viêm mô tế bào

thành bụng 5 27,8 Dịch dạ dày ứ đơn thuần 2 11,1 Bụng chướngđơn thuần 1 5,6

Tỉlệ phân bố các đặc điểm cận lâm sàng bệnh VRHT ở trẻ sanh rất nhẹ cân

Xét nghiệm máu

Bảng 9: Đặc điểm các xét nghiệm máu

Hạ Natri máu kéo dài 7 38,9 Tăng đường huyết kéo dài 0 0 Toan chuyển hoá kéo dài 12 66,7 Giảm tiểu cầu kéo dài 7 38,9 Đông máu nội mạch lan toả 5 27,8 Cấy máu dương tính 4 22,2

Bảng 10: Soi phân

Âm tính 6 bệnh nhi 33,3% Dương tính 8 bệnh nhi 44,4% Không thực hiện 4 bệnh khi 22,2%

X quang bụng không sửa soạn

Bảng 11: Đặc điểm X quang bụng không sửa soạn

Quai ruột dãn cố định 11 61,1 Hơi trong thành ruột 3 16,7 Hơi tĩnh mạch cửa 0 0% Không có hơi ruột 3 16,7 Hơi tự do trong ổ bụng 6 33,3 Bình thường 0 0

Siêu âm bụng

Bảng 12: Đặc điểm siêu âm bụng

Hình ảnh viêm phúc mạc 8 44,4 Hơi trong thành ruột 2 11,1

Trang 5

Siêu âm bụng Tần số (Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)

Hơi trong tĩnh mạch cửa 2 11,1

Ruột chướng hơi 2 11,1

Dày thành ruột 2 11,1

Hơi tự do trong ổ bụng 1 5,6

Tỉ lệ phân bố kết quả điều trị bệnh VRHT

ở trẻ sanh rất nhẹ cân

Bảng 13: Xử trí ngoại khoa

Chỉ định dẫn lưu ổ bụng 2 bệnh nhi 11,1%

Chỉ định phẫu thuật 7 bệnh nhi 38,9%

Dẫn lưu ổ bụng 4 bệnh nhi 22,2%

Phẫu thuật 6 bệnh nhi 33,3%

Tử vong

Năm mươi phần trăm (9/18) trường hợp

VRHT tử vong với 5 trường hợp là VRHT giai

đoạn IIIB, 1 trẻ VRHT giai đoạn IIIA, 2 trẻ VRHT

giai đoạn IIB và 1 trẻ VRHT giai đoạn IIA Có 1/5

trường hợp VRHT giai đoạn IIA tử vong và 5/7

trường hợp VRHT giai đoạn IIIB tử vong

BÀN LUẬN

Các đặc điểm dịch tễ học bệnh VRHT ở trẻ

sanh rất nhẹ cân

Đa phần trẻ được chuyển viện ngay sau sanh

11/18 từ các Khoa nhi BV đa khoa với chẩn đoán

sanh non do những nơi này không thể điều trị

được nhóm trẻ CNLS dưới 1500 gram Do vậy,

các BV tuyến tỉnh cần phát triển hơn để có thể

điều trị được đối tượng trẻ SRNC nhằm giảm tải

cho các BV tuyến cuối

Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ nam:nữ là

0,8:1 Mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ, không

phản ánh đúng được tỉ lệ chung giữa nam:nữ

của trẻ VRHT của dân số thế giới là nam nữ

tương đương nhau

CNLS có trung vịlà 1,125g, trung bình là

1,206g, nghĩa là trẻ có CNLS thấp chiếm ưu

thế, tuy nhiên cần phải thực hiện một nghiên

cứu phân tích xác định được tỉ lệ VRHT theo

từng nhóm CNLS và mối tương quan giữa

VRHT và CNLS

Cortiocoide trước sanh ngoài việc giảm nguy

cơ bệnh màng trong còn làm giảm nguy cơ

VRHT ở trẻ sanh non(1,5,11) Corticoide tại các

Khoa sản Bệnh viện miền Nam Việt Nam được

sử dụng trong phác đồ phòng ngừa bệnh màng trong ở trẻ sanh non nhưng chưa được chú ý và dùng với mục đích phòng ngừa VRHT Vậy chúng ta cần chú ý thêm vấn đề hiệu quả việc dùng corticoide trước sanh trong việc phòng ngừa VRHT ở trẻ sanh non, nghiên cứu thêm để

sử dụng tại các BV, nhằm làm giảm tối thiểu số trường hợp bệnh VRHT

Các đặc điểm lâm sàng bệnh VRHT ở trẻ sanh rất nhẹ cân

Các đặc điểm lâm sàng trước khi khởi phát bệnh VRHT

Ngày tuổi bắt đầu cho ăn dao động từ 2 đến

9 ngày tuổi sau sanh, trong đó hơn 50% trẻ được cho ăn từ ngày tuổi thứ 2, 15/18 trẻ được bắt đầu

ăn dưới 4 ngày tuổi, chứng tỏ trẻ được cho ăn đường tiêu hoá rất sớm Nghiên cứu của Cakmak và nghiên cứu của O.Flidel-Rimon đã kết luận: Cho ăn đường tiêu hoá sớm không làm tăng nguy cơ VRHT Việc cho ăn sữa sớm rất có lợi trong việc: (1) Tăng hoạt động các enzym và hormon tiêu hoá, tăng dòng máu đến ruột và nhu động ruột, (2) Nhanh chóng đạt được dinh dưỡng bằng đường tiêu hoá hoàn toàn, giảm thời gian nằm việc, giảm nguy cơ nhiễm trùng(10,14), (3) Giúp tăng cân nhanh để đạt được

sự phát triển thể chất và tâm vận tốt hơn(3,13),nên Khu Chuyên sâu Sơ sinh BV Nhi Đồng 1 thực hiện cho trẻ sanh non rất nhẹ cân ăn sữa càng sớm càng tốt, tuỳ theo tình trạng bệnh của trẻ Sữa mẹ làm giảm nguy cơ viêm ruột hoại tử

Tỉ lệ trẻ dùng sữa mẹ thấp, chỉ 2/18 trường hợp,

do VRHT hầu hết (13/18) xảy ra trong vòng 2 tuần đầu sau sanh, 50% trường hợp VRHT xảy

ra dưới 12 ngày tuổi, 4/18 VRHT xảy ra trong tuần đầu tiên, khi mà trẻ chưa được dùng sữa

mẹ do mẹ đã xuất viện nhưng còn chưa khoẻ hẳn nên chưa có mặt tại BV Nhi Đồng 1 (77,7%)

để trẻ được hưởng nguồn sữa mẹ

Tốc độ tăng sữa tối đa là 33,6 ml/kg/ngày, không vượt quá ngưỡng 35 ml/kg/ngày, là ngưỡng được chứng minh không làm tăng nguy

cơ VRHT(7), vậy thì tốc độ tăng sữa tại Bệnh viện

Trang 6

Nhi Đồng 1 không góp phần tăng nguy cơ

VRHT ở trẻ SRNC

Số trẻ bệnh màng trong là 16/18 trẻ, rất cao,

là do số trẻ mà mẹ được sử dụng corticoide

trước sanh để phòng ngừa bệnh màng trong rất

ít, chỉ 3/18 trẻ

Suy hô hấp là một yếu tố làm giảm oxy nuôi

ruột dẫn đến VRHT(9) Trẻ suy hô hấp phải được

hỗ trợ thở CPAP và thở máy là 15/18, suy hô hấp

này là do bệnh màng trong Do đó, nếu giảm

được tỉ lệ bệnh màng trong, ta sẽ giảm được tỉ lệ

và mức độ suy hô hấp do bệnh màng trong, một

yếu tố nguy cơ gây VRHT

Các đặc điểm lâm sàng khi khởi phát bệnh

VRHT

Chướng bụng là triệu chứng tiêu hoá thường

gặp nhất (16/18) tiếp theo là dịch dạ dày ứ

(15/18).Trẻ thường có hơn một triệu chứng tiêu

hoá khi khởi phát bệnh, nhiều nhất là 13/18 trẻ

có cả chướng bụng và dịch dạ dày ứ lúc khởi

phát VRHT, phù hợp với y văn là hai triệu

chứng tiêu hoá thường gặp nhất trong viêm ruột

hoại tử là chướng bụng (72,2%-90%) và dịch dạ

dày ứ 90,9%(2,8,12), nên trong thực hành lâm sàng,

nếu một trẻ có dấu hiệu dịch dạ dày ứ và bụng

chướng tăng dần, ta cần cảnh giác bệnh VRHT

bên cạnh những nguyên nhân ngoại khoa, đặc

biệt là ở trẻ SRNC

Các đặc điểm cận lâm sàng bệnh VRHT ở trẻ

sanh rất nhẹ cân

Theo y văn, giảm tiểu cầu kéo dài là yếu tố

chỉ điểm ruột đang bị hoại tử và xấu dần, trong

khi tiểu cầu tăng dần chứng tỏ bệnh cải thiện

Hạ Natri máu kéo dài là một chỉ điểm của hoại

tử ruột hay nhiễm trùng huyết Theo nghiên cứu

của chúng tôi, hầu hết trẻ VRHT giai đoạn IIIB

đều có giảm tiểu cầu và hạ Natri máu kéo dài, có

kết quả phù hợp với y văn thế giới, do đó, trong

thực hành lâm sàng, khi theo dõi một trẻ VRHT,

ngoài chụp X quang bụng không sửa soạn, siêu

âm bụng kiểm tra thì xét nghiệm máu mỗi 12h

cũng là một phương thức để theo dõi diễn tiến

của bệnh để có xử trí phù hợp với từng giai đoạn bệnh

X quang bụng không sửa soạn phát hiện chỉ 3/18 trường hợp có tiêu chuẩn vàng của VRHT,

đó là biểu hiện hơi trong thành ruột

Siêu âm bụng chỉ ưu thế để phát hiện hơi trong tĩnh mạch cửa, hình ảnh viêm phúc mạc, còn X quang bụng lại tốt hơn để phát hiện hơi tự

do trong ổ bụng Nếu chỉ siêu âm thì phát hiện được 8/18 ca viêm phúc mạc, 2/18 trường hợp hơi trong tĩnh mạch cửa, 1 trường hợp hơi tự do trong ổ bụng, trong khi X quang bụng phát hiện được tới 6/18 trường hợp Do vậy, ta cần phải phối hợp chúng để chẩn đoán sớm và tăng độ chính xác của chẩn đoán trước mổ, nhằm điều trị đúng và kịp thời

Kết quả điều trị bệnh VRHT ở trẻ sanh rất nhẹ cân

Tỉ lệ tử vong ở những trẻ VRHT của chúng tôi cao, 50%, cao hơn tỉ lệ tử vong do VRHT theo

y văn thế giới là 15-30%(6), đó là do bệnh VRHT trong nghiên cứu của chúng tôi nặng hơn Do đó việc phòng ngừa VRHT là một vấn đề cấp thiết, chúng ta cần thực hiện thêm các nghiên cứu khác để tìm những yếu tố nguy cơ gây VRHT cũng như điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp nhằm hạn chế tối đa yếu tố nguy cơ gây VRHT xuất hiện

Trong 9 trường hợp VRHT còn sống, có duy nhất 1 trường hợp VRHT giai đoạn IIIB còn sống, sau khi phẫu thuật cắt 30cm hồi tràng hoại

tử Đây là trường hợp bệnh cảnh nặng nề với bệnh màng trong, nhiễm trùng huyết, PDA trước khi khởi phát bệnh VRHT, được cho ăn sữa vào ngày tuổi thứ 2 và khởi phát VRHT vào ngày tuổi thứ 12, là trường hợp nặng còn sống sót, nhưng dù được cứu sống, chất lượng cuộc sống của trẻ có khả năng bị ảnh hưởng Tuy nhiên, do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở kết quả sống hoặc tử vong, Chúng ta cần thực hiện những nghiên cứu khác nếu muốn biết về những di chứng như chít hẹp lòng ruột, hội

Trang 7

chứng ruột ngắn, … vì đây là những di chứng

mạn tính, cần có thời gian theo dõi sau xuất viện

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

Do thời gian thực hiện nghiên cứu ngắn (9

tháng, từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011) trên

một bệnh hiếm, nên mẫu của chúng tôi chỉ có 18

bệnh nhi

KIẾN NGHỊ

Thực hiện nghiên cứu với qui mô lớn, mẫu

đủ để có thể xác định được các yếu tố nguy cơ

gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh non rất nhẹ cân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

incidence of necrotizing enterocolitis after prenatal

glucocorticoid therapy".Pediatrics, 73, pp 682

Failure in Infants with Necrotizing Enterocolitis: A Glaser

Pediatric Research Network Study".The Journal of Pediatrics,

157 (2), pp 203-208

PooleWK (2006) "Growth in the neonatal intensive care unit

influences neurodevelopmental and growth outcomes of

extremely low birth weight infants".Pediatrics117, pp

1253-1261

Research Network: changes in practice and outcomes during

the first 15 years".Semin Perinatol, 27 (4), pp 281-287

5 Halac E, Halac, J, Begue, EF, et al (1990) "Prenatal and postnatal corticosteroid therapy to prevent neonatal necrotizing enterocolitis: A controlled trial".J Pediatr, 117, pp

132

6 Lin P, Stoll, BJ.(2006) "Necrotizing enterocolitis".Lancet, 368 (9543), pp 1271-1283

enteral feed volumes to prevent necrotising enterocolitis in very low birth weight infants".Cochrane Database of Systematic Reviews, 4

not adequately predict outcome in necrotizing enterocolitis: a multi-institutional study".Journal of Perinatology28, pp

665-674

necrotizing enterocolitis in newborns " Uptodate, 19.2

10 RJ M (2001) "Trophic feeding of the preterm infant.".Acta Paediatr Suppl90 (19-21)

accelerating fetal lung maturation for women at risk of preterm birth".The Cochrane Collaboration

12 Zamora SA (1997) "Plasma L-arginine concentrations in

premature infants with necrotizing enterocolitis" J Pediatr 131,

pp 226-232

13 Tyson JEKK, Lucke JF, Pedroza C (2007) "Dilemmas initiating enteral feedings in high risk infants: how can they be resolved? ".Semin Perinatol31 (61-73)

14 Ziegler EETP, Carlson SJ (2002) "Aggressive nutrition of the very low birth weight infant".Clin Perinatol, 29 (224-225)

Ngày nhận bài báo: 25/6/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/8/2014

Ngày đăng: 23/01/2020, 12:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w