Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp luyện tập phục hồi chức năng mặc quần áo cho BN liệt nửa người do tai biến mạch máu não (TBMMN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu trên 30 BN bằng phương pháp mô tả tiến cứu và can thiệp mặc quần áo một tay.
Trang 1HIỆU QUẢ CAN THIỆP TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
MẶC QUẦN ÁO CHO BỆNH NHÂN LIỆT NỬA NGƯỜI
DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Nguy n Th Kim Liên*; Nguy n Th Quỳnh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả can thiệp luyện tập phục hồi chức năng mặc quần áo cho BN
liệt nửa người do tai biến mạch máu não (TBMMN) Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu
trên 30 BN bằng phương pháp mô tả tiến cứu và can thiệp mặc quần áo một tay, sử dụng thang
điểm Nottingham đánh giá khả năng mặc quần áo tại 3 thời điểm: trước hướng dẫn, ngay sau
hướng dẫn và 2 tuần sau luyện tập Kết quả: trước hướng dẫn, khả năng mặc quần áo chủ yếu
ở mức độ kém (76,7% BN), ngay sau hướng dẫn, mức trung bình và khá có tỷ lệ cao nhất
(73,3% BN), sau 2 tuần luyện tập, mức tốt chiếm chủ yếu (63,3% BN) Kết luận: khả năng mặc
quần áo tăng rõ rệt ngay sau hướng dẫn và sau 2 tuần can thiệp với độ tin cậy > 95% (p < 0,05)
* Từ khóa: Tai biến mạch máu não; Phục hồi chức năng: Liệt nửa người; Khả năng mặc quần áo
The Effectiveness of Dressing Rehabilitative Intervention in Patients
with Hemiplegia due to Stroke
Summary
Objectives: To assess the efficiency of the dressing practice on rehabilitation after cerebrovascular
accident Subjects and methods: Descriptive, prospective study on 30 patients with dressing
difficulties who were recruited to appropriately one-hand dressing method Their dressing ability
then was evaluated using Nottingham Stroke Dressing Assessment (NSDA) at three times:
before dressing instruction, after dressing instruction and 2 weeks post intervention Results:
The low level of dressing ability before instruction had the greatest precentage (76.7%) After
dressing instruction, 73.3% of patients immediately obtained dressing ability at fair and good
levels After 2 weeks, the percentage of patients with excellent dressing performance had the
leading position (63.3%) Conclusion: The patients’ dressing ability was improved remarkably
with reliability 95%CI (p < 0.05) after dressing instruction and 2 weeks of the intervention
* Key words: Stroke; Hemiplegia; Rehabilitation; Dressing ability
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não là vấn đề cấp
thiết của y học Theo thống kê của Hiệp
hội Đột quỵ Hoa Kỳ, năm 2007 có khoảng
15 triệu người bị TBMMN trên thế giới [4]
Tỷ lệ TBMMN mắc mới hàng năm khoảng
700.000 - 750.000 người, tử vong khoảng 130.000 người [2] TBMMN để lại nhiều
di chứng nặng nề cho BN sau đột quỵ
Nhiều BN không tự thực hiện được các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày như đánh răng, mặc quần áo, chải tóc, đi vệ sinh…
* Trường Đại học Y Hà Nội
Ngư i ph n h i (Corresponding): Nguy n Kim Liên (lienrehab@yahoo.com)
Ngày nh n bài: 19/10/2016; Ngày ph n bi n đánh giá bài báo: 10/12/2016
Ngày bài báo đư c đăng: 23/12/2016
Trang 2Mặc quần áo là một hoạt động trị liệu thiết
thực trong phục hồi chức năng cho BN
TBMMN Với dụng cụ đơn giản, tập phục
hồi chức năng mặc quần áo được cho là
khả thi khi áp dụng tại các cơ sở y tế Tuy
nhiên, trên thực tế, có nhiều BN đột quỵ
tái khám sau nhiều tháng vẫn không tự
mặc được quần áo Trên thế giới, đã có
một số nghiên cứu về mặc quần áo cho
BN sau đột quỵ, tuy nhiên ở Việt Nam chưa
thấy có nghiên cứu nào đánh giá về kết quả
luyện tập mặc quần áo ngay trong thời
gian BN nằm viện được công bố Vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm:
Đánh giá hiệu quả can thiệp tập phục hồi
chức năng mặc quần áo cho BN liệt nửa
người do TBMMN.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
30 BN được chẩn đoán xác định liệt
nửa người do TBMMN tại Trung tâm
Phục hồi Chức năng, Bệnh viện Bạch Mai
từ tháng 10 - 2015 đến 3 - 2016
* Tiêu chuẩn lựa chọn: BN gặp khó
khăn trong mặc quần áo sau TBMMN và
có khả năng ngồi liên tục ít nhất 15 phút
* Tiêu chuẩn loại trừ: BN bị rối loạn ý
thức, trầm cảm hay sa sút trí tuệ hoặc
BN bị bệnh lý nghiêm trọng khác như suy
hô hấp, suy tim mất bù
2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả,
can thiệp tự đối chứng
* Tiến hành can thiệp: hướng dẫn và
luyện tập mặc quần áo
- Chất liệu: áo sơ mi, áo phông, quần
dài, tất, giày có dây của BN
- Vị trí: BN ngồi trên ghế hoặc xe lăn thực hiện các thao tác mặc Áo, quần, tất
và giày được đặt đầy đủ trên giường bệnh, trong tầm nhìn và tầm với của BN
- Thời gian và cường độ: BN được hướng dẫn và theo dõi tập luyện 2 giờ/lần,
1 lần/tuần Thời gian còn lại, BN tự tập hàng ngày dưới sự theo dõi và hỗ trợ của người nhà
+ Cách mặc: BN mặc quần áo bằng phương pháp một tay - dùng tay, chân bên lành hỗ trợ bên liệt và thực hiện theo trình tự mặc từ bên liệt trước dựa trên chỉ dẫn đánh giá NSDA (Nottingham Stroke Dressing Assessment) [5]
* Quy trình đánh giá:
Đánh giá theo phương pháp cho điểm trên 25 thao tác Thang điểm đánh giá: 0: phụ thuộc; 1: chỉ phụ thuộc vào hỗ trợ bằng lời nói; 2: độc lập; KAD: không áp dụng Tổng điểm cho tất cả các mục cao nhất 50 điểm, thấp nhất 0 điểm Đối với quần dài, áo sơ mi, áo phông được tính điểm khi thực hiện đúng theo trình tự mặc
và đánh giá trên từng thao tác, đối đa 2 điểm, thấp nhất 0 điểm Phân loại mức độ: tốt: từ 40 - 50 điểm Khá: 30 - 39 điểm Trung bình: 20 - 29 điểm Kém: 0 - 19 điểm
* Các tiêu chí thao tác đánh giá: 1 Vắt chân liệt qua chân lành; 2 Vắt chân lành qua chân liệt; 3 Chạm tay tới bàn chân bị liệt; 4 Chạm tay tới bàn chân lành; 5 Đứng - tĩnh; 6 Đứng - động; Mặc áo sơ mi: 7 Lựa chọn lỗ chính xác cho tay liệt;
8 Kéo qua lưng; 9 Lựa chọn lỗ chính xác cho tay lành; 10 Kéo áo xuống
Mặc áo phông: 11 Lựa chọn lỗ chính xác cho tay liệt; 12 Lựa chọn lỗ chính xác
Trang 3cho tay lành; 13 Kéo áo qua đầu; 14 Kéo
áo xuống
Mặc quần dài: 15 Lựa chọn lỗ chính
xác cho chân liệt: 16 Lựa chọn lỗ chính
xác cho chân lành; 17 Kéo quần lên; đi
tất: 18 Đi tất qua các ngón chân liệt; 19
Kéo lên chân liệt; 20 Đi tất qua các ngón
chân lành; 21 Kéo lên chân lành; đi giày:
22 Đi giày cho chân liệt; 23 Thắt nút dây
giày bên liệt; 24 Đi giày cho chân lành;
25 Thắt nút dây giày bên lành
* Thời điểm đánh giá:
+ Lần thứ 1: đánh giá khả năng thực
hiện các thao tác mặc quần áo trước can
thiệp
+ Lần thứ 2: đánh giá khả năng thực
hiện các thao tác mặc quần áo ngay sau
hướng dẫn cách mặc các mục quần áo
+ Lần thứ 3: đánh giá khả năng thực
hiện thao tác mặc quần áo sau 2 tuần can
thiệp
* Phân loại kết quả: kém < 20 điểm;
trung bình: 20 - 29 điểm; khá: 30 - 39; tốt
> 40 điểm
* Xử lý số liệu: theo phương pháp thống
kê mô tả bằng phần mềm SPSS 22.0
Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng phương
pháp so điểm trung bình trước và sau can
thiệp Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
khi p < 0,05
* Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu được đảm bảo về đạo đức
trong nghiên cứu với sự chấp thuận của
lãnh đạo trung tâm, bệnh viện và BN
đồng ý tham gia Nghiên cứu không ảnh
hưởng đến quá trình điều trị, thông tin về
BN được giữ kín
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
BÀN LUẬN
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong số 30 BN nghiên cứu, tỷ lệ BN nam chiếm ưu thế (70,0%); tuổi của BN chủ yếu tập trung trong độ tuổi 51 - 60 (43,3%) Tuổi trung bình của BN 59,4 ± 8,9, nam chiếm 70% Nhìn chung, các nghiên cứu thống nhất TBMMN gặp ở nam nhiều hơn nữ, tuổi cao là yếu tố nguy cơ của TBMMN [2, 6, 3]
Thời gian mắc bệnh: tính từ lúc TBMMN đến lần khám đầu tiên trung bình khoảng
4 tuần (31,7 ± 16,2 ngày), trong khoảng
10 - 65 ngày Mốc thời gian này cũng tương tự so với thời gian bắt đầu đánh giá khả năng mặc quần áo của Walker (1991) sau đột quỵ từ 2 - 5 tuần, thời gian trung bình 3,1 tuần [5] Thời gian bắt đầu can thiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tri giác, nhận thức cũng như khả năng ngồi thăng bằng của BN
2 Hiệu quả can thiệp của hoạt động trị liệu mặc quần áo
* Kết quả từng thao tác : sau 2 tuần can thiệp, nhóm thao tác đạt kết quả phục hồi kém nhất gồm: thắt nút giày bên liệt (1,00 ± 1,02 điểm), kéo quần lên (1,27 ± 0,98 điểm), kéo áo phông xuống (1,33 ± 0,88 điểm), đi tất cho chân liệt (1,43 ± 0,90 điểm) Nhóm thao tác đạt kết quả phục hồi tốt nhất: mặc ống tay áo phông cho tay lành (2,00 ± 0,00 điểm), mặc ống tay áo phông cho tay liệt (2,00 ± 0,00 điểm), mặc ống tay áo sơ mi cho tay lành (2,00 ± 0,00 điểm), kéo tất lên chân lành (2,00 ± 0,00 điểm), đi giày cho chân lành
(2,00 ± 0,00 điểm)
Trang 4* Phân loại mức độ khả năng mặc
quần áo:
Bảng 1: Kết quả can thiệp hoạt động trị
liệu mặc quần áo
Lần đánh giá Mức độ
Kém (< 20 điểm)
Trung bình
Khá (30 - 39 điểm)
Tốt (≥ 40 điểm)
Lần 1, trước luyện tập: mức độ kém
chiếm 76,7%, không có BN đạt mức tốt
Theo Edmans, cũng ở thời điểm 1 tháng
sau đột quyV, 41,0% BN TBMMN không có
khả năng mặc được quần ¸o độc lập [7]
Kết quả này chứng tỏ trước luyện tập,
BN TBMMN gặp khó khăn trong việc mặc
quần áo một cách độc lập Theo Walker,
suy yếu về thể chất hay cơ lực là yếu tố
ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mặc
quần áo cho nửa cơ thể phía dưới trong
khi mặc quần [5]
Lần 2, ngay sau hướng dẫn, mức điểm
đạt trung bình, khá 73,3% BN Sự thay
đổi kết quả giữa lần 2 so với lần 1 cho
thấy BN phụ thuộc trong việc mặc quần
áo không phải hoàn toàn do cơ lực bên
liệt còn kém mà là do BN chưa biết mặc
quần áo đúng cách Lần 3, sau 2 tuần can
thiệp, mức độ tốt là chủ yếu (63,3% BN),
không còn BN đạt mức kém Nghiên cứu
hơn 10 năm của Walker và CS cũng cho
thấy khi BN được hướng dẫn và luyện tập
kỹ năng mặc quần áo, có đến 75,0% BN cải thiện khả năng mặc quần áo theo thang điểm NSDA Theo Walker, đa số chức năng sinh hoạt hàng ngày, trong đó có mặc quần áo được phục hồi ở giai đoạn 3 tháng sau TBMMN [5]
Sau 2 tuần can thiệp, khả năng mặc quần áo bằng một tay thực hiện đạt mức tốt ở 63,3% BN, chứng tỏ mặc quần áo là hoạt động có hiệu quả trong phục hồi chức năng cho người bệnh TBMMN Tuy nhiên,
ở lần 3, sau 2 tuần can thiệp, 36,7% BN chưa đạt được mức tốt (> 40 điểm) Điều này cho thấy hoạt động trị liệu bằng phương pháp mặc quần áo cần có thời gian kéo dài > 2 tuần để tất cả BN có thể đạt độc lập hoàn toàn
3 Hiệu quả can thiệp hoạt động trị liệu mặc quần áo
Bảng 2: Kết quả can thiệp hoạt động trị liệu mặc quần áo lần 1 và lần 3
Lần đánh giá n Điểm trung bình
Lần 2 (ngay sau
p 3,2 : < 0,01
Sự tiến triển trong khả năng mặc quần
áo có ý nghĩa thống kê rõ rệt khi so sánh điểm trung bình của nhóm nghiên cứu giữa lần 2 với lần 1 (p < 0,05), lần 3 so với lần 1 (p < 0,01) và lần 3 so với lần 2 (p < 0,05) Kiểm định giá trị trung bình đánh giá khả năng mặc quần áo của BN, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt rõ ràng qua 3 lần đánh giá trên BN TBMMN
Trang 5với p < 0,05 Điểm trung bình lần 2 (28,3
điểm) tăng 1,8 lần so với lần 1 (15,7 điểm),
điểm trung bình lần 3 (42,4 điểm) đạt được
gấp 2,7 lần so với lần 1 (15,7 điểm) Tiến
triển tốt trong phục hồi mặc quần áo là
một hoạt động hợp lý để áp dụng luyện tập
cho BN tại trung tâm phục hồi chức năng
KẾT LUẬN
Hiệu quả can thiệp tiến triển theo mức
độ: trước luyện tập, khả năng mặc quần
áo của BN chủ yếu thuộc mức độ kém với
76,7% Ngay sau can thiệp, 73,3% BN đạt
mức trung bình và khá Sau 2 tuần can
thiệp, BN đạt mức tốt là chủ yếu (63,3%)
Hiệu quả can thiệp hoạt động trị liệu:
khả năng mặc quần áo tăng lên rõ rệt
ngay sau hướng dẫn và sau 2 tuần can
thiệp với độ tin cậy > 95% (p < 0,05)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Đức Hinh và CS. Tai biến mạch não
Nhà xuất bản Y học 2008, tr.29-47
2 Nguyễn Thị Kim Liên Nghiên cứu phục hồi chức năng bàn tay trên BN liệt nửa người
do tai biến mạch máu máu não Luận án Tiến sỹ Trường Đại học Y Hà Nội 2011
3 Nguyễn Xuân Thản Bệnh mạch máu não và tủy sống Nhà xuất bản Y học Hà Nội
2004, tr.265-266
4 Rosamond W, Flegal K, Friday et al Heart disease and stroke statistics-2007 update:
a report from the American Heart Association statistics committee and stroke statistics subcommittee Circulation 2007, 115, pp.69-171
5 Walker M.F, Lincoln N.B Factors influencing dressing performance after stroke Journal of Neurology, Neurosurgery Psychiatry
1991, 54, pp.699-701
6 HMG Boomkamp-Koppen. Post stroke hand swelling and odema: prevalence and relationship with impairment and disability
Clinical Rehabilitation 2005, 19, pp.552-559
7 Edmans J.A, Lincoln N.B The relationship between perceptual deficits after stroke and
independence in activities of daily living Br J
Occup Ther 1990, 53, pp.139-142