1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu liệt mặt ngoại biên trên các bệnh nhân phẫu thuật tai xương chũm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM từ tháng 1/2001 đến tháng 6/2006

4 76 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 139,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định các bệnh lý tai xương chũm gây liệt mặt ngoại biến trên các bệnh nhân phẫu thuật tai xương chũm. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007

NGHIÊN CỨU LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN TRÊN CÁC BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TAI XƯƠNG CHŨM

TẠI BV TAI MŨI HỌNG TP HCM TỪ THÁNG 1-2001 ĐẾN THÁNG 6-2006

Trương Mỹ Thục Uyên * , Lê Trần Quang Minh*, Võ Quang Phúc *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định các bệnh lý tai xương chũm gây liệt mặt ngọai biên trên các bệnh nhân phẫu thuật

tai xương chũm

Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát hồi cứu 48 bệnh nhân liệt mặt ngọai biên có phẫu thuật tai xương

chũm

Kết quả: Viêm tai xương chũm mạn có kèm cholesteatoma là nguyên nhân gây biến chứng liệt mặt

ngoại biên ở 44 bệnh nhân (91,7%), nếu không kèm cholesteatoma biến chứng này xảy ra ở 4 bệnh nhân (8,3%), các nguyên nhân khác hiếm gặp là lao và ung thư, thường được chẩn đoán sau mổ 70,83% bệnh nhân nhập viện có liệt mặt độ III (phân loại theo House JW, Brackmann) Đa số bệnh nhân có thời gian chảy tai >10 năm (64,59%) Vị trí dễ tổn thương nhất (đoạn II + đoạn III + khuỷu) của thần kinh mặt tìm thấy ở 31 bệnh nhân(64,58 %).Tất cả các bệnh nhân có liệt mặt ngọai biên độ II đều hồi phục hoàn toàn sau phẫu thuật

Kết luận: Tiên lượng của bệnh nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian khởi phát, mức độ liệt

mặt, loại bệnh tích Chúng ta cần phải phát hiện và điều trị tốt bệnh lý việm tai giữa và viêm tai xương chũm trong giai đoạn sớm Đây là phương cách phòng ngừa chủ động và hiệu quả nhất biến chứng liệt thần kinh mặt

ABSTRACT

THE PERIPHERAL FACIAL PALSY OBSERVATION ON OPERATED OTOGENIC PATIENTS

AT ENT HOSPITAL, HCMC FROM 1-2001 TO 6-2006

Truong My Thuc Uyen, Le Tran Quang Minh, Vo Quang Phuc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 1 - 2007: 71 – 74

Objective: To estimate the characteristics of otogenic facial palsy on operated otogenic patients

Methods: We performed a retrospective study on 48 patients hospitalized for operated otogenic facial

palsy in the period from 1-2001 to 6-2006 at ENT hospital, HCMC

Conclusion: The prognosis of the patient depended on many factors such as onset, facial palsy grade,

etiology We had to diagnose and to treat well chronic otitis media and chronic mastoiditis in early stage.These were the most initiative and efficacy prevention to facial palsy complication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Liệt mặt ngoại biên là tổn thương thần kinh

thường gặp trong các bệnh lý tai xương chũm, có

thể để lại di chứng nặng nề cho người bệnh nếu

không được phát hiện và điều trị kịp thời1,2)

Nghiên cứu này được tiến hành để khảo sát các

đặc điểm của liệt mặt ngoại biên trên các bệnh nhân có phẫu thuật tai xương chũm, từ đó xác định các yếu tố giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân Vì vậy chúng tôi thực hiên đề tài này với những mục tiêu cụ thể sau:

– Xác định các bệnh lý tai xương chũm gây liệt mặt ngoại biên

* BV Tai Mũi Họng - Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng - Mắt

72

– Khảo sát các yếu tố liên quan đến liệt mặt

ngọai biên: thời gian chảy tai, thời gian nhập viện

từ lúc khởi phát, mức độ liệt mặt

– Đánh giá các thương tổn dựa vào thăm

khám lâm sàng và các phương pháp cận lâm sàng:

hình dạng màng nhĩ qua nội soi, thính lực đồ, X

Quang Schuller

– Khảo sát các thương tổn khi phẫu thuật

– Đánh giá khả năng hồi phục sau phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân liệt mặt ngoại biên đã

được phẫu thuật tai xương chũm tại Bệnh Viện Tai

Mũi Họng TPHCM từ tháng 1-2001 đến tháng

6-2006

Dữ kiện nghiên cứu

– loại tổn thương trong tai giữa và liệt mặt

– các yết tố liên quan và liệt mặt

– vị trí tổn thương của dây VII

Tiến hành nghiên cứu

Hồi cứu hồ sơ và xử lý số liệu bằng SPSS 11.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số bệnh nhân liệt mặt:151

Tổng số bệnh nhân liệt mặt có can thiệp phẫu

thuật: 48

Vtxc mạn Sau phẫu thuật Lao Ung thư

Giới

21 nam và 27 nữ

Tuổi

Nhỏ nhất: 16; lớn nhất:73 ;

Tuổi trung bình: 48,7

Thời gian chảy tai

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Có 1 trường hợp không có tiền căn chảy tai (2,09 %)

Thời gian nhập viện sau khi khởi phát liệt mặt

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Đa số bệnh nhân nhập viện sau 7 ngày

Phân độ liệt mặt ngọai biên theo house jw, brackmann

Độ Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Hình ảnh trên phim x quang schuler

- Mờ thông bào chũm:15

- Hình ảnh nghi có hủy xương:33

Thính lực đồ Mức độ nghe kém Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007

Hình ảnh ống tai ngoài & màng nhĩ

40%

8%

2%

29%

8%13%

THỦNG RỘNG SÁT XƯƠNG TỰ KHOÉT RỖNG MÀNG NHĨ ĐÓNG KÍN SỤP THÀNH SAU ỐNG TAI POLYPE ỐNG TAI

THỦNG MÀNG CHÙNG

Phương pháp phẫu thuật

Khoét rỗng đá chũm toàn phần + giải áp dây

thần kinh mặt

Điều trị nội khoa trước & sau mổ

Kháng sinh+ corticosteroid

Các nguyên nhân gây liệt mặt ngọai biên

Vtxc mạn

cholesteatoma

thứ phát

Lao Ung thư

Ung thư + cholesteatoma (+)

Vtxc mạn cholesteatom

a nguyên phát

Vị trí tổn thương của dây thần kinh mặt

Đoạn ii Đoạn ii+đoạn iii+ khuỷu

Tỷ lệ hồi phục sau phẫu thuật

Độ Trước phẫu thuật Hồi phục %

Các thương tổn bộc lộ tự nhiên kèm theo:

- Tổn thương thần kinh mặt + xoang tĩnh

mạch bên: 7 bệnh nhân

- Tổn thương thần kinh mặt + màng não: 16

bệnh nhân

- Chỉ có tổn thương thần kinh mặt: 25 bệnh nhân

Thời gian nằm viện trung bình: 12,8 ngày

BÀN LUẬN

- Tổng số các bệnh nhân liệt mặt ngoại biên có can thiệp phẫu thuật là 48

- Liệt mặt ngoại biên gặp ở nữ nhiều hơn nam, tập trung ỡ tuổi trung niên, khác với kết quả nghiên cứu của Mary C Snyder (bệnh nhân trẻ tuổi hơn)5) Điều này có thể là do ở nước ta người bệnh chỉ đến bệnh viện khi bệnh đã diễn tiến nặng, xuất hiện biến chứng

- 43/48 trường hợp (89,58%) là viêm tai xương chũm mạn tính có cholesteatoma

- Có 2 bệnh nhân ung thư tai và 3 bệnh nhân lao tai có chẩn đoán xác định sau mỗ (giải phẫu bệnh)

- So sánh với nghiên cứu của Võ Quang Phúc(4): thời gian chảy tai trên 10 năm thấp hơn (64,59

<70,7%) và tỷ lệ bệnh nhân nhập viện sau khi khởi phát liệt mặt sớm hơn (45,83% tập trung tuần lễ thứ 2) có thể do đời sống kinh tế xã hội được cải thiện, ý thức về sức khỏe bản thân của bệnh nhân càng lúc được nâng cao, do đó người bệnh có xu hướng đi khám bệnh sớm hơn trước đây

- Mức độ liệt mặt (theo House JW, Brackmann): khi nhập viện đa số bệnh nhân có tổn thương từ độ III trở lên, phù hợp với một số nghiên cứu khác.Chỉ có 1 trường hợp liệt mặt sau mổ do tai biến lúc mổ (hồi phục tốt)

- Tất cả các trường hợp nghi có hủy xương chũm trên phim X quang schuller đều có chẩn đoán xác định sau mổ (33/48 trường hợp bao gồm

do cholesteatoma, lao và ung thư), tuy nhiên những trường hợp mờ thông bào chũm (15/ 48 trường hợp) khi phẫu thuật vẫn ghi nhận thấy có tình trạng hủy xương do cholesteatoma Như vậy, giá trị của phim Schuller trong bệnh lý này không cao, những bệnh nhân liệt mặt có mờ thông bào chũm nên được chụp CT SCAN trước mổ dể đánh giá mức độ lan rộng của thương tổn

- Hình ảnh ống tai ngoài & màng nhĩ: 2 tổn thương thường gặp là thủng rộng sát xương (40%) và sụp thành sau ống tai(29%) Như vậy, thủng rộng sát

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng - Mắt

74

xương cũng là dạng tổn thương nên có chỉ định phẫu

thuật sớm để loại bỏ bệnh tích, tránh nguy cơ lan

rộng gây tổn thương thần kinh mặt

- Cholesteatoma thứ phát là nguyên nhân

thường gặp nhất gây biến chứng liệt mặt, đa số có

tiền căn chảy tai Tuy nhiên chúng tôi ghi nhận 1

trường hợp bệnh nhân nữ 35 tuổi có

Cholesteatoma nguyên phát: đây là trường hợp

duy nhất không có tiền căn chảy tai, màng nhĩ

đóng kín, Schuller và CTScan chỉ cho thấy hình

ảnh mờ các thông bào chũm Khi mổ thám sát thì

nhận thấy cholestetatoma ở thượng nhĩ ăn luồn

chân tường dây VII và ngách nhĩ, bộc lộ tự nhiên

đoạn II, III và khuỷu Một trường hợp khác bệnh

nhân nữ 55 tuổi có ung thư tai kết hợp

cholestetatoma Người bệnh này có tiền căn chảy

tai > 10 năm, Schuller có hình ảnh hủy xương

Khi phẫu thuật cholesteatome đầy ắp từ sào bào

đến thượng nhĩ, bộc lộ tự nhiên dây VII Tuy

nhiên thượng nhĩ có ít mô lùi sùi và giải phẫu

bệnh cho kết quả ung thư

- Tổn thương của dây thần kinh mặt đa số do

bộc lộ tự nhiên: tuy nhiên do đặc điểm giải phẫu

của dây thần kinh VII và bệnh sinh

cholesteatome thường đi từ trung nhĩ sau, ngách

mặt nên thương tổn thường ở đoạn II + đoạn III và

khuỷu, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này

chiếm 64,58%

- Tỷ lệ hồi phục sau phẫu thuật: mức độ liệt

mặt càng nhẹ thì khả năng hồi phục càng cao nếu

được mổ giải áp sớm, trong khảo sát của chúng

tôi, tất cả các bệnh nhân liệt mặt độ II đều hồi phục sau mổ

KẾT LUẬN

- Liệt mặt ngọai biên là một biến chứng nguy hiểm trong bệnh lý tai xương chũm vì có thể để lại di chứng nặng nề ảnh hưởng đến thẩm mỹ và đời sống, tâm lý của bệnh nhân

- VTXC mạn có Cholesteatoma là nguyên nhân thường gặp nhất gây liệt mặt ngoại biên

- Tổn thương của dây thần kinh mặt đa số do bộc lộ tự nhiên,vị trí thường gặp ở đoạn II+ đoạn III + đoạn khuỷu

- Khoét rỗng đá chũm toàn phần + giải áp dây thần kinh mặt là phương pháp phẫu thuật duy nhất được chọn lựa

- Mức độ liệt mặt càng nhẹ thì khả năng hồi phục càng cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gao MH, Mao QD, Zou F (2000), Clinical analysis of facial nerve palsy in middle ear and mastoid surgery in 23 cases,

Am J Otol., 14(12):556-7

2 Harker LA, Pignatari SS (1992), Facial nerve paralysis secondary to chronic otitis media without cholesteatoma Am

J Otol., 13(4):372-4

3 Kaya S (1998),.Iatrogenic facial paralysis in middle ear operations.Turk Arch ORL; 36 (3-4): 74-76

4 Takahashi H, Nakamura H, Yui M, Mori H (1985), Analysis

of fifty cases of facial palsy due to otitis media Arch Otorhinolaryngol., 241(2): 163-8

5 Yetiser S, Tosun F, Kazkayasi M (2002), Facial nerve paralysis due to chronic otitis media, Otol Neurotol., 23(4): 580-8

Ngày đăng: 23/01/2020, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w