1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gây mê tĩnh mạch toàn diện bằng propofol kiểm soát nồng độ đích trong phẫu thuật bụng

7 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 373,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu đặt ra về việc gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích là một kỹ thuật mới, có nhiều ưu điểm được chứng minh trong các nghiên cứu ở nước ngoài. Kỹ thuật này vừa được ứng dụng ở Việt Nam. Vì vậy nghiên cứu với mục tiêu xác định nồng độ propofol tại các giai đoạn gây mê và so sánh hiệu quả của gây mê tĩnh mạch bằng propofol kiểm soát nồng độ đích với phương pháp không kiểm soát nồng độ đích.

Trang 1

GÂY MÊ TĨNH MẠCH TOÀN DIỆN BẰNG PROPOFOL KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ ĐÍCH TRONG PHẪU THUẬT BỤNG

Châu Thị Mỹ An*, Nguyễn Ngọc Anh**, Nguyễn Văn Chừng***

TÓM TẮT

Vấn đề: Gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng độ đích là một kỹ thuật mới, có nhiều ưu điểm được chứng minh

trong các nghiên cứu ở nước ngoài Kỹ thuật này vừa được ứng dụng ở Việt Nam

Mục tiêu: Xác định nồng độ Propofol tại các giai đoạn gây mê và so sánh hiệu quả của gây mê tĩnh mạch

bằng Propofol kiểm soát nồng độ đích với phương pháp không kiểm soát nồng độ đích

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng 100 bệnh nhân ASA I – III

phẫu thuật bụng chương trình dưới gây mê đặt nội khí quản, phân nhóm theo thứ tự vào phòng mổ: nhóm 1 gây

mê tĩnh mạch bằng Propofol kiểm soát nồng độ đích “dò liều” với Diprifusor (50 bệnh nhân, khởi mê 2 – 6 mcg/ml, duy trì mê 2 – 8 mcg/ml), nhóm 2 không kiểm soát nồng độ đích (50 BN, tiêm tĩnh mạch 1 – 2 mg/kg, truyền tĩnh mạch 4 – 12 mg/kg/giờ)

Kết quả: Nồng độ Propofol khởi mê (3,2 ± 0,6 mcg/ml) và duy trì mê (1,5 – 5,3 mcg/ml) tương đối thấp So

sánh gây mê tĩnh mạch bằng Propofol có và không kiểm soát nồng độ đích: liều khởi mê thấp hơn (1,6 và 2,1 mg/kg, p = 0,001), mất ý thức nhanh (75,5 và 89,1 giây), khởi mê êm dịu (100 và 96%), thay đổi huyết động ít hơn, đặt nội khí quản tốt hơn (96 và 80%), ít cử động trong mổ hơn (2/50 và 9/50, p = 0,03), ít điều chỉnh liều trong mổ (1,5 và 2,2 lần/giờ, p = 0,01), tổng Propofol như nhau (7,8 và 7,2 mg/kg/giờ), thời gian hồi tỉnh ngắn hơn (14,0 và 24,5 giây, p = 0,001) và êm dịu (98 và 90%)

Kết luận: Phương pháp gây mê tĩnh mạch bằng Propofol kiểm soát nồng độ đích có thể áp dụng tốt cho phẫu

thuật vùng bụng với nồng độ tương đối thấp và chất lượng gây mê tốt

Từ khóa: gây mê tĩnh mạch, kiểm soát nồng độ đích, gây mê đặt nội khí quản, khởi mê, duy trì mê, hồi tỉnh,

thời gian mất ý thức, thời gian hồi tỉnh

ABSTRACT

PROPOFOL TCI IN GENERAL SURGERY

Chau Thi My An, Nguyen Ngoc Anh, Nguyen Van Chung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 179 - 185

Background: TCI (target-controlled infusion), which has been appreciated in foreign researchs, is a

newly applicated technique for the intravenous anesthesia in Vietnam

Objectives: to determine Propofol concentrations in different phases of anesthesia; and evaluate the

efficacy of Propofol TCI in comparison with the manually controlled technique

Methods: Randomised–controled clinical trials 100 patients ASA I – III undergoing intubation

anesthesia for general surgical procedures, were randomised to treatment with either Diprifusor TCI (group 1: 50 patients, induction 2 – 6 mcg/ml, maintenance 2 – 8 mcg/ml) or manually controlled infusion (group

2: 50 patients, induction 1 – 2 mg/kg, maintenance 4 – 12 mg/kg/h)

Results: Propofol concentrations for induction (3.2 ± 0.6 mcg/ml) and maintenance (1.5 – 5.3 mcg/ml)

were rather low In comparision with group MCI, group TCI had significantly lower induction doses (1.6

Tác giả liên lạc: ThS Châu Thị Mỹ An, ĐT: 0909339939, email: chauthimyan@yahoo.com

Trang 2

vs 2.1 mg/kg, p = 0.001), equally quick and smooth inductions (LOC time 75.5 vs 89.1s, smooth 100 vs 96%), less hemodynamic changes, easier intubation (96 vs 80%), less movements (2/50 vs 9/50, p = 0.03), less adjusments (1.5 vs 2.2 times/h, p = 0.01); equal total dose of Profofol (7.8 vs 7.2 mg/kg/h), shorter recovery times (14.0 vs 24.5 min, p = 0.001), equally smooth and clear-headed emergences (98 vs 90%)

Conclusions: Propofol TCI can be well applied for general surgeries, with rather low concentrations and

good qualities of anesthesia

Key words: intravenous anesthesia, TCI (target-controlled infusion), MCI (manually controlled infusion),

intubation anesthesia, induction, maintenance, emergence, LOC time (loss of consciousness), recovery time

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây mê tĩnh mạch (GMTM) ngày càng thể

hiện nhiều ưu điểm hơn GM hô hấp Truyền

Propofol bơm tiêm điện có thể đạt chất lượng

tốt, nhưng điều chỉnh lưu lượng thuốc theo

từng thời điểm nên khó kiểm soát độ sâu GM,

BN có nguy cơ “tỉnh không mong muốn” và

“nhớ lại”(9) Trong khi đó, GMTM kiểm soát

nồng độ đích (KSNĐĐ) với hệ thống vi tính hóa

khắc phục các nhược điểm này và tiên lượng

được thời gian BN tỉnh lại Các ưu điểm trên đã

được chứng minh ở nhiều nghiên cứu nước

ngoài Còn ở Việt Nam nói chung và TPHCM

nói riêng, do hạn chế về phương tiện nên chưa

sử dụng rộng rãi kỹ thuật này Vì vậy chúng tôi

tiến hành nghiên cứu nhằm:

- Xác định nồng độ Propofol tại các giai

đoạn của GMTM KSNĐĐ

- So sánh hiệu quả của phương pháp

GMTM bằng Propofol KSNĐĐ và

phương pháp không KSNĐĐ về liều

Propofol sử dụng và tính chất các giai

đoạn GM

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Tiêu chuẩn chọn BN

BN phẫu thuật bụng chương trình với GM

có đặt NKQ, trên 16 tuổi, đồng ý tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

BN cần thở máy sau mổ

Suy tim, suy gan hay suy thận nặng

Béo phì BMI > 30 kg/m2

Có vấn đề về tri giác, tâm thần

Có chống chỉ định dùng Propofol

Phương pháp nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng

Cỡ mẫu

Sử dụng chương trình PS (Power and Sample Size Program), áp dụng cho nghiên cứu tiền cứu với 2 mẫu độc lập so sánh 2 biến

số rời: hệ số sai lầm α = 0,05, độ mạnh (1 – β) = 0,8, tỉ lệ nghiên cứu/ chứng = 1 Trong nghiên cứu giai đoạn đầu của chúng tôi trên 54 BN, tỉ

lệ BN đặt NKQ tốt của nhóm nghiên cứu là 100% (p1) và nhóm chứng là 85% (p0) Cỡ mẫu tối thiểu tính được = 47 BN Chúng tôi nghiên cứu 50 BN mỗi nhóm

Phương pháp phân nhóm

Ngẫu nhiên xen kẽ theo thứ tự thời gian vào phòng mổ:

- Nhóm 1: GMTM bằng Propofol KSNĐĐ

- Nhóm 2: GMTM bằng Propofol không KSNĐĐ (tiêm TM liều đầu – TTM tốc độ thay đổi)

Địa điểm – Thời gian

Phòng mổ bệnh viện Nhân dân 115 TP.HCM

Từ 9/2008 đến 5/2009

Phương pháp tiến hành

BN được khám tiền mê và chuẩn bị như một cuộc GM phẫu thuật lớn

Tiền mê

Lidocaine 1% 1,5 mg/kg, Midazolam 0,05 mg/kg, Sufentanil 0,1 – 0,2 mcg/kg TMC

Khởi mê sau 2 phút:

Nhóm 1: Dùng Diprifusor, chọn nồng độ đích huyết tương 2 – 6 mcg/ml, có thể tăng 0,5 –

Trang 3

1 mcg/ml mỗi 1 phút nếu BN chưa giảm ý thức

Nhóm 2: Propofol 1% 1 – 2 mg/kg TM chậm,

tốc độ 5 – 10 ml trong 30 giây (# 600 – 1200

ml/giờ), có thể tăng liều sau 1 phút nếu BN chưa

giảm ý thức

Ở 2 nhóm: Tracrium 0,5 mg/kg TM chậm khi

BN mất ý thức Đặt NKQ sau 3 phút

Duy trì mê

BN thở máy: FiO2 ≥ 50% 1 l/phút, Vt 6 – 10

ml/kg, f 12 – 14 lần/phút, duy trì SpO2 > 95% và

EtCO2 35 – 40 mmHg

Nhóm 1: Propofol nồng độ đích 2 – 8

mcg/ml, có thể truyền nhanh 2 ml nếu cần

Nhóm 2: Propofol bơm tiêm điện 4 – 12

mg/kg/giờ, có thể truyền nhanh 2 ml nếu cần

Ở 2 nhóm: Lặp lại Sufentanil, Tracrium tùy

theo nhu cầu

Kết thúc: Neostigmine 40 mcg/kg + Atropine

20 mcg/kg Ngưng Propofol lúc kết thúc khâu

da

Hồi tỉnh

Chờ BN tỉnh và rút NKQ Ghi nhớ trong mổ:

hỏi BN sau khi tỉnh hoàn toàn 1 giờ

Xử lý và phân tích số liệu

Sử dụng chương trình SPSS 15.0 với phép

kiểm χ2, t, ANOVA và tương quan tuyến tính

Thống kê có ý nghĩa khi p ≤ 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu:

Nhóm 1 (%) Nhóm 2 (%) p

Giới

41-60 42 30

Tuổi

>60 38 46

0,5

<18 24 16

18-24,9 54 62

BMI

25-29,9 22 22

0,6

ASA

0,9

Thói quen

Nhóm 1 (%) Nhóm 2 (%) p

thuốc Rượu

Tiền căn

BCTTM

0,6

Nồng độ Propofol tại các giai đoạn GMTM KSNĐĐ

Bảng 2: Nồng độ Propofol:

NỒNG ĐỘ PROPOFOL (mcg/ml) Ce50

Khởi mê 3,2 ± 0,6 (2,0; 4,0) 3,0 Mất ý thức 1,3 ± 0,4 (0,5; 2,3) 1,2 Đặt NKQ 2,6 ± 0,5 (1,9; 4,0) 2,5 Rạch da 2,8 ± 0,6 (1,5; 4,0) 2,8 Duy trì tối thiểu 2,6 ± 0,6 (1,5; 4,0) 2,5 Duy trì tối đa 3,4 ± 0,9 (2,0; 5,3) 3,5 Hồi tỉnh 1,2 ± 0,3 (0,5; 2,1) 1,1

Bảng 3: Yếu tố ảnh hưởng nồng độ Propofol:

NỒNG ĐỘ KHỞI MÊ (mcg/ml) p

≤ 40 3,5 ± 0,5

41–60 3,3 ± 0,5

TUỔI

> 60 2,9 ± 0,7

0,001*

< 18 2,6 ± 0,6

18–24,9 3,3 ± 0,5

BMI

≥ 25 3,6 ± 0,4

0,001*

NỒNG ĐỘ DUY TRÌ TỐI ĐA (mcg/ml) p

≤ 40 4,0 ± 0,8

41–60 3,6 ± 0,7

TUỔI

> 60 2,9 ± 1,0

0,001*

ASA

0,04*

* Tương quan có ý nghĩa thống kê

So sánh 2 phương pháp GMTM

Bảng 4: Sử dụng Propofol:

NHÓM 1 NHÓM 2 p

Liều khởi mê (mg/kg) 1,6 ± 0,4 2,1 ± 0,4 0,001*

Tỉ lệ BN cần tăng liều khởi

Điều chỉnh liều trong mổ (lần/giờ) 1,5 ± 1,2 2,2 ± 1,4 0,01* Tổng Propofol (mg/kg/giờ) 7,8 ± 2,0 7,2 ± 2,4 0,3

Kích ứng da 2 0 Tác dụng phụ

(%)

0,3

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 5: Tính chất khởi mê:

Trang 4

NHÓM 1 NHÓM 2 p

Thời gian mất ý thức (giây) 75,5 ± 47,5 89,1 ± 36,9 0,1

Êm dịu 100 96

Tính chất

(%) Kích thích 0 4 0,2

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Biểu đồ 1: Thay đổi mạch sau khởi mê

*Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Biểu đồ 2: Thay đổi HATT sau khởi mê

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Biểu đồ 3: Thay đổi HATTr sau khởi mê

Bảng 6: Tính chất đặt NKQ:

NHÓM 1 NHÓM 2 p

0,02*

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 7: Tính chất duy trì mê:

NHÓM 1 NHÓM 2 p

Thời gian GM (phút) 98,3 ± 54,8 107,8 ±

68,9 0,4

Số BN cử động trong mổ 2/50 9/50 0,03

Ephedrine phối hợp (mg/kg/giờ) 0,07 ± 0,03 0,1 ± 0,07 0,04*

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 8: Tính chất hồi tỉnh:

NHÓM 1 NHÓM 2 p

Thời gian hồi tỉnh (phút) 14,0±9,8 24,5±16,6 0,001*

Êm dịu 98 90 Tính chất

(%) Kích thích 2 10 0,1

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 9: Yếu tổ ảnh hưởng đến thời gian hồi tỉnh:

THỜI GIAN HỒI TỈNH Tương quan tuyến tính

Nhóm 1 Nhóm 2 THỜI GIAN GM R = 0,2; p = 0,2 R = 0,5; p =

0,001*

TỔNG PROPOFOL R = 0,3; p = 0,1 R = 0,1; p =

0,9

* Tương quan có ý nghĩa thống kê

Bảng 10: Tai biến, biến chứng:

Đặc tính Nhóm 1 Nhóm 2 p

tai biến trong GM 0 0 ghi nhớ trong mổ 0 0

Nôn ói 1/50 2/50 0,6

bi ến chứng sau GM Nhức

đầu 0 1/50 0,3

TG lưu hồi tỉnh (phút) 173,8 ±

20,3

194,6 ±

* Khác biệt có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN Nồng độ Propofol tại các giai đoạn GM

Nồng độ Propofol huyết tương (Cp) khởi

mê (bảng 2) tương đối thấp hơn khuyến cáo khi

đã tiền mê và giảm đau (3 – 6 mcg/ml)(1) Nồng

độ khởi mê giảm theo tuổi (p = 0,001) và tăng

theo BMI (p = 0,001) (bảng 3) Có sự giảm thể tích

phân phối và độ thanh thải thuốc giữa các khoang cơ thể của người lớn tuổi

Nồng độ Propofol ở não (Ce) khi mất ý thức,

khi rạch da và duy trì mê của chúng tôi (bảng 2)

tương đương với kết quả của Nguyễn Quốc Khánh (Ce mất ý thức 1,7 ± 0,3 mcg/ml, Ce duy

Trang 5

trì mê 3,2 – 5,5 mcg/ml)(8); và tương đối thấp hơn

các nghiên cứu ở phương Tây (Ce mất ý thức 1,1

– 4,7 mcg/ml, Ce lúc rạch da 3,5 – 6,0 mcg/ml;

Ce50 duy trì mê 2,5 – 6,8 mcg/ml)(9) Có lẽ có sự

nhạy cảm khác nhau giữa người Châu Á và

người phương Tây Ngoài ra, Ce duy trì tối đa

trong mổ tỉ lệ nghịch với tuổi (p = 0,001) và ASA

(p = 0,04) (bảng 3)

Ce lúc hồi tỉnh trong nghiên cứu của chúng

tôi (bảng 2) phù hợp với lý thuyết (1 – 2 mcg/ml)

(1) và các nghiên cứu ở phương Tây (1 – 2,3

mcg/ml)(9) cũng như ở châu Á: Nagata O (1,4 ±

1,1 mcg/ml(7)); Higuchi H (1,6 ± 0,4 mcg/ml(3));

Nguyễn Quốc Khánh (1,7 ± 0,3 mcg/ml)(8) Thông

thường, Ce lúc hồi tỉnh gần bằng Ce gây mất ý

thức(1) Đây là cơ sở để máy tính toán thời gian

BN hồi tỉnh, giúp ngưng thuốc cuối cuộc mổ

khoa học hơn so với cách không KSNĐĐ

So sánh 2 nhóm GMTM có và không

KSNĐĐ

Sử dụng Propofol

Liều Propofol khởi mê của nhóm 1 thấp hơn

nhóm 2 (bảng 4), phù hợp với các nghiên cứu

của Struys M (1,3 so với 2,7 mg/kg, p < 0,05)

(13); Servin FS (1,7 so với 2,3 mg/kg, p <

0,001)(12); Mazzarella B (1,4 so với 1,9 mg/kg, p <

0,05)(5); Nguyễn Quốc Khánh (1,8 so với 2 mg/kg,

p < 0,05)(8) Bên cạnh đó, số trường hợp cần tăng

liều khởi mê của nhóm 1 ít hơn nhóm 2 (bảng 4)

Khởi mê bằng phương pháp KSNĐĐ thực hiện

dễ dàng và tiết kiệm thuốc hơn

Tổng liều Propofol không khác nhau giữa 2

nhóm (bảng 4) Các nghiên cứu khác thống kê

tổng Propofol cho nhiều kết quả khác nhau Tuy

nhiên, số lần điều chỉnh liều Propofol trong mổ

của nhóm 1 ít hơn nhóm 2 (bảng 4) Hutton P

cũng ghi nhận nhóm KSNĐĐ không cần bổ

sung liều truyền nhanh trong mổ, trong khi

nhóm không KSNĐĐ có 40% trường hợp cần 1 –

2 liều và 10% cần 3 – 5 liều bổ sung(1) Vì vậy,

phương pháp KSNĐĐ duy trì nồng độ thuốc và

độ mê ổn định Việc điều chỉnh liều thuốc cũng

đơn giản, máy thực hiện nhanh giúp đạt ngay

hiệu quả mong muốn

Tác dụng phụ của Propofol ít và không khác

nhau giữa 2 nhóm (bảng 5), phù hợp với tổng kết

của Mc Leskey CH trên hơn 25000 BN (đau khi tiêm 5,2%, nôn ói 1,9%, kích thích 1,3% )(6) Đặc điểm này chứng tỏ tính an toàn của Propofol so với những loại thuốc mê khác

Giai đoạn khởi mê

2 nhóm đều mất ý thức nhanh và êm dịu

(bảng 5, 6), phù hợp với lý thuyết khi khởi mê

bằng Propofol (60 – 120 giây)(1) và các nghiên cứu trước đây: Nguyễn Quốc Khánh (89 ± 15 giây)(8); Hoàng Văn Bách (112,7 ± 32,6 giây)(4) Propofol có thời gian tiềm phục ngắn 30 – 50 giây, độ tan trong mỡ cao nên thấm qua hàng rào máu não dễ dàng và gây ngủ nhanh(1) Thông thường, thời gian mất ý thức tỉ lệ nghịch với liều và tốc độ tiêm thuốc Trong nghiên cứu này, với tốc độ bơm thuốc tương đương và liều khởi mê thấp hơn, nhưng nhóm 1 mất ý thức nhanh hơn nhóm 2 Đó là do phần mềm tính toán tốc độ và liều lượng thuốc phù hợp để đạt nồng độ thuốc nhanh hơn nhưng không quá liều, giúp an toàn và tiết kiệm thuốc

Liều Propofol cao hơn cho phép khởi mê nhanh hơn nhưng có thể ảnh hưởng huyết động nhiều hơn(1) Trong nghiên cứu này, với liều khởi mê thấp hơn và thời gian mất ý thức nhanh hơn, thay đổi huyết động của nhóm 1 cũng ít

hơn (biểu đồ 1, 2, 3) Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của Nguyễn Quốc Khánh (liều khởi

mê nhóm 1 thấp hơn nhóm 2 nên thay đổi HATB ít hơn 14 so với 21%, p < 0,01)(8); Passot S (thay đổi HATB < 10 so với 20%)(9) Một số tác giả thấy tác động trên huyết động là như nhau giữa 2 nhóm: Russell D.(11), Weninger B.(14), Gustavo LG.(2)

Với sự phối hợp giảm đau và dãn cơ, 96%

BN nhóm 1 so với 80% BN nhóm 2 đạt được

điều kiện đặt NKQ tốt (p = 0,02) (bảng 6) Passot

S cũng ghi nhận nhóm KSNĐĐ ít cử động lúc đặt đèn soi thanh quản hơn (14,8 so với 44,4%)(9)

Bộ phận vi tính giúp nồng độ thuốc tăng dần khi khởi mê chứ không giảm dần sau liều tiêm

TM trực tiếp, nên kiểm soát độ mê tốt hơn Tóm

Trang 6

lại, GMTM bằng Propofol KSNĐĐ khởi mê

nhanh, tiết kiệm thuốc, và quan trọng là chất

lượng tốt và an toàn

Giai đoạn duy trì mê

Với thời gian GM trung bình và phân loại

phẫu thuật 2 nhóm tương đương nhau, số BN

có cử động trong mổ của nhóm 1 ít hơn nhóm 2

(bảng 7), phù hợp với Russell D.(11) và Rehberg B

ghi nhận GM có KSNĐĐ làm giảm số lần mê

nông BIS > 60 (2,5 so với 5,1%)(10) Kỹ thuật

KSNĐĐ duy trì ổn định nồng độ thuốc, còn

TTM điều chỉnh lưu lượng không đảm bảo nồng

độ thuốc luôn trong vùng điều trị thường khá

hẹp, nên có nguy cơ dùng thuốc không đủ hoặc

quá liều, gây ngủ nông hoặc quá sâu, đều dẫn

đến bất lợi cho BN: đáp ứng toàn thân với kích

thích đau, thay đổi huyết động, nhớ lại… Do

đó, trong quá trình GM, nhu cầu Ephedrine của

nhóm 1 ít hơn nhóm 2 (p = 0,04) (bảng 7)

Propofol có thời gian tác dụng ngắn, và phương

pháp KSNĐĐ cải thiện tác dụng của thuốc theo

giai đoạn phẫu thuật(1), người GM có thể ít can

thiệp vào điều chỉnh liều thuốc nhưng vẫn yên

tâm về chất lượng giấc ngủ của BN cả về hiệu

quả lẫn an toàn

Giai đoạn hồi tỉnh

BN nhóm 1 hồi tỉnh nhanh hơn nhóm 2

(bảng 8), tương đương với kết quả của Nguyễn

Quốc Khánh trên BN phẫu thuật bụng dưới

GM KSNĐĐ (16 ± 2,1 phút)(8) và Nagata O

trên BN mổ ngoại thần kinh > 6 giờ (18

phút)(7) Thời gian hồi tỉnh của nhóm 1 không

phụ thuộc vào thời gian GM và lượng

Propofol sử dụng, còn thời gian hồi tỉnh của

nhóm 2 tỉ lệ thuận với thời gian GM (p =

0,001) (bảng 9) Do Propofol thải trừ nhanh, kỹ

thuật KSNĐĐ dựa đồng thời vào dược động

học và thời gian truyền thuốc nên giảm tối

thiểu nguy cơ tích lũy và giảm nhanh nồng độ

thuốc sau khi ngưng truyền(1), người GM có

thể tiên lượng thời gian BN tỉnh lại, nên

ngưng thuốc vào thời điểm hợp lý Hầu hết

BN hồi tỉnh êm dịu (bảng 8) và rút NKQ sớm,

nên hạn chế tăng Adrenaline và thay đổi

huyết động vào giai đoạn này Nguyễn Quốc Khánh cũng thấy kết quả tương tự(8) Đa số

BN tỉnh lại không có “cảm giác mệt” hay

“nặng đầu” có thể gặp khi GM hô hấp Chúng tôi không ghi nhận tai biến và ghi nhớ trong

GM, biến chứng sau GM ít (bảng 10) Ngoài ra

Propofol không gây sốt ác tính, ít tăng Histamine, không ảnh hưởng chức năng tuyến thượng thận, và có tác dụng chống nôn trong vài giờ đầu sau hồi tỉnh(1) Nhờ những thuận lợi trên, nhóm 1 cần thời gian theo dõi

ở phòng hồi tỉnh ngắn hơn nhóm 2 trung bình

20,8 phút (p = 0,001) (bảng 10) Sự chênh lệch

này không quá lớn, nhưng cũng giúp rút ngắn công việc của nhân viên y tế, tiết kiệm một phần chi phí và giảm thời gian chờ đợi lo lắng của gia đình

Ứng dụng GMTM KSNĐĐ trong phẫu thuật bụng

- An toàn cho BN già yếu khi giảm liều thuốc, và BN có chức năng gan suy giảm vì Propofol không gây nguy cơ viêm gan cấp sau GM

- Đáp ứng được cuộc mổ đơn giản ở thành bụng, mổ qua nội soi và cả mổ lớn các tạng

- Điều chỉnh nồng độ thuốc nhanh và dễ dàng nên thích ứng nhanh các thì lôi kéo tạng nhiều

- Nồng độ thuốc luôn ổn định, không như thuốc mê hô hấp bị ảnh hưởng bởi các thay đổi thông khí do bệnh nội khoa, thay đổi tư thế BN hoặc giai đoạn bơm thán khí ổ bụng…

- Propofol làm giảm nguy cơ nôn ói và hít sặc sau mổ, đặc biệt tốt đối với phẫu thuật trên rốn

- Không tích lũy thuốc nên phù hợp với phẫu thuật ngắn đến rất dài

Tóm lại, chúng tôi mượn lời Mazzarella B (Ý) để kết luận: “phương pháp GMTM KSNĐĐ hiệu quả, an toàn và dễ được chấp nhận”(5) Tuy nhiên, việc trang bị máy truyền thuốc và ống tiêm nạp sẵn hạn chế sự áp dụng rộng rãi cho nhiều cơ sở y tế Trong tình hình quá tải BN

Trang 7

hiện nay, phương pháp GM với chất lượng ổn

định, giảm tải công việc và an toàn cho BN là rất

quan trọng cả về cơ thể lẫn tinh thần cho BN và

gia đình Chi phí cao hơn cho trang bị và thuốc

trong cuộc GM không thể so sánh với những

thuận lợi lâu dài về mặt xã hội này

KẾT LUẬN

Phương pháp GMTM bằng Propofol

KSNĐĐ có thể áp dụng tốt cho phẫu thuật

vùng bụng

Nồng độ Propofol sử dụng tương đối thấp,

giảm theo tuổi và tổng trạng của BN

Phương pháp GMTM KSNĐĐ có nhiều ưu

điểm hơn phương pháp không KSNĐĐ, tuy

nhiên phụ thuộc vào phương tiện và thuốc, nên

áp dụng thực tế cần cân nhắc giữa hiệu quả và

chi phí

KIẾN NGHỊ

Nếu có điều kiện:

1 Nghiên cứu sâu hơn với phương tiện số

hóa theo dõi độ mê

2 Áp dụng trên các phẫu – thủ thuật khác,

đưa GMHS hướng tới chất lượng hoàn hảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

practice, pp 1 – 20

comparison of target – controlled versus manual controlled infusion systems” Rev Mex Anesth, 28 (1), pp 98 – 9

of Propofol concentration for laryngeal mask airway insertion in male

372 – 7

– Propofol kết hợp theo dõi độ mê bằng Entropy” Đại hội GMHS Việt Nam, Daklak, tr 235 – 7

Propofol and TCI: effectiveness, safety and acceptability” Minerva Anestesiol, 65 (10), pp 701 – 9

IV study of Propofol: Evaluation by anesthesiologists and PACU nurses” Anesth Analg, 77 (4), pp S3 – S9

innovators meeting, p 11

mạch hoàn toàn bằng Propofol có hay không kiểm soát nồng độ đích” Đại hội GMHS Việt Nam, Daklak, tr 208 – 21

123 – 34

(24), pp 920 – 6

schemes versus TCI systems” Anesth, 53 (1), pp 42 – 45

multicentre study” Anesth, 53, pp 82 – 6

administration of Propofol with two manually controlled infusion techniques” Anesth, 52 (1), pp 41 – 50

manual-TIVA and balanced anaesthesia for stereotactic biopsy of the brain” Aneasthesiol Intensivmed Notfallmed Schmerzther, 39,

pp 212 – 9

Ngày đăng: 23/01/2020, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w