Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về biến chứng ngoại khoa sau ghép thận có tỉ lệ thấp, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng đến chức năng của thận ghép và tính mạng của bệnh nhân. Và mục tiêu nghiên cứu chính ở bài viết đó là nêu lên biến chứng ngoại khoa sau ghép thận và kinh nghiệm bước đầu điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1BIẾN CHỨNG NGOẠI KHOA SAU GHÉP THẬN, KẾT QUẢ 42 TRƯỜNG HỢP GHÉP THẬN TỪ NGƯỜI CHO
SỐNG TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
Trương Hoàng Minh*, Trần Thanh Phong*, Đỗ Anh Đức * , Trần Lê Duy Anh*, Nguyễn Phước Hải*, Hồ Thị Ngọc Châu *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu: Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận có tỉ lệ thấp, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng
đến chức năng của thận ghép và tính mạng của bệnh nhân Chúng tôi xin trình bày các biến chứng ngoại khoa
sau ghép thận và kinh nghiệm bước đầu điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân được chỉ định ghép thận từ người cho sống tại
bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng 3 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012 Phát hiện các biến chứng bằng khám lâm sàng, siêu âm và CT-Scan Phương pháp tiền cứu mô tả từng trường hợp lâm sàng
Kết quả và bàn luận: Có 42 bệnh nhân được tiến hành ghép thận Tuổi trung bình ở người cho 31,43 tuổi
(18-54t).Tuổi trung bình người nhận thận là 40,98 tuổi (19-69) Tỷ lệ lấy thận trái/phải để ghép là 34/8 Tỷ lệ đặt thận ghép ở hố chậu phải/trái là 32/10 Có 33 thận ghép với 1 động mạch thận và 9 thận ghép có nhiều động mạch 100% các trường hợp cắm niệu quản vào bàng quang theo phương pháp Lich-Grégoir có cải biên Tỷ lệ chảy máu từ chỗ khâu nối mạch máu là 3/42 (7,14%) Tỷ lệ hẹp chỗ khâu nối động mạch là 3/42 (7,14%) được
đặt stent có kết quả tốt Tỷ lệ xì dò nước tiểu là 1/42 (2,7%) Có 1/42 (2,38%) bệnh nhân tử vong liên quan chảy
máu sau mổ do rối loạn đông máu
Kết luận: Tỷ lệ các biến chứng ngoại khoa trong nghiên cứu là thấp Đặt Stent điều trị hẹp chỗ khâu nối
động mạch có kết quả tốt Kỹ thuật cắm niệu quản thận ghép vào bàng quang người nhận thận theo phương pháp Lich-Gregoir có cải biên đạt tỷ lệ thành công cao
Từ khóa: Biến chứng ngoại khoa, ghép thận
ABSTRACT
SURGICAL COMPLICATIONS AFTER RENAL TRANSPLANTATION, RESULTS 42 CASES OF RENAL TRANSPLANTATION FROM LIVING DONOR AT PEOPLE 115 HOSPITAL
Truong Hoang Minh, Tran Thanh Phong, Do Anh Duc, Tran Le Duy Anh, Nguyen Phuoc Hai, Ho Thi Ngoc Chau
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 460 - 465
Background and purpose: Surgical complications after renal transplantation are low, however it may to
influence on graft survival We evaluated surgical complications after renal transplantation and initial experience
of treatment at people 115 Hospital.
Materials and Methods: Patients were operated renal transplantation at people 115 hospital from march
2004 to april 2012 Determine surgical complications by Examination clinical, Echo, CT-Scan with prospective study of the cas
Results: All 42 renal transplantations from living donor performed The essential donor age: 31,43 (18-54
The essential receiver age: 40,98 (19-69) Rate nephrectomy for living donor left/right: 34/8 Rate implant fosse
Tác giả liên lạc: ThsBS Trương Hoàng Minh Email: truonghminh2000@yahoo.com
Trang 2iliac right/left: 32/10 The single renal artery: 33 patients and 9 patients with multiple arteries 100% cases were inserted the ureter of graft into the recipient bladder with Lich-Grégoir technique has a modification Rate hematoma: 3/42 (7,14%), Rate of arterial stenosis: 3/42 (7,14%) was treated successful by stent arterial, Rate urinary leaks: 1 patient (2,38%) Rate mortality:1/42 cases (2,38%) relate to postoperative bleeding due to
troubled coagulation
Conclusions: Rate of surgical complications after renal transplantation was low The insert of stent by
intervention endovascular for treatment of stenosis in anastomosis arterial was good result The ureter was
anastomosed to the recipient bladder with Lich-Gregoir technique has a modification was high success
Key words: Surgical complication, Renal transplantation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế
thận sinh lý và đem lại chất lượng cuộc sống
nhất đối với bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn
cuối Việt Nam thực hiện ghép thận từ năm 1992
và đã trở thành phẫu thuật thường quy ở nhiều
bệnh viện Biến chứng ngoại khoa là một biến
chứng khó tránh khỏi sau ghép thận chiếm
khoảng 15% tùy theo các trung tâm và đôi khi
ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân sau ghép
Các biến chứng ngoại khoa bao gồm: biến
chứng mạch máu (1-16%), biến chứng niệu khoa
(2-10%), biến chứng lymphoceles (3,1%), và các
biến chứng khác.(6) Bệnh viện Nhân Dân 115 bắt
đầu thực hiện ghép thận từ người cho sống vào
năm 2004, cho tới nay đã thực hiện 42 trường
hợp Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đưa
ra kinh nghiệm ban đầu phát hiện và điều trị các
biến chứng ngoại khoa góp phần nâng cao chất
lượng điều trị cho bệnh nhân ghép thận tại Bệnh
viện Nhân Dân 115
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được ghép thận từ
người cho sống tại bệnh viện Nhân Dân 115 từ
tháng 3 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012
Thiết kế nghiên cứu
Tiền cứu mô tả từng trường hợp
Phương pháp nghiên cứu
-Việc thực hiện ghép thận được thực hiện
theo quy trình ghép thận của bệnh viện Nhân
Dân 115 dựa trên quy trình ghép thận của Bộ Y
tế năm 2002(5)
-Việc lấy thận được thực hiện qua mổ mở hoặc mổ nội soi
-Thận được lấy ra khỏi người cho và rửa bằng dung dịch Euro-Collins ở nhiệt độ 4 độ Celcius hoặc dung dịch HTK-Custodial
-Thận ghép được đặt vào hố chậu phải hoặc trái ở người nhận thận, tĩnh mạch thận ghép cắm vào tĩnh mạch chậu chung hoặc tĩnh mạch chậu ngoài tùy từng trường hợp Động mạch thận ghép được thông nối với động mạch chậu trong (tận-tận) hoặc động mạch chậu ngoài hay chậu chung (tận- bên) tùy từng trường hợp -Niệu quản được cắm vào bàng quang theo phương pháp Lich-Gregoir
-Phác đồ thuốc ức chế miễn dịch: Ức chế calcineurin (CsA hoặc Tacrolimus) + MMF (Cellcept) + Steroid (Prednisolon) + dẫn nhập (Simulect) tùy theo từng trường hợp
-Ghi nhận các biến chứng ngoại khoa sau
mổ và kết quả điều trị các biến chứng
-Các bệnh nhân sau mổ được tái khám 1 lần/tuần, ghi nhận các biến chứng nếu có -Lập bệnh án nghiên cứu, ghi đầy đủ các thông số nghiên cứu
-Sử lý số liệu với phần mềm SPSS 11.5 Biến
số định tính được trình bày dưới tỷ lệ %, biến số định lượng trình bày dưới dạng số trung bình
và độ lệch chuẩn
KẾT QUẢ
Từ tháng 2 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012 chúng tôi thực hiện được 42 trường hợp ghép thận từ người cho sống với các đặc điểm sau:
Trang 3Đặc điểm ở người cho thận
Tuổi trung bình: 31,43 tuổi (18t-54t) với 30
nam (71,4%) và 12 nữ (28,6%) Độ tuổi hiến thận
đa phần là tuổi lao động, nam nhiều hơn nữ
Bảng 1: Quan hệ giữa người cho và người nhận thận
Vị trí lấy thận: 8 trường hợp lấy thận phải và
34 trường hợp lấy thận trái
Phương pháp lấy thận ghép: 6 trường hợp
lấy thận qua nội soi ổ bụng và 36 trường hợp lấy
qua mổ mở
Số lượng động mạch thận ghép: có 33
trường hợp (78,57%) thận ghép có 1 động mạch,
9 trường hợp (21,43%) có 2 động mạch
Thời gian thiếu máu nóng: trung bình 3 phút
12 (2 phút - 7 phút 30)
Đặc điểm ở người nhận thận
Tuổi trung bình: 40,98 tuổi (19t-69t) với 25
nam (59,5%) và 17 nữ (40,5%)
Nguyên nhân suy thận mãn: 24 trường hợp
(57%) là bệnh cầu thận mãn, 9 trường hợp
(21,43%) là bệnh thận cao huyết áp, 4 trường
hợp (9,52%) tiểu đường, 2 trường hợp (4,76%)
thận đa nang, còn lại do Lupus, gout, sỏi niệu
Phương pháp điều trị trước ghép thận: 33
trường hợp (78,57%) chạy thận nhân tạo, 5
trường hợp (11,90%) thẩm phân phúc mạc, 4
trường hợp (9,53%) chưa điều trị thay thế thận
trước ghép
Tương hợp HLA: 1/6 (có 2/42: 4,76%), 2/6 (có
5/42: 11,9%), 3/6 (có 16/42: 38,1%), 4/6 (có
13/42:30,96%), 5/6 (có 5/42: 11,9%), 6/6 (có 1/42:
2,38%)
Thông số kỹ thuật trong mổ: 32 trường hợp
(76,19%) ghép vào hố chậu phải, 10 trường hợp
(23,81%) ghép vào hố chậu trái
Bảng 2: Các phương pháp khâu nối mạch máu
Động mạch chậu ngoài
Động mạch chậu trong
Khâu nối động mạch
Động mạch chậu chung
Với tĩnh mạch chậu ngoài
Khâu nối
chậu chung
Chuẩn bị mạch máu: 1 trường hợp (2,38%) bóc tách rốn thận làm dài động mạch, 2 trường hợp (4,76%) cắm động mạch cực trên vào động mạch thận chính 1 trường hợp (2,38%) nối động mạch cực dưới vào động mạch thượng vị dưới
2 trường hợp (4,76%) tạo hình kiểu nòng sung 1 trường hợp cột động mạch cực trên do khẩu kính quá nhỏ
Có 22 trường hợp (52,38%) đặt thông JJ niệu quản thận ghép, 20 trường hợp (47,62%) là không đặt thông JJ
Phục hồi chức năng thận ghép sau mổ: 31 trường hợp (73,81%) có nước tiểu ngay sau khi
mở kẹp mạch máu, 8 trường hợp (19,05%) có nước tiểu sau 30 phút, có 3 trường hợp (7,14%)
có nước tiểu sau 24 giờ
Biến chứng ngoại khoa
Bảng 3: Biến chứng mạch máu
Sinh (8)
Chảy chỗ thông nối động mạch
3/42 (7,14%)
2/201 (0,99%) 9/292 (3,1%) Hẹp động mạch
thận ghép
3/42 (7,14%)
0/ 201 (0%) 9/292 (3,1%)
Cả 3 trường hợp hẹp động mạch thận ghép tại vị trí thông nối đều xẩy ra trên bệnh nhân được thực hiện thông nối động mạch thận ghép với động mạch chậu ngoài (1 bệnh nhân) và động mạch chậu chung (2 bệnh nhân) kiểu tận-bên
Bảng 4: Biến chứng niệu khoa và so sánh với các tác
giả
Tên tác giả
Chúng tôi (2012)
Trần Ngọc Sinh et al (2010) (8)
Daniel A.S
et al (1995) (1)
Akoh JA et
al (2009) (2)
Trang 4N (Tổng
số bn
nghiên
cứu)
42 (living
donors)
201 (living donors)
1000 (deceased)
398 (335 deceased +
43 living donors)
Số bn (tỷ
lệ) biến
chứng
1 bn
(2,38%)
4 bn (1,99%)
(7,3%)
-Biến chứng Lymphocel: chúng tôi không
gặp trường hợp nào
-Biến chứng khác: Có 1 trường hợp nhiễm
trùng vết mổ, đây là những ca đầu tiên ghép
cùng phái đoàn Bỉ sử dụng kháng sinh dự
phòng nhưng thất bại, biểu hiện sưng tấy vết
mổ vào ngày thứ 4, không sốt Chúng tôi sử
dụng lại kháng sinh thế hệ 3 (Rocephin) sau đó
bệnh ổn, vết mổ lành và cắt chỉ vào ngày thứ 10
sau mổ Không ghi nhận trường hợp nào có tổn
thương các tạng trong ổ bụng, thoát vị thành
bụng hay tràn dịch tinh mạc cùng bên thận
ghép
BÀN LUẬN
Biến chứng mạch máu: Ngày nay, với sự
phát triển của kỹ thuật ngoại khoa, biến chứng
mạch máu gặp không nhiều (kể cả nhóm có
nhiều động mạch)(6) tuy nhiên khi xẩy ra nó sẽ là
nguyên nhân quan trọng làm mất chức năng
thận ghép Nếu phát hiện sớm có thể cứu được
thận ghép thông qua việc can thiệp ngoại khoa
hay can thiệp nội mạch(3)
Cả 3 trường hợp chảy máu chỗ thông nối
động mạch (động mạch thận ghép với động
mạch chậu ngoài người nhận) biểu hiện máu tụ
quanh thận ghép xảy ra ở ngày 1-16 hậu phẫu,
biểu hiện lâm sàng là đau và sưng vùng thận
ghép kèm dẫn lưu ra máu Siêu âm là phương
tiện chẩn đoán đầu tiên và dễ dàng nhận thấy
hematoma quanh thận ghép(1), khi kết quả
không rõ ràng hoặc nghi ngờ sẽ tiến hành chụp
CT-Scan(1) Hai trường hợp được mổ lại 2 lần để
lấy máu tụ và cầm máu (một bệnh nhân phát
hiện ngày thứ 2 và một bệnh nhân phát hiện
ngày thứ 16) với kết quả bệnh nhân thứ 2
(2,38%) tử vong do rối loạn đông máu, nhiễm
trùng, viêm gan do thuốc mê và thận ghép
không hoạt động Trường hợp còn lại (phát hiện
ngày hậu phẫu thứ 1) được mổ lại may cầm máu chỗ nối động mạch bằng mối may tăng cường, sau phẫu thuật bệnh diễn tiến tốt Đây là những trường hợp được thực hiện ghép thận trong những năm đầu (2004), chúng tôi chưa có nhiều kinh nghiệm
Ba trường hợp hẹp động mạch thận xảy ra ở tháng 3-4 sau ghép Không có biểu hiện lâm sàng ở 2 trường hợp và 1 trường hợp biểu hiện bằng tăng creatinine huyết thanh khi dùng thuốc ức chế men chuyển Siêu âm Doppler là phương tiện tầm soát hiệu quả Tất cả các trường hợp nghi ngờ hẹp động mạch thận có ý nghĩa huyết động trên siêu âm Doppler sẽ được chụp mạch máu thận để chẩn đoán xác định và can thiệp Cả 3 trường hợp đã được đặt stent với chức năng thận ghép tốt
Theo Zilinska Z và cs, những yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ hẹp mạch máu sau ghép là tình trạng bất tương hợp khẩu kính mạch máu, tồn tại nhiều động mạch, xơ vữa động mạch hoặc
do kỹ thuật may nối mạch máu(12) Siêu âm Doppler có thể phát hiện vị trí hẹp của động mạch hay tĩnh mạch dựa trên phổ tưới máu tại thận ghép và kháng lực mạch máu trong thận ghép CT-Scan chỉ phát hiện vùng giảm đậm độ cản quang Chính xác nhất vẫn là chụp động mạch có tiêm thuốc cản quang sẽ xác định vị trí chỗ hẹp, độ dài và mức độ hẹp để có chỉ định can thiệp như đặt Stent hay phẫu thuật(1)
Cả 3 trường hợp hẹp động mạch thận ghép của chúng tôi xầy ra ở nhóm 1 động mạch (33BN) còn không có trường hợp nào trên nhóm
2 động mạch (9BN) với p > 0,05 Có thể do những trường hợp đầu tiên chúng tôi chưa có kinh nghiệm Theo Eduardo.M thì không có sự khác biệt về biến chứng hẹp mạch máu thận ghép giữa hai nhóm 1 động mạch (9/292 bn 3,1%) và nhóm nhiều động mạch (2/64 bn 3,1%) với p>0,05(6)
Biến chứng nhiễm trùng vết mổ: Ngày nay
tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ chỉ còn 1% sau ghép nhờ điều kiện phẫu thuật vô trùng tại phòng mổ tốt, sự phát triển của kháng sinh, người nhận
Trang 5thận được chăm sóc dinh dưỡng tốt(11)…
Trường hợp nhiễm trùng vết mổ trong nghiên
cứu do áp dụng protocol kháng sinh dự phòng
của nước bạn (Bỉ) có lẽ không phù hợp với điều
kiện khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng
tôi đã sử dụng lại kháng sinh phổ rộng và bệnh
nhân ổn định sau đó
Chúng tôi không gặp biến chứng
Lymphocele Theo y văn, tỷ lệ này chiếm
khoảng 3,1% tùy từng trung tâm(6), thường xuất
hiện vào tuần đầu sau ghép Nguyên nhân do
cột không hết các mạch bạch huyết che phủ lên
mạch máu chậu Tại bệnh viện Nhân Dân 115,
chúng tôi cột một cách hệ thống các tổ chức
quanh mạch máu vùng chậu khi phẫu tích mà
không sử dụng dao điện đốt, mặt khác chỉ bộc
lộ mạch máu chậu vừa đủ không bộc lộ quá dài
mạch máu chậu nên tránh được biến chứng này
Biến chứng niệu khoa:
+ Xì dò, tụ nước tiểu quanh thận: trường
hợp này là do hoại tử niệu quản gần bể thận,
đây là trường hợp có đặt sonde JJ dự phòng
ngay trong mổ Phát hiện vào ngày thứ 10 sau
mổ với triệu chứng sốt, đau ở vùng hố chậu
phải nơi đặt thận ghép Siêu âm và chụp
CT-Scan phát hiện tụ dịch quanh thận Bệnh nhân
được mổ thám sát lần 1 vào ngày thứ 10 hậu
ghép nhưng không phát hiện được chỗ xì dò,
đặt lại dẫn lưu Mổ lại lần 2 vào ngày thứ 14
hậu ghép phát hiện hoại tử niệu quản gần bể
thận Chúng tôi tiến hành may lại lỗ thủng,
thám sát thấy niệu quản vẫn tưới máu tốt Sau
mổ diễn tiến tốt, hết xì dò và rút dẫn lưu ổ mổ
sau đó 3 ngày, sonde JJ rút sau 2 tuần
- Việc chẩn đoán xì dò niệu quản tương
đối dễ dàng tuy nhiên xác định vị trí xì dò đôi
khi gặp khó khăn Theo Daniel Shoskes, siêu
âm chỉ xác định có tụ dịch quanh thận, xạ
hình thận có lợi trong việc đánh giá vị trí xì
dò Chụp bàng quang có bơm thuốc cản
quang xác định được vị trí xì dò ở chỗ thông
nối niệu quản-bàng quang(10)
- Nguyên nhân xì dò nước tiểu sau ghép
thường:
Do hoại tử niệu quản và sai sót kỹ thuật cắm niệu quản vào bàng quang Hoại tử niệu quản thông thường do quá trình lấy thận không tuân thủ việc bảo quản lớp mỡ quanh niệu quản cũng như phần mỡ ở vùng cực dưới thận và bể thận, đây là nơi có mạch máu xuất phát từ nhánh động mạch thận nuôi niệu quản Mặt khác tưới máu niệu quản không đảm bảo do lấy niệu quản quá dài.Tác giả Trần Ngọc Sinh cũng ghi nhận 4 trường hợp xì dò nước tiểu mà không chẩn đoán được vị trí xì dò trước khi mổ lại, chỉ sau khi mổ mới xác định vị trí và nguyên nhân xì dò là do thủng niệu quản nghĩ do sử dụng dao đốt điện một cực Về sau sử dụng dao bipolar và cột cầm máu niệu quản bằng chỉ tan
đã cải thiện biến chứng này(8)
- Chúng tôi không gặp trường hợp nào xì dò tại vị trí cắm niệu quản vào bàng quang.Tại bệnh viện Nhân Dân 115 áp dụng kỹ thuật cắm niệu quản vào bàng quang với phương pháp Lich-Grégoir có cải biên về kỹ thuật may niệu quản vào bàng quang Kỹ thuật này cho phép không cần niệu quản dài nên bảo đảm tưới máu đầu niệu quản từ mạch máu thận ghép xuống tốt và tạo điều kiện lành chỗ thông nối được tốt
và giảm biến chứng xì dò Trường hợp thủng niệu quản của chúng tôi không rõ nguyên nhân, cũng có thể do sử dụng dao điện một cực hoặc
do sử dụng sonde JJ mà đầu sonde JJ kích thích làm thủng niệu quản sát bể thận, tác giả Kumar
A et al cũng ghi nhận(4) + Vấn đề bế tắc niệu quản và trào ngược bàng quang –niệu quản chúng tôi chưa gặp trường hợp nào Việc đặt sonde JJ phòng ngừa biến chứng hẹp chỗ thông nối niệu quản vào bàng quang(8,4) Trong nghiên cứu này, ngay
cả 20 /42 trường hợp không đặt sonde JJ cũng không ghi nhận có chít hẹp chỗ cắm niệu quản vào bàng quang hay trào ngược bàng quang-niệu quản Tuy nhiên cần phải có nghiên cứu số lượng lớn và theo dõi lâu dài
để đánh vấn đề này
+ Sử dụng liều Steroid sau ghép: Với việc phối hợp sử dụng 3 thuốc cho phép giảm nhanh
Trang 6liều Steroid nhằm giảm các biến chứng của việc
sử dụng Steroid Cụ thể Methylprednisolon 500
mg ngay trong mổ sau đó giảm liều xuống
250mg, 125 mg, và chuyển sang thuốc uống Tác
giả Daniel A et al cho rằng: việc sử dụng liều
thấp steroid làm giảm tỷ lệ biến chứng niệu
khoa sau ghép(1)
Về kỹ thuật lấy thận: đa số các trường hợp
lấy thận ghép qua đường mổ mở, có 6/42 trường
hợp là lấy qua đường nội soi ổ bụng, không có
biến chứng ngoại khoa xẩy ra trên cả 6 trường
hợp này Lấy thận được thực hiện qua đường
mổ mở là tốt hơn mổ qua đường nội soi và tỷ lệ
xì dò ở nhóm lấy thận qua nội soi là cao hơn
nhóm mổ mở(7) Trong nghiên cứu của chúng
tôi, có thể số bệnh nhân còn ít chưa đủ để so
sánh Theo Trần Ngọc Sinh và Cs thực hiện
43,56% từ mổ mở, còn lại là lấy thận qua nội soi
(6,44% qua ngả phúc mạc, 50% qua ngả sau
phúc mạc) và kết quả không có sự khác biệt về
tỷ lệ biến chứng ngoại khoa giữa mổ mở và mổ
nội soi(8)
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ biến
chứng ngoại khoa thấp bao gồm: Chảy máu
tại vị trí thông nối động mạch 7,14%, hẹp
động mạch thận ghép tại vị trí thông nối
7,14% sau 3 tháng hậu phẫu được đặt Stent cải
thiện hoàn toàn Biến chứng niệu khoa gồm:
xì dò bể thận ghép 2,38% được mổ khâu lại
chỗ xì dò Không có trường hợp nào được ghi
nhận có biến chứng hẹp hay trào ngược tại vị
trí cắm niệu quản vào bàng quang Tỷ lệ tử
vong sau mổ là 2,38% liên quan chảy máu sau
mổ do rối loạn đông máu Siêu âm Doppler
và CT-Scan là phương tiện ít xâm hại phát hiện sớm các biến chứng ngoại khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Akbar SA., Zafar S, Jafri H., Amendola MA., Madrazo BL, Salem R, and Bis KG (2005) ‘‘Complications of renal transplantation’’ RadioGraphics 2005; 25:1335-1356
2 Akoh JA, Opaluwa AS, Weller D (2009) Urological complications of renal transplantation: Reducing the risk Saudi J Kidney Dis Transpl 2009;20:1005-9
3 Gang S and Mohan Rajapurkar (2009) ‘‘Vascular complications following renal transplantation’’ JNRT.2009; 2 (1): 122-132
4 Kumar A, Verma BS, Srivastava A, Bhandari M, Gupta A, Sharma R (2000) Evaluation of the urological complications of living related renal transplantation at a single center during the last 10 years: impact of the Double-J* stent J Urol 2000;164(3 Pt 1):657-60
5 Lê Thế Trung & Cs (2002) Quy trình ghép thận từ người sống cho thận Bộ y tế
6 Mazzucchi E, Souza AA., Nahas WC, Antonopoulos IM, Piovesan A, Samiarap C (2005) ‘‘Surgical complications after renal transplantation in grafts with multiple arteries’’ International Braz J Urol 2005; 31(2):125-130
7 Philosophe B, Kuo PC, Schweitzer EJ et al (1999) Laparoscopic versus open donor nephrectomy: comparing ureteral complications in the recipients and improving the laparoscopic technique Transplantation 1999; 68: 497
8 Trần Ngọc Sinh & cs (2010) Kết quả phẫu thuật các trường hợp
ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy Kỷ yếu công trình ghép thận
bệnh viện Chợ Rẫy 1992-2010 NXB y học Tp.HCM 2010; p.81-95
9 Shoskes DA, Hanbury D, Cranston D, Moris PJ (1995) Urological complication in 1000 consecutive renal transplant recipients J Urol; 153, 1; 18-21
10 Shoskers D, Cranston D (2008) Urological complicatios after kidney transplantation Kidney transplantation- principles and practice W.B.Saunders company Philadelphia ed 6 th 2008;
435-444
11 Singer J, Gritsch HA, and Rosenthal JT (2005) The transplant operation and its surgical complications Handbook of kidney transplantation, 4 th Ed, A Wolters Kluwer company Philadelphia 2005; p.193-211
12 Zilinska Z, Chrastina M, Trebaticky B, Breza J, Jr, Slobodnik L, Breza J, Buidak P, Madaric J, Vulev I, Klepanec A (2010)
Vascular complications after renal transplantation.Bratisl Lek
Listy.2010; 111(11): 586-589