1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị chẩn đoán của các triệu chứng lâm sàng trong bệnh lý động mạch ngoại biên chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường

8 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 368,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng trong bệnh động mạch ngoại biên chi dưới, khảo sát ABI ở bệnh nhân đái tháo đường. Nghiên cứu tiến hành mô tả cắt ngang với những nhóm ít nguy cơ bị bệnh động mạch ngoại biên chi dưới. Nhóm bệnh đái tháo đường: Bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin.

Trang 1

GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

TRONG BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN CHI DƯỚI

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trần Bảo Nghi*, Hồ Thượng Dũng *

TÓM TẮT

Tổng quan: Bệnh mạch máu ngoại biên là một trong những nguyên nhân chính gây tăng bệnh suất và tử

suất ở dân số lớn tuổi Tần suất bệnh này ở những bệnh nhân ĐTĐ cao hơn nhóm không ĐTĐ Bệnh thường để lại những biến chứng nặng nề Phương pháp đo HA bằng Doppler sau đó tính Chỉ số HA cổ chân/cánh tay (Ankle Brachial Index:ABI) với đặc tính không xâm lấn ngày càng phổ biến

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng trong bệnh ĐMNBCD, khảo sát ABI ở bệnh

nhân ĐTĐ

Đối tượng & phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Nhóm chứng: những người ít nguy cơ bị bệnh

ĐMNBCD Nhóm bệnh ĐTĐ: Bệnh nhân ĐTĐ không phụ thuộc insulin

Kết quả nghiên cứu: Nhóm chứng: 63 người, 23 nữ và 40 nam Tần suất dấu hiệu ĐCH rất thấp (10,9%)

ở bệnh nhân ĐTĐ ĐCH có độ đặc hiêu cao (98%) nhưng độ nhậy thấp (63,6%) Sự khác biệt giữa ABI nam và ABI nữ không có ý nghĩa thống kê (p = 0,092) Nhóm ĐTĐ: 101 bệnh nhân, 73 nam và 28 nữ ABI ở nhóm bệnh

có ĐCH và nhóm không ĐCH khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ABI nhóm chứng và nhóm ĐTĐ lần lượt là 1,053 và 1,016

Kết luận: Các triệu chứng lâm sàng thường gặp trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD như ĐCH, mất mạch

ngoại biên chi dưới, bất thường màu sắc da chi dưới có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhậy thấp (với siêu âm duplex làm tiêu chuẩn vàng) ABI trung bình/nhóm chứng: 1,053, nhóm ĐTĐ: 1,016; Tần suất bệnh ĐMNBCD ở nhóm ĐTĐ chẩn đoán theo tiêu chuẩn ABI là 22,8%

Từ khóa: Bệnh mạch máu ngoại biên; Bệnh động mạch ngoại biên chi dưới; Đái tháo đường

ABSTRACT

DIAGNOSTIC VALUE OF CLINICAL MANIFESTATION FOR PERIPHERAL ARTERY DISEASE

OF LOWER EXTREMITY IN DIABETES

Tran Bao Nghi, Ho Thuong Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 131 - 138

Background: Peripheral artery disease (PAD) is a common cause of morbidity and mortality and is reported

to be more common among diabetic subjects compared to non-diabetic subjects Diabetes and PAD are both frequently complicated by neuropathy and foot ulceration, and each condition is associated with an increased risk

of gangrene and lower extremity amputation

The aim: To characterize some signs and symptoms of lower extremity in peripheral artery disease patients

and to examine the ABI in patients with diabetes

Methods: Cross-sectional study 101 type 2 diabetic and 63 non-diabetic patients admitted to underwent

colour duplex ultrasound and ankle-brachial index measurements PAD was diagnosed if the individual had haemodynamically significant obstruction on the colour duplex ultrasound (CDU), or if the ABI was < 0.9

* Bệnh viện Thông nhất Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS.BS Trần Bảo Nghi, ĐT: 0903988148

Trang 2

Results: The control group was 63 patients, 23 females and 40 males The study group was 101 patients, 73

males and 28 females Frequency of claudication in diabetes low (10,9%) Its specificity is high (90%) but its sensitivity is rather low 63.6%) The mean ABI in lower extremity PAD patients with and without diabetes:

1.053 and 1.016 The prevalence of lower extremity PAD in diabetes group was 22.8%

Conclusion: The signs and symptoms which were common such as claudication, abnormal pigment of skin

of lower extremity had high specificity but low sensitivity when using the CDU as 'gold standard' The

prevalence of lower extremity PAD in diabetes group according to the criteria of ABI was high (22.8%)

Key words: Peripheral artery disease, diabetes

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch ngoại biên chi dưới

(ĐMNBCD) là một trong những nguyên nhân

chính gây tăng bệnh suất và tử suất ở dân số lớn

tuổi Tần suất bệnh ĐMNBCD ở những bệnh

nhân đái tháo đường (ĐTĐ) cao hơn nhóm

không ĐTĐ(10)

Tại Việt Nam, năm 1992, tỉ lệ ĐTĐ ở miền

bắc và miền nam khoảng 3-5%(5) Tần suất ĐTĐ

ngày càng tăng ở Việt Nam Và về lâu dài, nó sẽ

gây các biến chứng ở mạch máu nhỏ và mạch

máu lớn, để lại di chứng nặng nề ĐTĐ là một

yếu tố nguy cơ lớn gây xơ vữa động mạch

(XVĐM) Xơ vữa động mạch là nguyên nhân

chính gây tắc và hẹp động mạch (ĐM) ngoại

biên Do đó, cần có phương pháp phát hiện

bệnh sớm, để điều trị và ngăn ngừa những biến

chứng của bệnh

Hầu hết bệnh ĐM là do xơ vữa động mạch ở

thành mạch máu(8)

Tắc ĐM ở chi thường được chẩn đoán

trên lâm sàng; Tuy nhiên, những phương

pháp đánh giá không xâm lấn giúp khẳng

định chẩn đoán(6)

Chụp mạch máu có cản quang là một

phương tiện chẩn đoán xâm lấn và là tiêu chuẩn

vàng để đánh giá bệnh ĐMNBCD, đây không

phải là một xét nghiệm thường quy

Siêu âm duplex cho phép khảo sát vị trí giải

phẫu, hình dạng, kích thước lòng mạch, vận tốc,

chiều, kiểu của dòng máu Trong số những

phương pháp chẩn đoán không xâm lấn khác,

siêu âm Doppler là thông dụng nhất Hẹp và tắc

ĐM được nghe và ghi lại dễ dàng khi dùng đầu

dò Doppler

Do ảnh hưởng hiện tượng phản hồi sóng của dòng máu, huyết áp (HA) tâm thu ở các mạch máu xa hơn sẽ cao hơn HA ở ĐM chủ

và những mạch máu ở gần tim Vì thế, ở tư thế nằm ngữa, chi ngang tim, HA tâm thu chi dưới thường cao hơn HA tâm thu ở ĐM chủ

và chi trên Do đó, tỉ số HA tâm thu chi dưới/HA tâm thu cánh tay > 1(2)

Năm 1905, Korottkoff đề xuất phương pháp

đo HA bằng cách nghe, là phương pháp phổ biến nhất và còn dùng rộng rãi cho đến nay Khi

đo HA chân, phương pháp này hạn chế vì những âm Korottkoff ở chân khó nghe Đo HA bằng đầu dò Doppler khắc phục được những hạn chế trên Năm 1963, Strandness DE Jr giới thiệu phương pháp này Từ đó, nó ngày một phổ biến, được nhiều tác giả ủng hộ

Có nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh ĐMNBCD Phương pháp đo HA bằng Doppler

sau đó tính Chỉ số HA cổ chân/cánh tay (ABI: Ankle Brachial Index) - với đặc tính không xâm

lấn, kỹ thuật đơn giản, tiện lợi - ngày càng phổ biến Dùng siêu âm Doppler để tính ABI là phương pháp có độ nhậy và độ chuyên cao, kỹ thuật đơn giản, dụng cụ gọn nhẹ, không tốn nhiều thời gian, có thể lập lại nhiều lần

Ở Việt Nam, việc chẩn đoán sớm và theo dõi bệnh ĐMNBCD còn hạn chế Bệnh nhân nhập viện vì bệnh ĐMNBCD thường ở giai đoạn trễ, đã có nhiễm trùng hay hoại tử chân(9) Với thực tế này, ABI có khả năng trở thành một phương tiện chẩn đoán tầm soát bệnh ĐMNBCD đầy hiệu quả

Trang 3

Hình 1: HA tâm thu đùi trái giảm do tắc nghẽn ĐM

đùi chung (T) (Bình thường, chênh áp giữa 2 đoạn

liên tiếp nhau không quá 20 mmHg)

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng trong

bệnh ĐMNBCD

Khảo sát ABI ở bệnh nhân ĐTĐ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nhóm chứng

Gồm những người ít nguy cơ bị bệnh

ĐMNBCD: Không tăng HA, HA tứ chi trong

giới hạn bình thường, không tai biến mạch máu

não, không hút thuốc lá, không rối loạn Lipid

máu, không triệu chứng đau chi dưới, mạch chi

dưới rõ, đường huyết bình thường

Nhóm bệnh ĐTĐ

Các bệnh nhân ĐTĐ không phụ thuộc

insulin nhập bệnh viện Thống Nhất

Tiêu chuẩn loại trừ

Các bệnh nhân có các biểu hiện bất thường

cản trở thăm khám lâm sàng và khảo sát siêu âm

ĐMNBCD ĐTĐ đã có biến chứng và đã bị đoạn

chi dưới Có sang thương chân ngay chỗ đặt

đầu dò làm Doppler Rung nhĩ

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu mô tả cắt ngang

Các bước tiến hành

Hỏi bệnh Khám chi phát hiện tổn thương

và triệu chứng Màu sắc da, nhiệt độ (so sánh hai bên) Đường huyết Siêu âm duplex ĐM chi dưới

Đo HA bằng kỹ thuật Doppler: dùng đồng

hồ áp kế, bao nén khí (cuff), máy Doppler (loại Smart Dop, đầu dò bút chì 10 MHz) Đo

HA tâm thu cánh tay, đo cả 2 tay Đầu dò đặt

ở ĐM chày sau và ĐM mu chân khi đo HA ở chân Trình tự đo như ở tay Làm cả 2 chân Sau đó, tính giá trị ABI

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả

Phân loại ĐTĐ không phụ thuộc insulin: Tuổi trên 40 và điều trị bằng chế độ ăn kiêng có thể phối hợp với thuốc uống hạ đường huyết Phân độ cao HA: Theo JNC

Chẩn đoán xác định đau cách hồi (ĐCH): Theo tiêu chẩn Rose

Triệu chứng lâm sàng: bất thường khi có ĐCH và/hoặc khám thực thể bất thường

ABI ≥ 1,3: vôi hóa thành ĐM 0,9 ≤ ABI < 1,3: bình thường ABI < 0,9 : Có tắc mạch máu ABI bất thường khi nó ≥ 1,3 hoặc < 0,9 Gọi là bệnh ĐMNBCD khi ABI < 0,9(11)

Xử lý số liệu

Phần mềm SPSS 11.5 Tính các tỉ lệ, trung bình, độ lệnh chuẩn Phép kiểm chi bình phương, phép kiểm T Có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả nhóm đái tháo đường

Số lượng bệnh nhân: 101 Nam: 73; Nữ: 28

Bảng 1: Những đặc điểm của nhóm bệnh ĐTĐ

Trang 4

Triglyceride 2,64 ± 2,22

Thời gian bị ĐTĐ

Hút thuốc lá

7,8 ± 5,2 38,6%

Bảng 2: Đau cách hồi (ĐCH) theo thời gian bệnh

ĐTĐ

λ 2 = 0,89 ; p>0,05

Bảng 3: Tỉ lệ ĐCH theo tuổi

Trong 202 chi dưới tiến hành làm duplex

ĐM, có 22 chi bất thường: 14 (6,9%) chi hẹp lòng

mạch ≥ 50% và 8 (3,69%) chi tắc hoàn toàn

Bảng 4: Một số triệu chứng lâm sàng chính so với

siêu âm duplex

Siêu âm duplex Không hẹp hoặc

hẹp < 50%

Hẹp ≥ 50%

hoặc tắc

Tổng số chi

Đau cách hồi

Thay đổi màu sắc da chi dưới

Mất mạch chi

So với siêu âm duplex:

ĐCH: độ nhậy 63,6% (14/22); độ chuyên 98%

(178/180)

Thay đổi màu sắc da: độ nhậy 77,3%

(17/220); độ chuyên 97,8% (176/180)

Mạch chi bất thường: độ nhậy 68% (15/22);

độ chuyên 88,9% (160/180)

Bảng 5: ABI ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ

Hai trung bình ABI ở nhóm bệnh nhân có ĐCH và nhóm không ĐCH khác nhau có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05)

Bảng 6: Tỉ lệ ABI

Tỉ lệ ABI ≤ 0,9 chỉ ảnh hưởng 1 chi/Bn: 2/19 (10,5%) Tỉ lệ ABI ≤ 0,9 cả 2 chi/Bn: 17/19 (89,5%)

36 chi: ABI ≤ 0,9

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 4 bệnh nhân ABI > 1,3 Chúng tôi xem 4 bệnh nhân này cũng bị bệnh ĐMNBCD Kiểm tra siêu âm duplex những BN này thấy vôi hóa nặng ĐM, tổn thương xơ vữa lan tỏa, hẹp > 50% lòng mạch

Kết quả nhóm chứng

Gồm 63 người: 23 nữ và 40 nam Tuổi nhỏ nhất: 47, lớn nhất: 85, trung bình: 63,16 ± 9,3

Bảng 7: Trung bình ABI của nhóm chứng

Sự khác biệt giữa ABI nam và ABI nữ không

có ý nghĩa thống kê (p = 0,092)

BÀN LUẬN Đặc điểm lâm sàng trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD

Tỉ lệ bệnh ĐMNBCD khác nhau phụ thuộc phương pháp chẩn đoán Hai triệu chứng lâm sàng thường sử dụng trong chẩn đoán là có triệu chứng ĐCH và mất mạch ngoại biên

Khảo sát ĐCH trong bệnh ĐMNBCD

Bảng câu hỏi Rose được dùng để khảo sát dịch tễ học bệnh ĐMNBCD vào năm 1962 và đã

Trang 5

đuợc dùng rộng rãi Một số nghiên cứu trong

dân số cho thấy nó có độ nhậy trung bình và độ

đặc hiệu cao Chúng tôi cũng dùng bảng câu hỏi

Rose trong nghiên cứu này(1)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất

ĐCH ở bệnh nhân ĐTĐ là 10,9% Tần suất ĐCH

phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán và đặc

điểm của dân số nghiên cứu Do đó, chúng tôi

không so sánh các tần suất này với nhau Tần

suất ĐCH trong dân số chung thay đổi tùy theo

các nghiên cứu, từ 1,2% - 7,4%(7)(Bảng 8)

Bảng 8: Tần suất ĐCH trong một số nghiên cứu

ĐCH (%)

2,2 1,2

4,6 4,6

Tần suất ĐCH trong dân số ĐTĐ cao hơn so

với nhóm không ĐTĐ Uusitupa và cộng sự ghi

nhận tần suất ĐCH cao hơn có ý nghĩa ở người

nam trung niên có ĐTĐ so với không ĐTĐ

(20,3% so với 8%)(4)

Có nhiều nghiên cứu so sánh triệu chứng

lâm sàng - như ĐCH, mất mạch ngoại biên ở chi,

thay đổi màu sắc da… - với các phương pháp

chẩn đoán bệnh ĐMNBCD không xâm lấn và

nhận thấy rằng chẩn đoán chỉ dựa vào triệu

chứng lâm sàng có những hạn chế của nó

Trong các nghiên cứu so sánh ĐCH Rose với

chụp X-quang mạch máu có cản quang, có 2/3

trường hợp có hẹp ĐM trên X-quang nhưng

không có ĐCH(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, so với siêu

âm duplex trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD,

ĐCH Rose có độ nhậy thấp và độ đặc hiệu cao:

63,6% và 98%

Các nghiên cứu trên đều chứng tỏ ĐCH

Rose có độ đặc hiệu cao, nhưng độ nhậy thấp

Vì vậy, tuy ĐCH có độ đặc hiệu cao nhưng

độ nhậy thấp nên không thể chỉ dùng ĐCH để

tầm soát bệnh ĐMNBCD mà cần phải phối hợp

với các phương pháp khác nữa

ĐCH với các yếu tố liên quan

Trong các nghiên cứu trước, ĐCH tăng theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ Trong nghiên cứu Framingham, bệnh ĐTĐ càng lâu thì tỉ lệ ĐCH càng tăng, có 8,8% bệnh nhân ĐCH ở những bệnh nhân ĐTĐ 16 năm so với nhóm chứng là 2%, những người được chẩn đoán ĐTĐ mới(4) Trong Nghiên cứu Tim mạch Quebec, 4570 nam được theo dõi trong 12 năm, từ

1974-1986, tỉ lệ ĐCH tăng hàng năm là 0,41% ĐCH tăng theo tuổi bệnh nhân Và người có ĐCH

có tuổi lớn hơn, có tỉ lệ hút thuốc lá, cao HA

và ĐTĐ cao hơn Không có mối liên quan có ý nghĩa giữa ĐCH với cholesterol máu, trọng lượng cơ thể

Trong nghiên cứu Framingham, theo dõi trong 36 năm, ĐCH tăng thêm 381 trường hợp Tuổi, giới tính, cholesterol máu, cao HA và ĐTĐ

có mối liên quan với ĐCH

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số lượng bệnh nhân bị ĐCH nhỏ, nên không thể tìm được mối liên hệ giữa ĐCH và những yếu tố đã nêu trên (Bảng 2 & 3)

Khám thực thể trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD

So với siêu âm duplex trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD, bất thường mạch ngoại biên

và bất thường da chi dưới có độ nhậy thấp và

độ đặc hiệu cao: lần lượt 68% và 88,9%; 77,3%

và 97,8% (Bảng 3)

Trong một số trường hợp, mạch bàn chân -

ĐM mu chân và mạch chầy sau - không sờ thấy được

Không sờ thấy mạch mu chân có thể là một bất thường bẩm sinh, khoảng 12% - 27%, hoặc

do nó nằm sai vị trí

Do vôi hóa thành ĐM, thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ Do thành ĐM bị xơ cứng, có thể không bắt được mạch nhưng máu vẫn lưu thông được

Do phù tại chỗ, làm mạch khó bắt được

Có những trường hợp mạch rõ, nhưng thực

ra đã có tắc mạch một phần đáng kể Tình trạng

Trang 6

này xảy ra trong trường hợp ĐM còn đàn hồi tốt

và HA hệ thống lúc này cao

Do đó, tuy bắt mạch là không thể thiếu được

trong khám lâm sàng, nhưng cần chú ý những

trường hợp âm tính giả, dương tính giả

Việc kết hợp triệu chứng cơ năng và thực thể

làm tăng độ nhậy cảm nhưng lại giảm độ đặc

hiệu của triệu chứng lâm sàng đi

Vai trò ABI trong chẩn đoán bệnh

ĐMNBCD ở bệnh nhân đái tháo đường

ABI là một phương pháp chẩn đoán không

xâm lấn, khảo sát dựa trên huyết động, và có

tính gọn nhẹ, lập lại nhiều lần được và rẻ tiền,

nên nhiều nghiên cứu sử dụng để ước lượng tần

suất bệnh ĐMNBCD

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ABI được

đo lúc nghỉ để đánh giá tình trạng bệnh

ĐMNBCD Trong một số nghiên cứu, ABI được

đo trong lúc vận động Hiatt kết luận rằng cách

đo này không có ưu điểm hơn như đo ABI lúc

nghỉ Tuy vậy, trong một số nghiên cứu khác, ở

bệnh nhân có tắc ĐM mức độ nhẹ, ABI có thể

bình thường lúc nghỉ vì tuần hoàn bàng hệ

quanh mạch tắc còn đủ Ở những bệnh nhân

này, ABI đo lúc vận động là cần thiết; Tuy

nhiên, đo ABI lúc vận động sẽ phức tạp hơn và

tốn nhiều thời gian hơn(3)

Nhóm bệnh chứng

Trung bình ABI của nhóm chứng trong

nghiên cứu của chúng tôi là 1,053 ± 0,12 Không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ABI giữa

nam và nữ Kết quả này phù hợp với lý thuyết

và những nghiên cứu khác(13,14,16) (Bảng 9)

Bảng 9: ABI trong một số nghiên cứu

Trần Hồng Nghị, Daniel

Benchimol & Jacques Bonnet

Giá trị ngưỡng ABI khác nhau góp phần làm cho tỉ lệ bệnh ĐMNBCD khác nhau giữa các nghiên cứu Lý do khác gây ra khác biệt giữa các

tỉ lệ này là do sự phân bố khác nhau về tuổi, giới của dân số nghiên cứu

Trong hầu hết các nghiên cứu, người ta thấy

có mối liên quan giữa ABI thấp với tăng nguy

cơ bệnh tim mạch, bao gồm bệnh gây tử vong và không gây tử vong Trong dân số chung, nó là yếu tố nguy cơ độc lập với tuổi, giới, cơn đau thắc ngực, nhồi máu cơ tim và ĐTĐ Ngoài ra, ABI ≤ 0,9 có giá trị tiên đoán bệnh tim mạch mạnh hơn so với ABI lớn hơn Trong một nghiên cứu của Fowkes, với những người ABI ≤ 0,9 tăng có ý nghĩa nguy cơ tử vong Hậu quả diễn tiến bệnh tim mạch nặng nề hơn ở nhóm có ABI ≤ 0,7 so với nhóm có ABI ≤ 0,9, nó phản ảnh mức độ xơ vữa ĐM nặng hơn ở những người có ABI thấp hơn

Với mục đích tầm soát bệnh - ngoài mục đích chẩn đoán bệnh ĐMNBCD - giá trị ngưỡng ABI < 0,9 được dùng rộng rãi để xác định bệnh tim mạch trong giai đoạn sớm, giai đoạn tiềm ẩn, khi chưa có triệu chứng lâm sàng Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi cũng dùng ngưỡng ABI < 0,9 vì những ích lợi của nó như phân tích đã nêu

ABI trong khảo sát đau cách hồi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong số những chi có ABI bình thường, có một số nhỏ (3,7%) có ĐCH Chứng tỏ có những trường hợp giả ĐCH như bệnh tĩnh mạch, bệnh thần kinh ngoại biên chi dưới.ĐCH có độ nhậy thấp, có thể giải thích:

Bệnh ĐMNBCD phải đủ nặng đến một mức

độ nào đó mới gây ĐCH

Triệu chứng này phụ thuộc vào mức độ thành lập tuần hoàn bàng hệ và mức độ thành lập tuần hoàn bàng hệ lại phụ thuộc thời gian diễn tiến bệnh và tùy từng người

Các bệnh lý thần kinh ở người ĐTĐ ảnh hưởng đến kiểu ĐCH, làm bệnh cảnh lâm sàng cũng thay đổi.Một số có biến chứng thần kinh,

Trang 7

gây yếu hai chi dưới, nên vận động chi không

đủ để gây ĐCH(12)

ABI trung bình ở những bệnh nhân ĐCH

trong nghiên cứu của chúng tôi giảm thấy rõ

(ABI = 0,621) và kèm với biểu hiện bất thường

rõ trên lâm sàng, cho thấy bệnh đã ở giai đoạn

trễ Do đó, triệu chứng ĐCH không phản ảnh

được nhóm bệnh ĐMNBCD nhẹ và cũng

không phản ảnh được tỉ lệ bệnh ĐMNBCD

thật sự Vì vậy, không thể dùng ĐCH để tầm

soát bệnh ĐMNBCD

Áp dụng ABI trong khám thực thể bệnh

ĐMNBCD

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một sự

không phù hợp đáng kể giữa khám thực thể với

ABI và siêu âm duplex ABI tỏ ra khắc phục

được những hạn chế này của khám lâm sàng

Các nghiên cứu trước chứng tỏ rằng trong

chẩn đoán bệnh ĐMNBCD, ABI có độ đặc hiệu

cao khi so với chụp mạch máu có cản quang là

tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh Các nghiên

cứu trước cũng cho thấy độ nhậy của ABI cao

trong dân số chung, nhưng trong dân số ĐTĐ,

độ nhậy chỉ số này có thể giảm do hiện tượng

vôi hóa thành ĐM, làm chỉ số này bình thường

trong khi thật sự có bệnh ĐMNBCD

Từ đó cho thấy khám thực thể có phần hạn

chế của nó Vì vậy, tuy bắt mạch và khám lâm

sàng là không thể thiếu, nhưng kết hợp thêm

ABI trong khám lâm sàng làm tăng thêm khả

năng chẩn đoán bệnh ĐMNBCD

Áp dụng ABI trong chẩn đoán bệnh

ĐMNBCD có những ưu điểm riêng của nó so

với chỉ khám lâm sàng đơn thuần:

Khẳng định ngay có bệnh ĐMNBCD ở

người có ĐCH mà mạch mu chân hoặc chầy sau

vẫn còn bắt được(17)

Giúp xác định mức độ nặng của bệnh

Và điều đáng nói hơn cả, đây là một kỹ

thuật đơn giản, dễ thực hiện, an toàn, khách

quan, rẻ tiền, có thể thực hiện tại ngay giường

bệnh và ở các tuyến y tế cơ sở

Từ những phân tích trên, chúng tôi thấy rằng ABI nên được áp dụng thường quy trong thăm khám lâm sàng ban đầu Nó giúp phát hiện thêm nhiều trường hợp bệnh ĐMNBCD nhẹ không có triệu chứng lâm sàng Kết hợp ABI với khám lâm sàng sẽ hỗ trợ nhau trong chẩn đoán, khắc phục những hạn chế của nhau

KẾT LUẬN

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp trong chẩn đoán bệnh ĐMNBCD - như ĐCH, mất mạch ngoại biên chi dưới, bất thường màu sắc

da chi dưới - có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhậy thấp: lần lượt 98%; 88,9%; 97,8% và 63,6%; 68%; 77,3% (với siêu âm duplex làm tiêu chuẩn vàng) ABI trung bình nhóm chứng (không ĐTĐ): 1,053 Nhóm bệnh nhân ĐTĐ điều trị nội trú: ABI trung bình là 1,016; Tần suất bệnh ĐMNBCD ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ chẩn đoán theo tiêu chuẩn ABI là 22,8% và ĐCH là 10,9%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cook JP et al (1995) “Medical Management of Peripheral

Arterial Occlusive Disease” Lower Extremity Vascular Disease

2 Creager MA., O’Leary DH., Doubilet PM (1996) “Noninvasive

vascular testing Vascular Medicine”, 2th Ed, p 415-443

3 Hiatt WR, Hoag S; Hamman RF (1988) “Effect of Diagnostic Criteria on the Prevalance of Peripheral Arterial Disease: The

San Luis Valley Diabetes Study”, Circulation

4 Levin ME., Sicard G (1990” “Peripheral Vascular Disease in the

Person with Diabetes”, Diabetes Mellitus - Theory and Practice 4th

Edition

5 Mai Thế Trạch, Nguyễn Thy Khuê (2003) Bệnh đái tháo đường

“Nội tiết học đại cương” 2th Ed p 335-338, 2003

6 McDaniel MD, Cronenwett JL (1998) “Basis Data Underlying

History of Intermittent Claudication”, Ann Vasc Surgery 2:1

7 Meijer WT., Hoes AW., Rutgers D; Bots ML., Hofman A, Grobbee DE (1998) “Peripheral Arterial Disease in the Elderly -

The Rotterdam Study” Arteriosclerosis, Thrombosis, and Vascular

Biology.18:185-192 American Heart Association

8 Morris P.J (1996) Peripheral arterial disease “The Oxford’s

Texbook of Medicine”, Chap 15.11

9 Nguyễn Thy Khuê (1998) “Nhận xét về một số trường hợp nhiễm trùng trên bệnh nhân đái tháo đường tại Khoa Nội Tiết

Bệnh Viện Chợ Rẩy” Y học thành phố Hồ chí Minh Tập 2, số 1

13-20

10 Premalatha G, Markovitz J, Shanthirani S, Deepa R, Mohan V (2000) “Prevalence and Risk Factors of Peripheral Vascular Disease in a Selected South Indian Population”, The Chennai

Urban Population Study Diabetes Care 23: 1295-1300

11 Strandness E.D, Jr (1987) “Vascular Disease of the Extremities”,

Harrison’s Principales of Internal Medicine 11st Ed

12 Summer DS (1995) Essential Hemodynamic Principles Vascular

Surgery 4th Ed

Trang 8

13 Thái hán Vinh, BS (2000) “Khảo sát chỉ số giữa HA tâm thu cổ

chân trên HA tâm thu cánh tay bằng kỹ thuật Doppler trên bệnh

nhân ĐTĐ” Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

14 Trần Hồng Nghị, Daniel Benchimol, Jacques Bonnet (2004)

“Đánh giá hiệu lực của một phương pháp mới xác định chỉ số

huyết áp tâm thu mắt cá chân - cánh tay bằng máy đo huyết áp

tự động để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới” Kỷ Yếu Toàn

Văn Các Đề Tài Khoa Học 2004 – Hội Tim Mạch Quốc Gia Việt

Nam

15 Uusitupa M, Niskanen L, Siitonen O, Voutilainen E, Pyorala K (1990) “5-year incidence of atherosclerotic vascular disease in relation to general risk factors, insulin level, and abnormalities in lipoprotein composition in non-insulin-dependent diabetic and

nondiabetic subjects”, Circulation 82:27-36,

16 Võ thị Dễ (1999) “Khảo sát ABI ở người Việt Nam bình thường”, Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

17 Yao JST, Pearce WH (2006) The Use of Noninvasive Test in

Peripheral Vascular Disease Modern Vascular Surgery Vol 4.4

Ngày đăng: 23/01/2020, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w