Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát các yếu tố nguy cơ gây hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại bệnh viện Đa khoa Tiền Giang. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.
Trang 1TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TIỀN GIANG
Nguyễn Thị Ngọc Tiến, Tạ Văn Trầm
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tai biến hạ đường huyết (HĐH) không chỉ ảnh hưởng sức khỏe mà còn tăng chi phí điều trị,
dẫn đến các tác động tiêu cực.
Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố nguy cơ gây HĐH trên bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) đang điều trị tại
bệnh viện Đa khoa Tiền Giang.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Kết quả: 55,2% phối hợp 2 thuốc ĐTĐ, insulin và nhóm Sulfonylurea chiếm tỉ lệ cao (46,1%, 44,7%).
Glimepiride có tỉ lệ HĐH cao nhất (25%). Tỷ lệ tương tác thuốc khá cao là 32,9% theo trang Drugs.com với 91,5% tương tác mức độ trung bình và 11,8% theo phần mềm Facts & Comparisons 4.0, với 100% tương tác mức độ 2. Cặp thuốc tương tác xuất hiện nhiều và gây nguy cơ HĐH cao là giữa Insulin và Aspirin. Có 8 yếu tố gây HĐH trong nhóm nghiên cứu là ăn ít, bỏ bữa, lấy sai liều thuốc, tăng liều thuốc, tiêu chảy, chích insulin sai giờ, uống rượu và do vận động thể lực quá mức.
Kết luận: Có nhiều yếu tố nguy cơ gây HĐH.
Từ khóa: Yếu tố nguy cơ, hạ đường huyết, đái tháo đường.
ABSTRACT
SURVEY RISK FACTORS OF HYPOGLYCEMIA IN DIABETIC PATIENT IN TIEN GIANG GENERAL
HOSPITAL
Nguyen Thi Ngoc Tien, Ta Van Tram
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 67 ‐ 74
Background: Hypoglycemia is not only affects health but also increase the cost of treatment, leading to a
negative impact.
Objective: Investigation of risk factors of hypoglycemia in diabetic patients is being treated in Tien Giang
hospital
Methods: Descriptive cross‐sectional study.
Results: 55.2% coordination two diabetes medication, insulin and sulfonylurea groups accounted for a high
proportion (46.1%, 44.7%). Glimepiride has the highest rate of hypoglycemia (25%). The rate of drug‐drug interactions is quite high with 32.9% to 91.5% according to Drugs.com site interactive medium level and 11.8% under Facts & Comparisons 4.0 software, with 100% interactive level 2. Pair drug interactions appear more and higher risk of hypoglycemia is between insulin and aspirin. There are 8 factors of hypoglycemia in the team is eating less, skipping meals, taking wrong dose, dose increase, diarrhea, insulin wrong time, drinking and physical activity by excess.
Conclusion: There are many risk factors of hypoglycemia
Keywords: Risk factors, hypoglycemia, diabetes
* Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang ** Sở Y tế Tiền Giang
Trang 2Bệnh ĐTĐ là một thách thức lớn đối với y
học cũng như cho cộng đồng do số lượng người
mắc bệnh ngày càng tăng nhanh và những biến
chứng nặng nề kèm theo. Theo Liên đoàn ĐTĐ
Thế giới (IDF: International Diabetes Federation)
năm 2013, thế giới hiện có khoảng 382 triệu
người mắc bệnh ĐTĐ (8,3% dân số), đã tăng gấp
3 lần so với năm 2010 và dự kiến đến năm 2035
sẽ tăng lên 55% đạt đến số người mắc bệnh ĐTĐ
là 592 triệu người (10,1%). Gánh nặng do bệnh
ĐTĐ gây ra ngày một tăng, đặc biệt là ở các
nước có thu nhập thấp và trung bình, cứ 4 trong
5 người mắc bệnh thì thuộc những quốc gia này
và Việt Nam là một trong những nước đó(4).
Tại Việt Nam, bệnh viện Nội tiết Trung ương
đã công bố tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng gấp 2 lần
trong 10 năm qua (năm 2002 là 2,7% đến 2012 là
5,78%). Đây là con số đáng báo động vì theo xu
hướng chung tỉ lệ này cần phải mất 15 năm mới
tăng gấp đôi(5). ĐTĐ trong giới y học gọi là “kẻ
giết người thầm lặng” do diễn tiến bệnh thường
âm ỉ, chỉ được phát hiện khi xuất hiện các biến
chứng trên thần kinh, tim mạch và thị giác. Y
học ngày nay đã tạo ra được nhiều nhóm thuốc
điều trị mang lại hiệu quả đáng khích lệ. Tuy
nhiên, vẫn còn một số vấn đề đáng để chúng ta
quan tâm, đặc biệt là tai biến HĐH với các triệu
chứng run tay chân, vã mồ hôi, trầm trọng hơn
là hôn mê hay tử vong. Theo nghiên cứu Accord,
sự xuất hiện HĐH nặng là một trong những yếu
tố dự báo mạnh nhất của tai biến tim mạch.
Như vậy, tai biến HĐH không chỉ ảnh
hưởng sức khỏe mà còn tăng chi phí điều trị,
tăng gánh nặng cho bệnh nhân, gia đình, tạo
cảm giác căng thẳng. Từ đó dễ dẫn đến các tác
động tiêu cực trong quản lý, điều trị ĐTĐ khiến
bệnh nhân không tuân thủ điều trị và sự miễn
cưỡng tăng cường điều trị ở các nhân viên y tế.
Nhằm mục đích hỗ trợ cho việc điều trị bệnh
ĐTĐ đạt hiệu quả cao, an toàn và hạn chế đến
mức thấp nhất tai biến HĐH mà căn bệnh này có
thể gây ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với
đề tài: “Khảo sát các yếu tố nguy cơ gây HĐH trên
bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị tại bệnh viện Đa khoa Tiền Giang”.
Mục tiêu nghiên cứu ‐ Phân tích tình hình sử dụng thuốc và các
tương tác thuốc làm tăng khả năng xảy ra tình
trạng HĐH.
‐ Xác định tỉ lệ các yếu tố nguy cơ gây HĐH ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số chọn mẫu
Bệnh nhân ĐTĐ bị HĐH vào khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang từ ngày 20/8/2013 đến ngày 1/7/2014.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
‐ Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo các tiêu chuẩn ADA 2013.
‐ Bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị ngoại trú bằng thuốc uống đơn thuần hoặc thuốc chích đơn thuần hay phối hợp cả hai, bị tình trạng HĐH phải nhập viện.
‐ Xét nghiệm máu với kết quả đường huyết lúc nhập viện nhỏ hơn 70mg/dl và có hay không
có kèm theo triệu chứng HĐH.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân HĐH nhưng không mắc bệnh ĐTĐ; bệnh nhân ĐTĐ không dùng thuốc điều trị; bệnh nhân đang điều trị nội trú bị HĐH.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Xử lý và phân tích số liệu Phần mềm SPSS 16.0.
KẾT QUẢ Tình hình sử dụng thuốc
Các loại thuốc điều trị Bảng 1‐ Tần suất sử dụng các loại thuốc
Số loại thuốc Số lượng Tỉ lệ (%)
Trang 3Số loại thuốc Số lượng Tỉ lệ (%)
Tình hình điều trị bệnh ĐTĐ
Bảng 2‐ Đặc điểm về điều trị ĐTĐ
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%)
Phân liều thuốc
Thuốc điều trị ĐTĐ
Bảng 3‐ Chế độ điều trị ĐTĐ
Chế độ Số lượng Tỉ lệ (%)
Bảng 4‐Phối hợp giữa các thuốc HĐH
Thuốc sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%)
Thuốc sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%)
Bảng 5‐ Thuốc ĐTĐ được sử dụng và liều lượng
Nhóm thuốc Số lượng Tỉ lệ % Viên, UI/kg/ngày Trung vị
[min-max]
Tương tác thuốc
Số tương tác trên một bệnh nhân Bảng 6‐ Số lượng tương tác thuốc
Drugs.com Facts & Comparisons
Số tương tác Tần số Tỉ lệ (%) Số tương tác Tần số Tỉ lệ (%)
Tương tác thuốc theo từng mức độ Bảng 7‐ Cặp tương tác làm tăng tác dụng HĐH theo
mức độ tương tác
Drugs.com Facts & Comparisons Mức tương
tác Tần số Tỉ lệ (%) Mức tương tác Tần số Tỉ lệ (%)
Tổng số
Tổng số
Bảng 8‐ Cặp tương tác thuốc làm tăng tác dụng
HĐH ở mức độ nhẹ (theo Drugs.com)
Phối hợp Tần số Tỉ lệ (%)
Bảng 9‐ Các tương tác thuốc làm tăng tác dụng
HĐH ở mức độ trung bình (theo Drugs.com)
Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)
Trang 4Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)
Bảng 10‐ Các tương tác thuốc làm tăng tác dụng
HĐH ở mức độ 2 (theo Facts & Comparisons)
Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)
Các yếu tố nguy cơ gây HĐH
Bảng 11‐ Các yếu tố nguy cơ gây HĐH
Yếu tố Số lượng Tỉ lệ (%)
BÀN LUẬN
Tình hình sử dụng thuốc
Các loại thuốc điều trị
Trung bình mỗi bệnh nhân được chỉ định 5
loại thuốc, ít nhất là 2 loại và nhiều nhất là 8 loại.
Trường hợp bệnh nhân phải dùng 5 loại thuốc
điều trị mỗi ngày là chiếm tỉ lệ cao nhất với
34,2%. Nguyên nhân bệnh nhân phải dùng
nhiều loại thuốc vì đối tượng phần lớn là người
cao tuổi nên có nhiều bệnh kèm theo. Bởi vậy,
nguy cơ bệnh nhân gặp tương tác thuốc trong
đơn là khá cao. Vấn đề tương tác không những
ảnh hưởng đến hiệu quả trị liệu mà còn có khả
năng gây ra nguy cơ HĐH vì tương tác thuốc
làm tăng tác dụng HĐH của thuốc điều trị ĐTĐ.
Vì thế, trong điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ, nhất là
đối với bệnh nhân có nhiều bệnh đi kèm, thì cần
lưu ý nguy cơ HĐH do tương tác khi phối hợp
nhiều thuốc.
Tình hình điều trị ĐTĐ
Sự tuân thủ điều trị: Bệnh nhân trong nghiên
cứu có sự tuân thủ điều trị khá tốt với 90,8% có tham gia điều trị liên tục. Kết quả sự tuân thủ điều trị phù hợp với giá trị mức đường huyết lúc đói trung bình và HbA1c trung bình được đo gần lúc xảy ra HĐH nhất, lần lượt là 137,6 mg/dl
và 7,1%.
Chỉ định thuốc: Phần lớn các toa thuốc mà
bệnh nhân sử dụng là do được bác sĩ chỉ định nhưng cũng có 17,1% trường hợp bệnh nhân tự
ý mua theo sự giới thiệu của người quen và 15,2% bệnh nhân tự dùng thêm các loại thuốc nam. Vì thuốc do bệnh nhân tự mua nên thường
sẽ không đúng với tình trạng bệnh và có khả năng dùng quá liều do thiếu chỉ dẫn về liều lượng và cách dùng từ bác sĩ. Vì vậy những đối tượng này thường có nguy cơ HĐH cao. Điều này nên được giải thích cho bệnh nhân hiểu để bệnh nhân có tuân thủ điều trị tốt hơn. Bên cạnh
đó có 9,2% bệnh nhân tự dùng thêm thuốc cặp tiểu đường của Trung Quốc. Thuốc này có chứa Glibenclamid và thành phần bị cấm lưu hành là Phenformin. Việc sử dụng Phenformin kéo dài làm bệnh nhân có thể bị suy thận và hôn mê do nhiễm acid lactic. Đối với những bệnh nhân đã
bị suy thận, việc dùng thuốc sẽ làm cho tình trạng suy thận xảy ra nặng hơn. Ngoài ra do việc
tự ý dùng thêm thuốc cặp cùng với thuốc điều trị chính nên không tránh khỏi tình trạng đường huyết hạ quá mức. Điều này sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân nên cần thiết có sự cảnh báo để bệnh nhân phòng tránh.
Phân liều thuốc uống, thuốc tiêm: Trong việc
phân chia liều thuốc mỗi ngày, phần lớn là do bệnh nhân và người nhà thực hiện với tỉ lệ lần lượt là 50%, 43,4%. Vì người thực hiện thao tác phân liều thuốc ngoài đối tượng sử dụng trực tiếp là bệnh nhân thì người nhà bệnh nhân cũng
có vai trò quyết định trong việc bệnh nhân sử dụng đúng thuốc và đúng liều nên việc tư vấn
Trang 5cần thiết áp dụng cho cả đối tượng người nhà
bệnh nhân.
Các loại thuốc ĐTĐ sử dụng trong nhóm bệnh
nhân
Mỗi ngày bệnh nhân dùng trung bình 2
thuốc HĐH, ít nhất 1 loại và nhiều nhất là 3 loại.
Trong nhóm bệnh nhân dùng đơn trị, insulin
được sử dụng nhiều nhất với tỉ lệ là 19,7%. Chế
độ điều trị bệnh ĐTĐ thường gặp nhất là dạng
phối hợp từ 2 thuốc trở lên với 69,8%. Trong đó,
dạng phối hợp 2 thuốc nhiều hơn dạng phối hợp
3 thuốc với tỉ lệ lần lượt là 55,2% và 14,6%. Hai
nhóm thuốc thường được dùng chung là nhóm
Biguanid và nhóm Sulfonylurea với tỉ lệ là
26,1%, trong đó kết hợp nhiều nhất 15,7% là giữa
Metformin và Glimepiride. Tỉ lệ có phối hợp
thuốc thường cao bởi vì đa số bệnh nhân là bệnh
ĐTĐ typ 2 có thời gian mắc bệnh lâu năm nên
cần phải kết hợp thuốc để ổn định đường huyết.
Trong nhóm bệnh nhân bị HĐH, thuốc dạng
uống được sử dụng nhiều nhất là Metformin
53,9%, kế đến là Sulfonylurea 44,7%, Acarbose
27,6% và ít nhất là Pioglitazone 5,3%. Tỉ lệ này
cho thấy chế độ điều trị phù hợp với hướng dẫn
điều trị ĐTĐ của IDF 2013. Ngoài ra khi xem xét
số viên thuốc mỗi loại nhận thấy rằng liều lượng
dùng là tương đối cao vì thường đa số trường
hợp có kết hợp từ 2 thuốc trở lên. Có 44,7%
trường hợp bệnh nhân bị HĐH do dùng
Sulfonylurea, chiếm tỉ lệ cao, là do Sulfonylurea
vẫn kích thích tiết insulin từ tụy dù mức đường
huyết đang hạ thấp, điều này càng làm suy giảm
nặng hơn đáp ứng glucagon(1). Trong nhóm
Sulfonylurea thì Glimepiride là thuốc có tỉ lệ
HĐH cao với 25% trường hợp, nguyên nhân có
thể do thuốc có thời gian tác dụng kéo dài so với
những thuốc khác cùng nhóm nên nguy cơ
HĐH xảy ra cao hơn.
Tỉ lệ insulin trong dạng đơn chất hay phối
hợp là 46,1%. Như vậy cứ 2 bệnh nhân thì sẽ có 1
người phải sử dụng insulin, vì dạng thuốc tiêm
khó phân liều nên có nguy cơ là nhiều bệnh
nhân sẽ lấy sai liều dẫn đến HĐH. Liều insulin
trung bình 0,71 ± 0,2 UI/kg/ngày, do phần lớn
trường hợp insulin được dùng chung với thuốc dạng uống nên liều trung bình của insulin là tương đối cao. Trong trường hợp bệnh bệnh nhân có chế độ dinh dưỡng kém thì sẽ dễ xảy ra tình trạng HĐH hơn.
Kết quả tỉ lệ HĐH cao do insulin tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bích Phượng(8) là 37,5% hay tác giả Miller tiến hành trên1055 BN người Mỹ da đen bị ĐTĐ typ 2 thì tỉ
lệ là 30%(7). Nguyên nhân HĐH thường gặp ở bệnh nhân dùng insulin do trong cơ thể bệnh nhân mất đi cơ chế bảo vệ. Khi tụy giảm tiết insulin, insulin từ vị trí tiêm sẽ vào máu và nồng
độ trong máu không chịu ảnh hưởng của các yếu tố điều hòa nội sinh trong cơ thể. Do đó insulin trong máu sẽ không giảm khi đường huyết giảm và HĐH sẽ dễ xảy ra hơn. Như vậy, đối tượng bệnh nhân ĐTĐ typ 1, typ 2 có dùng insulin nên được chú ý hơn về nguy cơ HĐH.
Tương tác thuốc
Số tương tác trên một bệnh nhân: Vì phần lớn
bệnh nhân trong nghiên cứu ngoài mắc bệnh ĐTĐ thì có kèm theo những bệnh khác như cao huyết áp, rối loạn lipid, bệnh tim mạch… nên có nhiều nguy cơ xảy ra tương tác giữa các thuốc. Trong nghiên cứu này chỉ xét đến cặp thuốc tương tác làm tăng tác dụng HĐH của thuốc ĐTĐ, số lượng tương tác thuốc trên một bệnh nhân càng cao thì nguy cơ HĐH trên bệnh nhân
sẽ càng lớn.
Tỉ lệ tương tác thuốc làm tăng tác dụng HĐH:
Theo trang Drugs.com, có 32,9% toa thuốc xảy ra tương tác. Trong đó tương tác mức độ trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất là 91,5%. Còn theo trang Facts & Comparisons 4.0, tỉ lệ toa thuốc có xảy ra tương tác là 11,8% và 100% trường hợp xảy ra ở mức 2‐ là mức tương tác làm nặng hơn tình trạng bệnh nhân. Tỉ lệ tương tác làm tăng tác dụng của thuốc ĐTĐ trong phần mềm FC 4.0 xảy ra ít hơn so với kết quả của trang web Drugs.com. Nguyên nhân số lượng cặp thuốc giảm đi vì theo FC không xảy ra tương tác giữa nhóm chẹn Beta với Insulin, SU, Metformin, giữa nhóm ACEI với Insulin, Metformin, giữa nhóm
Trang 6lượng thuốc có tương tác làm tăng tác dụng với
thuốc ĐTĐ trong toa thuốc càng nhiều, thì nguy
cơ xảy ra tình trạng HĐH càng cao, nhất là ở
những bệnh nhân có kèm thêm việc dùng sai
liều thuốc hay có chế độ ăn uống kém.
Các cặp tương tác thuốc làm tăng tác dụng HĐH
ở mức độ nhẹ (theo Drugs.com): Cặp thuốc có
tương tác ở mức độ nhẹ theo trang web
Drugs.com là giữa Glimepiride và Clopidogrel,
dùng trong trường hợp dự phòng biến cố huyết
khối do xơ vữa ở bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ
tim, đột quỵ thiếu máu cục bộ. Do Clopidogrel
ức chế Cyp 450 2C9 nên giảm chuyển hóa
Glimepiride và làm tăng nồng độ của thuốc này
trong máu, gây tăng nguy cơ HĐH.
Các cặp tương tác làm tăng tác dụng HĐH ở
mức độ trung bình (theo Drugs.com): Theo trang
Drugs.com, tương tác mức độ trung bình chiếm
tỉ lệ cao nhất là dùng Aspirin dự phòng huyết
khối cho bệnh nhân tiêm insulin. Tỉ lệ tương tác
này là 21,8%. Aspirin làm tăng nồng độ insulin
trong máu nên dễ xảy ra tình trạng HĐH ở bệnh
nhân có sử dụng phối hợp 2 thuốc này với nhau.
Chúng ta có thể can thiệp làm giảm tương tác
bằng cách xem xét thay thế thuốc khác có tác
động chống huyết khối nhưng ít ảnh hưởng hơn
đến tác dụng HĐH của insulin hoặc điều chỉnh
liều insulin.
Các cặp tương tác thuốc làm tăng tác dụng
HĐH ở mức độ 2 (theo Facts & Comparisons): Tỉ
lệ tương tác ở mức độ 2 theo phần mềm FC
cao nhất là giữa insulin và Aspirin, kế đến là
Sulfonylurea và ACEI, thấp nhất là
Sulfornylurea và Aspirin với tỉ lệ lần lượt 70%,
20%, 10%. Kết quả này cũng tương tự với kết
quả tương tác mức trung bình của trang
Drugs.com. Như vậy qua 2 kết quả của phần
mềm FC và trang Drugs.com có thể thấy rằng
tương tác có tần suất xuất hiện nhiều và gây
nguy cơ HĐH cao trong các toa thuốc của
nhóm bệnh nhân nghiên cứu là giữa Insulin và
Aspirin. Điều này cần được lưu ý khi chỉ định
thuốc cho bệnh nhân ĐTĐ có kèm theo bệnh mạch vành (đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim).
Các yếu tố nguy cơ gây HĐH
Tập thể dục
Vận động quá mức trong 24 giờ trước khi nhập viện chiếm tỉ lệ thấp nhất là 2,6%, tương ứng với 2 trường hợp xảy ra. Nguyên nhân chiếm tỉ lệ ít do phần lớn bệnh nhân lớn tuổi, mất sức lao động và ít có thói quen tập thể dục hằng ngày. Trong nghiên cứu với đối tượng bệnh nhân cao tuổi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Đỗ Kim Phượng(2) hay tác giả Hồ Đắc Phương(3) thì kết quả là không ghi nhận trường hợp nào xảy ra do yếu tố vận động quá mức. Điều này có thể giải thích là mặc dù đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình gần giống nhau là những người lớn tuổi mất sức lao động nhưng do đặc điểm nơi cư trú khác nên mức độ vận động cũng sẽ khác nhau ít nhiều. Do tập thể dục tăng sự nhạy cảm của insulin nên khi tập với cường độ mạnh thì nguy cơ xảy ra HĐH sẽ tăng lên(10).
Để hạn chế nguy cơ HĐH do vận động quá mức thì bệnh nhân có thể dùng máy thử để kiểm tra đường huyết vào thời điểm trước tập thể dục (nếu đường huyết thấp hơn 100 mg/dl, thì bệnh nhân nên ăn nhẹ trước khi tập) và khi tập quá 30 phút phải ăn thêm 10‐20g glucid(9).
Uống rượu
Uống rượu sẽ ngăn tiết glucose nội sinh và làm giảm nhận thức HĐH, thậm chí ở nồng độ thấp(11). Vì vậy, các trường hợp xảy ra do rượu đều nhập viện ở tình trạng nặng là hôn mê, do bệnh nhân và người nhà nhằm lẫn triệu chứng báo hiệu HĐH như yếu cơ, run, mờ mắt, lú lẫn với tình trạng say rượu. Ngoài ra, uống rượu thường dẫn đến khả năng bệnh nhân ăn ít hay
bỏ bữa. Điều này càng làm cho tình trạng HĐH xảy ra trầm trọng hơn, gây nguy hiểm cho bệnh nhân nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời. Do đó, dù nguyên nhân uống rượu chỉ chiếm tỉ lệ thấp 5,3% nhưng lại gây HĐH nặng
Trang 7về vấn đề này.
Ăn kém, bỏ bữa
Nguyên nhân ăn kém, bỏ bữa có tỉ lệ 31,5%
và 18,4%. Đây là 2 nguyên nhân gây HĐH có tỉ
lệ cao nhất trong nghiên cứu này. So với các
nghiên cứu khác tiến hành trong nước của tác
giả Nguyễn Bích Phượng (1998)(8) 47,2%, tác giả
Đỗ Kim Phượng (2011)(2) là 39%; 14,6% thì kết
quả thu được đều cho thấy HĐH có nguyên
nhân chủ yếu là vẫn là vấn đề về dinh dưỡng
của bệnh nhân như ăn ít hay bỏ bữa. Điều này có
thể do bệnh nhân có bệnh kèm theo gây cảm
giác chán ăn, mệt mỏi như suy gan, suy thận,
cảm sốt, hay tuổi cao khiến bệnh nhân giảm cảm
giác thèm ăn và sức nhai giảm cũng gây cản trở
việc ăn uống. Bên cạnh đó, một phần do ý thức
về việc cần phải ăn đủ bữa, đủ chất, ăn đủ năng
lượng trong một ngày để không bị HĐH thì vẫn
chưa được bệnh nhân nhìn nhận và quan tâm
đúng mức. Thực trạng này chưa được cải thiện
nhiều theo thời gian vì các nghiên cứu trước đây
vẫn có kết quả tương tự. Nguyên nhân có thể do
số lượng bệnh nhân đông kèm thời gian khám
chữa bệnh ít gây khó khăn cho nhân viên y tế
trong việc hỗ trợ tư vấn cho bệnh nhân. Ngoài
ra, do không có đầy đủ đội ngũ bác sĩ chuyên gia
về dinh dưỡng nên bác sĩ điều trị còn phải thực
hiện kèm nhiệm vụ tư vấn cho bệnh nhân. Các
bệnh viện nước ngoài do có đội ngũ bác sĩ điều
trị ĐTĐ bao gồm bác sĩ điều trị và chuyên gia
dinh dưỡng nên trong kết quả nghiên cứu như
của tác giả Christopher D.Miller(7), Muzaffar
A.Shaik(6) thì nguyên nhân ăn ít, bỏ bữa gây
HĐH lại chiếm tỉ lệ ít hơn. Bên cạnh đó, các vấn
đề về trình độ văn hóa, tuổi tác, nơi cư trú cũng
khiến cho bệnh nhân khó tiếp cận kiến thức
bệnh từ các nguồn thông tin như sách báo, tivi
hay câu lạc bộ bệnh nhân ĐTĐ.
Thuốc điều trị
Lấy sai liều thuốc
Có 10 trường hợp xảy ra HĐH do bệnh nhân
lấy sai liều, chiếm tỉ lệ 13,2%. Liều lượng thuốc
thường bị lấy sai vì các nguyên nhân như bệnh nhân lớn tuổi kèm với thị lực kém do bệnh đục thủy tinh thể hay tổn thương đáy mắt nên việc rút thuốc insulin từ ống tiêm có vạch chia nhỏ rất khó khăn, có trường hợp bệnh nhân lấy dư hơn 10 đơn vị thuốc. Đối với thuốc dạng viên do cùng lúc phải dùng chung nhiều loại thuốc khác nên dễ xảy ra tình trạng bệnh nhân lầm lẫn giữa các thuốc do hình dạng, màu sắc tương tự nhau
và dẫn đến bệnh nhân dùng dư liều thuốc.
Chích insulin sai giờ: Có 5 trường hợp bệnh
nhân chích insulin sai giờ, do bệnh nhân bận rộn công việc hay bệnh nhân lớn tuổi nên quên không chích thuốc và đã chích bù vào thời điểm khác, cách xa bữa ăn, lúc đường huyết đã
hạ. Tình trạng này có thể khắc phục bằng cách trên toa thuốc nhân viên y tế ghi rõ thời gian chích kèm theo việc nhắc nhở người nhà lưu ý đến việc chích thuốc của bệnh nhân, nhất là với đối tượng người lớn tuổi, trí nhớ không còn minh mẫn.
Tăng liều thuốc: Nguyên nhân HĐH do tăng
liều thuốc xảy ra trên 9 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 11,8%. Các bệnh nhân trong nhóm bị HĐH do nguyên nhân tăng liều có đặc điểm sau: tuổi trung bình là 68 ± 1,3 tuổi, HbA1c trung bình 7,3
± 0,9%, độ thanh lọc creatinin trung bình 43 ± 11,2 ml/phút. Từ những đặc điểm trên có thể thấy rằng mức đường huyết của bệnh nhân vẫn còn xa với mức đường huyết mục tiêu nên trong quá trình điều trị cần phải tăng liều thuốc ĐTĐ. Ngoài ra những bệnh nhân này có yếu tố nguy
cơ kèm theo như tuổi cao, độ thanh lọc creatinin trung bình thấp. Do độ lọc cầu thận giảm làm thuốc thải trừ chậm hơn so với người bình thường dù dùng cùng một hàm lượng thuốc.
Tiêu chảy
HĐH xảy ra trên 6 bệnh nhân bị tiêu chảy, chiếm tỉ lệ 7,8%. Tình trạng tiêu chảy làm cho lượng thức ăn không được hấp thu, cùng với tình trạng mệt mỏi kèm theo gây cảm giác chán
ăn nên lượng thức ăn được dùng sẽ rất ít. Tình trạng tiêu chảy kèm với ăn ít càng tạo điều kiện
cho nguy cơ HĐH xảy ra dễ dàng hơn.
Trang 8Mặc dù đã có nhiều giả thiết về yếu tố nguy
cơ gây HĐH được đặt ra nhưng vẫn có 2 trong
76 trường hợp vẫn chưa tìm được nguyên nhân,
chiếm tỉ lệ 2,8%. Điều này cũng xảy ra ở các
nghiên cứu trong và ngoài nước như kết quả của
tác giả Muzaffar(6) là 4,9% hay tác giả Đỗ Kim
Phượng(2) là 5%.
KẾT LUẬN
Chế độ điều trị bệnh ĐTĐ thường là dạng
phối hợp 2 thuốc (55,2%), trong các thuốc ĐTĐ
được sử dụng thì insulin và nhóm Sulfonylurea
chiếm tỉ lệ cao (46,1%, 44,7%). Trong nhóm
Sulfonylurea, Glimepiride là thuốc có tỉ lệ HĐH
cao nhất với 25% trường hợp. Tỷ lệ tương tác
thuốc khá cao là 32,9% theo trang Drugs.com với
91,5% tương tác mức độ trung bình và 11,8%
theo phần mềm Facts & Comparisons 4.0, với
100% tương tác mức độ 2. Cặp thuốc tương tác
xuất hiện nhiều và gây nguy cơ HĐH cao là giữa
Insulin và Aspirin.
Xác định được 8 yếu tố gây HĐH trong
nhóm nghiên cứu là ăn ít, bỏ bữa, lấy sai liều
thuốc, tăng liều thuốc, tiêu chảy, chích insulin
sai giờ, uống rượu và do vận động thể lực quá
mức. Tỉ lệ các yếu tố này lần lượt là 31,5%,
18,4%, 13,2%, 11,8%, 7,8%, 6,6%, 5,3% và 2,6%.
Có 2 trường hợp không xác định được nguyên
nhân HĐH.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Amiel SA and Dixon T (2008). “Hypoglycemia in type 2
diabetes”. Diabetic Medicine, 25, pp 245‐254.
2 Đỗ Kim Phượng, Nguyễn Thị Bích Đào (2012). “Các yếu tố
nguy cơ hạ đường huyết trên bệnh nhân cao tuổi”. Y Học Thực Hành, 5, Tr 150‐153.
3 Hồ Đắc Phương (2005). “Khảo sát tình hình hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tại khoa Nội tiết, bệnh viện
Nguyễn Tri Phương, tp.Hồ Chí Minh 2004‐2005” Hội nghị đái tháo đường và nội tiết lần IV.
4 IDF (2013). “IDF Diabetes Atlas Sixth Edition”.
5 Lê Tuyết Hoa (2012). “Điểm mới trong điều trị tăng đường
huyết cho người cao tuổi”, Thời sự Y học số 71.
6 Muzaffar AShaikh et al. “Causes of Hypoglycemia in
Diabetes Mellitus Patients”. JLUMHS May ‐ August 2009; Vol:
08 No. 02, pp 100‐105.
7 Miller CD and LS Philip (2001). “Hypoglycemia in Patients
with Type 2 Diabetes Mellitus”. Archives of internal medicine,
161, pp 1653‐1699.
8 Nguyễn Bích Phượng, Nguyễn Thy Khuê (1998). “Một số nhận xét về tình hình hạ đường huyết trên bệnh nhân đái
tháo đường tại bệnh viện Chợ Rẫy”. Y Học TP.Hồ Chí Minh,
2001;5, Tr 141‐147.
9 Nguyễn Thy Khuê (2006). “Điều trị bệnh đái tháo đường”. Nội tiết học đại cương, NXB Y Học thành phố Hồ Chí Minh,Tr
89‐130.
10 Roy WBeck et al (2010). “Prolonged Nocturnal Hypoglycemia
Is Common During 12 Months of Continuous Glucose Monitoring in Children and Adults With Type 1 Diabetes”.
Diabetes Care, May; 33950, pp 1004‐1008.
11 Subish Palaian, Anupa KChetri, Mukhyaprana Prabhu, Surulivel Rajan, PRavi Shankar (2005). “Role of Pharmacist in
Counseling Diabetes Patients”. The Internet Journal of Pharmacology, volume 4 Number 1.ISSN: pp 1531‐2976.
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 29/9/2014