1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát yếu tố nguy cơ gây hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang

8 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 423,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát các yếu tố nguy cơ gây hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại bệnh viện Đa khoa Tiền Giang. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG   TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TIỀN GIANG 

Nguyễn Thị Ngọc Tiến, Tạ Văn Trầm 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Tai biến hạ đường huyết (HĐH) không chỉ ảnh hưởng sức khỏe mà còn tăng chi phí điều trị, 

dẫn đến các tác động tiêu cực. 

Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố nguy cơ gây HĐH trên bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) đang điều trị tại 

bệnh viện Đa khoa Tiền Giang. 

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả  

Kết  quả:  55,2%  phối  hợp  2  thuốc  ĐTĐ,  insulin  và  nhóm  Sulfonylurea  chiếm  tỉ  lệ  cao  (46,1%,  44,7%). 

Glimepiride có tỉ lệ HĐH cao nhất (25%). Tỷ lệ tương tác thuốc khá cao là 32,9% theo trang Drugs.com với  91,5% tương tác mức độ trung bình và 11,8% theo phần mềm Facts & Comparisons 4.0, với 100% tương tác  mức độ 2. Cặp thuốc tương tác xuất hiện nhiều và gây nguy cơ HĐH cao là giữa Insulin và Aspirin. Có 8 yếu tố  gây HĐH trong nhóm nghiên cứu là ăn ít, bỏ bữa, lấy sai liều thuốc, tăng liều thuốc, tiêu chảy, chích insulin sai  giờ, uống rượu và do vận động thể lực quá mức.  

Kết luận: Có nhiều yếu tố nguy cơ gây HĐH. 

Từ khóa: Yếu tố nguy cơ, hạ đường huyết, đái tháo đường. 

ABSTRACT  

SURVEY RISK FACTORS OF HYPOGLYCEMIA IN DIABETIC PATIENT IN TIEN GIANG GENERAL 

HOSPITAL 

Nguyen Thi Ngoc Tien, Ta Van Tram  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 67 ‐ 74 

Background:  Hypoglycemia is not only affects health but also increase the cost of treatment, leading to a 

negative impact. 

Objective:  Investigation of risk factors of hypoglycemia in diabetic patients is being treated in Tien Giang 

hospital 

Methods: Descriptive cross‐sectional study. 

Results: 55.2% coordination two diabetes medication, insulin and sulfonylurea groups accounted for a high 

proportion  (46.1%,  44.7%).  Glimepiride  has  the  highest  rate  of  hypoglycemia  (25%).  The  rate  of  drug‐drug  interactions is quite high with 32.9% to 91.5% according to Drugs.com site interactive medium level and 11.8%  under Facts & Comparisons 4.0 software, with 100% interactive level 2. Pair drug interactions appear more and  higher risk of hypoglycemia is between insulin and aspirin. There are 8 factors of hypoglycemia in the team is  eating less, skipping meals, taking wrong dose, dose increase, diarrhea, insulin wrong time, drinking and physical  activity by excess. 

Conclusion: There are many risk factors of hypoglycemia 

Keywords: Risk factors, hypoglycemia, diabetes 

* Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang  ** Sở Y tế Tiền Giang 

Trang 2

Bệnh  ĐTĐ  là  một  thách  thức  lớn  đối  với  y 

học cũng như cho cộng đồng do số lượng người 

mắc bệnh ngày càng tăng nhanh và những biến 

chứng nặng nề kèm theo.  Theo Liên đoàn ĐTĐ 

Thế giới (IDF: International Diabetes Federation) 

năm  2013,  thế  giới  hiện  có  khoảng  382  triệu 

người mắc bệnh ĐTĐ (8,3% dân số), đã tăng gấp 

3 lần so với năm 2010 và dự kiến đến năm 2035 

sẽ tăng lên 55% đạt đến số người mắc bệnh ĐTĐ 

là  592  triệu  người  (10,1%).  Gánh  nặng  do  bệnh 

ĐTĐ  gây  ra  ngày  một  tăng,  đặc  biệt  là  ở  các 

nước có thu nhập thấp và trung bình, cứ 4 trong 

5 người mắc bệnh thì thuộc những quốc gia này 

và Việt Nam là một trong những nước đó(4)

Tại Việt Nam, bệnh viện Nội tiết Trung ương 

đã  công  bố  tỉ  lệ  mắc  bệnh  ĐTĐ  tăng  gấp  2  lần 

trong 10 năm qua (năm 2002 là 2,7% đến 2012 là 

5,78%). Đây là con số đáng báo động vì theo xu 

hướng chung tỉ lệ này cần phải mất 15 năm mới 

tăng gấp đôi(5).  ĐTĐ trong giới y học gọi là “kẻ 

giết người thầm lặng” do diễn tiến bệnh thường 

âm ỉ, chỉ được phát hiện khi xuất hiện các biến 

chứng  trên  thần  kinh,  tim  mạch  và  thị  giác.  Y 

học ngày nay đã tạo ra được nhiều nhóm thuốc 

điều  trị  mang  lại  hiệu  quả  đáng  khích  lệ.  Tuy 

nhiên, vẫn còn một số vấn đề đáng để chúng ta 

quan tâm, đặc biệt là tai biến HĐH với các triệu 

chứng run tay chân, vã mồ hôi, trầm trọng hơn 

là hôn mê hay tử vong. Theo nghiên cứu Accord, 

sự xuất hiện HĐH nặng là một trong những yếu 

tố dự báo mạnh nhất của tai biến tim mạch.  

Như  vậy,  tai  biến  HĐH  không  chỉ  ảnh 

hưởng  sức  khỏe  mà  còn  tăng  chi  phí  điều  trị, 

tăng  gánh  nặng  cho  bệnh  nhân,  gia  đình,  tạo 

cảm giác căng thẳng. Từ đó dễ dẫn đến các tác 

động tiêu cực trong quản lý, điều trị ĐTĐ khiến 

bệnh  nhân  không  tuân  thủ  điều  trị  và  sự  miễn 

cưỡng tăng cường điều trị ở các nhân viên y tế. 

Nhằm  mục  đích  hỗ  trợ  cho  việc  điều  trị  bệnh 

ĐTĐ  đạt  hiệu  quả  cao,  an  toàn  và  hạn  chế  đến 

mức thấp nhất tai biến HĐH mà căn bệnh này có 

thể  gây  ra,  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  với 

đề  tài: “Khảo sát các yếu tố nguy cơ gây HĐH trên 

bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị tại bệnh viện Đa khoa  Tiền Giang”. 

Mục tiêu nghiên cứu    ‐ Phân tích tình hình sử dụng thuốc và các 

tương  tác  thuốc  làm  tăng  khả  năng  xảy  ra  tình 

trạng HĐH. 

  ‐  Xác  định  tỉ  lệ  các  yếu  tố  nguy  cơ  gây  HĐH ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Dân số chọn mẫu 

Bệnh nhân ĐTĐ bị HĐH vào khoa Cấp cứu  bệnh  viện  Đa  khoa  Trung  tâm  Tiền  Giang  từ  ngày 20/8/2013 đến ngày 1/7/2014.   

  Tiêu chuẩn chọn bệnh 

‐  Bệnh  nhân  được  chẩn đoán ĐTĐ  theo  các  tiêu chuẩn ADA 2013. 

‐  Bệnh  nhân  ĐTĐ  đang  điều  trị  ngoại  trú  bằng  thuốc  uống  đơn  thuần  hoặc  thuốc  chích  đơn  thuần  hay  phối  hợp  cả  hai,  bị  tình  trạng  HĐH phải nhập viện. 

‐ Xét nghiệm máu với kết quả đường huyết  lúc nhập viện nhỏ hơn 70mg/dl và có hay không 

có kèm theo triệu chứng HĐH. 

  Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh  nhân  HĐH  nhưng  không  mắc  bệnh  ĐTĐ;  bệnh  nhân  ĐTĐ  không  dùng  thuốc  điều  trị; bệnh nhân đang điều trị nội trú bị HĐH. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 

Xử lý và phân tích số liệu  Phần mềm SPSS 16.0. 

KẾT QUẢ  Tình hình sử dụng thuốc 

Các loại thuốc điều trị  Bảng 1‐ Tần suất sử dụng các loại thuốc 

Số loại thuốc Số lượng Tỉ lệ (%)

Trang 3

Số loại thuốc Số lượng Tỉ lệ (%)

Tình hình điều trị bệnh ĐTĐ 

Bảng 2‐ Đặc điểm về điều trị ĐTĐ  

Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%)

Phân liều thuốc

Thuốc điều trị ĐTĐ 

Bảng 3‐ Chế độ điều trị ĐTĐ 

Chế độ Số lượng Tỉ lệ (%)

Bảng 4‐Phối hợp giữa các thuốc HĐH 

Thuốc sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%)

Thuốc sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%)

Bảng 5‐ Thuốc ĐTĐ được sử dụng và liều lượng 

Nhóm thuốc Số lượng Tỉ lệ % Viên, UI/kg/ngày Trung vị

[min-max]

Tương tác thuốc 

Số tương tác trên một bệnh nhân  Bảng 6‐ Số lượng tương tác thuốc 

Drugs.com Facts & Comparisons

Số tương tác Tần số Tỉ lệ (%) Số tương tác Tần số Tỉ lệ (%)

Tương tác thuốc theo từng mức độ  Bảng 7‐ Cặp tương tác làm tăng tác dụng HĐH theo 

mức độ tương tác 

Drugs.com Facts & Comparisons Mức tương

tác Tần số Tỉ lệ (%) Mức tương tác Tần số Tỉ lệ (%)

Tổng số

Tổng số

Bảng 8‐ Cặp tương tác thuốc làm tăng tác dụng 

HĐH ở mức độ nhẹ (theo Drugs.com) 

Phối hợp Tần số Tỉ lệ (%)

Bảng 9‐ Các tương tác thuốc làm tăng tác dụng 

HĐH ở mức độ trung bình (theo Drugs.com) 

Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)

Trang 4

Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)

Bảng 10‐ Các tương tác thuốc làm tăng tác dụng 

HĐH ở mức độ 2 (theo Facts & Comparisons) 

Phối hợp Số lượng Tỉ lệ (%)

Các yếu tố nguy cơ gây HĐH 

Bảng 11‐ Các yếu tố nguy cơ gây HĐH 

Yếu tố Số lượng Tỉ lệ (%)

BÀN LUẬN 

Tình hình sử dụng thuốc 

Các loại thuốc điều trị 

Trung bình mỗi bệnh nhân được chỉ định 5 

loại thuốc, ít nhất là 2 loại và nhiều nhất là 8 loại. 

Trường  hợp  bệnh  nhân  phải  dùng  5  loại  thuốc 

điều  trị  mỗi  ngày  là  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  với 

34,2%.  Nguyên  nhân  bệnh  nhân  phải  dùng 

nhiều loại thuốc vì đối tượng phần lớn là người 

cao  tuổi  nên  có  nhiều  bệnh  kèm  theo.  Bởi  vậy, 

nguy  cơ  bệnh  nhân  gặp  tương  tác  thuốc  trong 

đơn là khá cao. Vấn đề tương tác không những 

ảnh hưởng đến hiệu quả trị liệu mà còn có khả 

năng  gây  ra  nguy  cơ  HĐH  vì  tương  tác  thuốc 

làm tăng tác dụng HĐH của thuốc điều trị ĐTĐ. 

Vì thế, trong điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ, nhất là 

đối với bệnh nhân có nhiều bệnh đi kèm, thì cần 

lưu ý nguy cơ HĐH do tương tác khi phối hợp 

nhiều thuốc. 

Tình hình điều trị ĐTĐ 

Sự tuân thủ điều trị: Bệnh nhân trong nghiên 

cứu có sự tuân thủ điều trị khá tốt với 90,8% có  tham  gia  điều  trị  liên  tục.  Kết  quả  sự  tuân  thủ  điều trị phù hợp với giá trị mức đường huyết lúc  đói  trung  bình  và  HbA1c  trung  bình  được  đo  gần lúc xảy ra HĐH nhất, lần lượt là 137,6 mg/dl 

và 7,1%. 

Chỉ  định  thuốc:  Phần  lớn  các  toa  thuốc  mà 

bệnh  nhân  sử  dụng  là  do  được  bác  sĩ  chỉ  định  nhưng cũng có 17,1% trường hợp bệnh nhân tự 

ý  mua  theo  sự  giới  thiệu  của  người  quen  và  15,2%  bệnh  nhân  tự  dùng  thêm  các  loại  thuốc  nam. Vì thuốc do bệnh nhân tự mua nên thường 

sẽ  không  đúng  với  tình  trạng  bệnh  và  có  khả  năng  dùng  quá  liều  do  thiếu  chỉ  dẫn  về  liều  lượng và cách dùng từ bác sĩ. Vì vậy những đối  tượng  này  thường  có  nguy  cơ  HĐH  cao.  Điều  này nên được giải thích cho bệnh nhân hiểu để  bệnh nhân có tuân thủ điều trị tốt hơn. Bên cạnh 

đó  có  9,2% bệnh nhân tự  dùng  thêm  thuốc  cặp  tiểu đường của Trung Quốc. Thuốc này có chứa  Glibenclamid và thành phần bị cấm lưu hành là  Phenformin.  Việc  sử  dụng  Phenformin  kéo  dài  làm bệnh nhân có thể bị suy thận và hôn mê do  nhiễm acid  lactic.  Đối  với những  bệnh  nhân đã 

bị  suy  thận,  việc  dùng  thuốc  sẽ  làm  cho  tình  trạng suy thận xảy ra nặng hơn. Ngoài ra do việc 

tự  ý  dùng  thêm  thuốc  cặp  cùng  với  thuốc  điều  trị chính nên không tránh khỏi tình trạng đường  huyết  hạ  quá  mức. Điều này  sẽ  gây nguy hiểm  cho bệnh nhân nên cần thiết có sự cảnh báo để  bệnh nhân phòng tránh.  

Phân  liều  thuốc  uống,  thuốc  tiêm:  Trong  việc 

phân  chia  liều  thuốc  mỗi  ngày,  phần  lớn  là  do  bệnh  nhân  và  người  nhà  thực  hiện  với  tỉ  lệ  lần  lượt  là  50%,  43,4%.  Vì  người  thực  hiện  thao  tác  phân  liều  thuốc  ngoài  đối  tượng  sử  dụng  trực  tiếp là bệnh nhân thì người nhà bệnh nhân cũng 

có  vai  trò  quyết  định  trong  việc  bệnh  nhân  sử  dụng đúng  thuốc  và đúng  liều nên  việc  tư  vấn 

Trang 5

cần  thiết  áp  dụng  cho  cả  đối  tượng  người  nhà 

bệnh nhân. 

Các loại thuốc ĐTĐ sử dụng trong nhóm bệnh 

nhân 

Mỗi  ngày  bệnh  nhân  dùng  trung  bình  2 

thuốc HĐH, ít nhất 1 loại và nhiều nhất là 3 loại. 

Trong  nhóm  bệnh  nhân  dùng  đơn  trị,  insulin 

được sử dụng nhiều nhất với tỉ lệ là 19,7%. Chế 

độ điều trị bệnh ĐTĐ thường gặp nhất là dạng 

phối hợp từ 2 thuốc trở lên với 69,8%. Trong đó, 

dạng phối hợp 2 thuốc nhiều hơn dạng phối hợp 

3 thuốc với tỉ lệ lần lượt là 55,2% và 14,6%. Hai 

nhóm thuốc thường được dùng chung là nhóm 

Biguanid  và  nhóm  Sulfonylurea  với  tỉ  lệ  là 

26,1%, trong đó kết hợp nhiều nhất 15,7% là giữa 

Metformin  và  Glimepiride.  Tỉ  lệ  có  phối  hợp 

thuốc thường cao bởi vì đa số bệnh nhân là bệnh 

ĐTĐ  typ  2  có  thời  gian  mắc  bệnh  lâu  năm  nên 

cần phải kết hợp thuốc để ổn định đường huyết. 

Trong  nhóm  bệnh  nhân  bị  HĐH,  thuốc  dạng 

uống  được  sử  dụng  nhiều  nhất  là  Metformin 

53,9%,  kế  đến  là  Sulfonylurea  44,7%,  Acarbose 

27,6%  và  ít  nhất  là  Pioglitazone  5,3%.  Tỉ  lệ  này 

cho thấy chế độ điều trị phù hợp với hướng dẫn 

điều trị ĐTĐ của IDF 2013. Ngoài ra khi xem xét 

số viên thuốc mỗi loại nhận thấy rằng liều lượng 

dùng  là  tương  đối  cao  vì  thường  đa  số  trường 

hợp  có  kết  hợp  từ  2  thuốc  trở  lên.  Có  44,7% 

trường  hợp  bệnh  nhân  bị  HĐH  do  dùng 

Sulfonylurea, chiếm tỉ lệ cao, là do Sulfonylurea 

vẫn kích thích tiết insulin từ tụy dù mức đường 

huyết đang hạ thấp, điều này càng làm suy giảm 

nặng  hơn  đáp  ứng  glucagon(1).  Trong  nhóm 

Sulfonylurea  thì  Glimepiride  là  thuốc  có  tỉ  lệ 

HĐH cao với 25% trường hợp, nguyên nhân có 

thể do thuốc có thời gian tác dụng kéo dài so với 

những  thuốc  khác  cùng  nhóm  nên  nguy  cơ 

HĐH xảy ra cao hơn. 

Tỉ  lệ  insulin  trong  dạng  đơn  chất  hay  phối 

hợp là 46,1%. Như vậy cứ 2 bệnh nhân thì sẽ có 1 

người phải sử dụng insulin, vì dạng thuốc tiêm 

khó  phân  liều  nên  có  nguy  cơ  là  nhiều  bệnh 

nhân sẽ lấy sai liều dẫn đến HĐH. Liều insulin 

trung  bình  0,71  ±  0,2  UI/kg/ngày,  do  phần  lớn 

trường hợp insulin được dùng chung với thuốc  dạng  uống  nên  liều  trung  bình  của  insulin  là  tương  đối  cao.  Trong  trường  hợp  bệnh  bệnh  nhân có chế độ dinh dưỡng kém thì sẽ dễ xảy ra  tình trạng HĐH hơn. 

Kết  quả  tỉ  lệ  HĐH  cao  do  insulin  tương  tự  với  nghiên  cứu  của  tác  giả  Nguyễn  Bích  Phượng(8)  là  37,5%  hay  tác  giả  Miller  tiến  hành  trên1055 BN người Mỹ da đen bị ĐTĐ typ 2 thì tỉ 

lệ  là  30%(7).  Nguyên  nhân  HĐH  thường  gặp  ở  bệnh  nhân  dùng  insulin  do  trong  cơ  thể  bệnh  nhân  mất  đi  cơ  chế  bảo  vệ.  Khi  tụy  giảm  tiết  insulin, insulin từ vị trí tiêm sẽ vào máu và nồng 

độ  trong  máu  không  chịu  ảnh  hưởng  của  các  yếu  tố  điều  hòa  nội  sinh  trong  cơ  thể.  Do  đó  insulin  trong  máu  sẽ  không  giảm  khi  đường  huyết giảm và HĐH sẽ dễ xảy ra hơn. Như vậy,  đối tượng bệnh nhân ĐTĐ typ 1, typ 2 có dùng  insulin nên được chú ý hơn về nguy cơ HĐH. 

Tương tác thuốc 

Số tương tác trên một bệnh nhân:  Vì  phần  lớn 

bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  ngoài  mắc  bệnh  ĐTĐ thì có kèm theo những bệnh khác như cao  huyết áp, rối loạn lipid, bệnh tim mạch… nên có  nhiều nguy cơ xảy ra tương tác giữa các thuốc.  Trong  nghiên  cứu  này  chỉ  xét  đến  cặp  thuốc  tương  tác  làm  tăng  tác  dụng  HĐH  của  thuốc  ĐTĐ,  số  lượng  tương  tác  thuốc  trên  một  bệnh  nhân càng cao thì nguy cơ HĐH trên bệnh nhân 

sẽ càng lớn.    

 Tỉ lệ tương tác thuốc làm tăng tác dụng HĐH: 

Theo trang Drugs.com, có 32,9% toa thuốc xảy ra  tương  tác.  Trong  đó  tương  tác  mức  độ  trung  bình  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  là  91,5%.  Còn  theo  trang Facts & Comparisons 4.0, tỉ lệ toa thuốc có  xảy  ra  tương  tác  là  11,8%  và  100%  trường  hợp  xảy ra ở mức 2‐ là mức tương tác làm nặng hơn  tình  trạng  bệnh  nhân.  Tỉ  lệ  tương  tác  làm  tăng  tác dụng của thuốc ĐTĐ trong phần mềm FC 4.0  xảy  ra  ít  hơn  so  với  kết  quả  của  trang  web  Drugs.com.  Nguyên  nhân  số  lượng  cặp  thuốc  giảm đi vì theo FC không xảy ra tương tác giữa  nhóm chẹn Beta với Insulin, SU, Metformin, giữa  nhóm  ACEI  với  Insulin,  Metformin, giữa nhóm 

Trang 6

lượng thuốc có tương tác làm tăng tác dụng với 

thuốc ĐTĐ trong toa thuốc càng nhiều, thì nguy 

cơ  xảy  ra  tình  trạng  HĐH  càng  cao,  nhất  là  ở 

những  bệnh  nhân  có  kèm  thêm  việc  dùng  sai 

liều thuốc hay có chế độ ăn uống kém. 

Các cặp tương tác thuốc làm tăng tác dụng HĐH 

ở  mức  độ  nhẹ  (theo  Drugs.com):  Cặp  thuốc  có 

tương  tác  ở  mức  độ  nhẹ  theo  trang  web 

Drugs.com  là  giữa  Glimepiride  và  Clopidogrel, 

dùng trong trường hợp dự phòng biến cố huyết 

khối do xơ vữa ở bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ 

tim,  đột  quỵ  thiếu  máu  cục  bộ.  Do  Clopidogrel 

ức  chế  Cyp  450  2C9  nên  giảm  chuyển  hóa 

Glimepiride và làm tăng nồng độ của thuốc này 

trong máu, gây tăng nguy cơ HĐH. 

Các  cặp  tương  tác  làm  tăng  tác  dụng  HĐH  ở 

mức  độ  trung  bình  (theo  Drugs.com):  Theo  trang 

Drugs.com, tương tác mức độ trung bình chiếm 

tỉ  lệ  cao  nhất  là  dùng  Aspirin  dự  phòng  huyết 

khối cho bệnh nhân tiêm insulin. Tỉ lệ tương tác 

này  là 21,8%.  Aspirin  làm tăng nồng  độ  insulin 

trong máu nên dễ xảy ra tình trạng HĐH ở bệnh 

nhân có sử dụng phối hợp 2 thuốc này với nhau. 

Chúng  ta  có  thể  can  thiệp  làm  giảm  tương  tác 

bằng  cách  xem  xét  thay  thế  thuốc  khác  có  tác 

động chống huyết khối nhưng ít ảnh hưởng hơn 

đến tác dụng HĐH của insulin hoặc điều chỉnh 

liều insulin.  

Các  cặp  tương  tác  thuốc  làm  tăng  tác  dụng 

HĐH ở mức độ 2 (theo Facts & Comparisons):  Tỉ 

lệ  tương  tác  ở  mức  độ  2  theo  phần  mềm  FC 

cao  nhất  là  giữa  insulin  và  Aspirin,  kế  đến  là 

Sulfonylurea  và  ACEI,  thấp  nhất  là 

Sulfornylurea và Aspirin với tỉ lệ lần lượt 70%, 

20%,  10%.  Kết  quả  này  cũng  tương  tự  với  kết 

quả  tương  tác  mức  trung  bình  của  trang 

Drugs.com.  Như  vậy  qua  2  kết  quả  của  phần 

mềm FC và trang Drugs.com có thể thấy rằng 

tương  tác  có  tần  suất  xuất  hiện  nhiều  và  gây 

nguy  cơ  HĐH  cao  trong  các  toa  thuốc  của 

nhóm bệnh nhân nghiên cứu là giữa Insulin và 

Aspirin. Điều này cần được lưu ý khi chỉ định 

thuốc  cho  bệnh  nhân  ĐTĐ  có  kèm  theo  bệnh  mạch vành (đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim). 

Các yếu tố nguy cơ gây HĐH 

Tập thể dục 

Vận  động  quá  mức  trong  24  giờ  trước  khi  nhập viện chiếm tỉ lệ thấp nhất là 2,6%, tương  ứng  với  2  trường  hợp  xảy  ra.  Nguyên  nhân  chiếm tỉ lệ ít do phần lớn bệnh nhân lớn tuổi,  mất sức lao động và ít có thói quen tập thể dục  hằng  ngày.  Trong  nghiên  cứu  với  đối  tượng  bệnh nhân cao tuổi trên địa bàn thành phố Hồ  Chí Minh của tác giả Đỗ Kim Phượng(2) hay tác  giả Hồ Đắc Phương(3) thì kết quả là không ghi  nhận  trường  hợp  nào  xảy  ra  do  yếu  tố  vận  động  quá  mức.  Điều  này  có  thể  giải  thích  là  mặc dù đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung  bình  gần  giống  nhau  là  những  người  lớn  tuổi  mất  sức  lao  động  nhưng  do  đặc  điểm  nơi  cư  trú  khác  nên  mức  độ  vận  động  cũng  sẽ  khác  nhau  ít  nhiều.  Do  tập  thể  dục  tăng  sự  nhạy  cảm  của  insulin  nên  khi  tập  với  cường  độ  mạnh  thì  nguy  cơ  xảy  ra  HĐH  sẽ  tăng  lên(10). 

Để  hạn  chế  nguy  cơ  HĐH  do  vận  động  quá  mức  thì  bệnh  nhân  có  thể  dùng  máy  thử  để  kiểm tra đường huyết vào thời điểm trước tập  thể dục (nếu đường huyết thấp hơn 100 mg/dl,  thì bệnh nhân nên ăn nhẹ trước khi tập) và khi  tập quá 30 phút phải ăn thêm 10‐20g glucid(9). 

Uống rượu 

Uống  rượu  sẽ  ngăn  tiết  glucose  nội  sinh  và  làm giảm nhận thức HĐH, thậm chí ở nồng độ  thấp(11).  Vì  vậy,  các  trường  hợp  xảy  ra  do  rượu  đều nhập viện ở tình trạng nặng là hôn mê, do  bệnh  nhân  và  người  nhà  nhằm  lẫn  triệu  chứng  báo hiệu HĐH như yếu cơ, run, mờ mắt, lú lẫn   với  tình  trạng  say  rượu.  Ngoài  ra,  uống  rượu  thường  dẫn  đến  khả  năng  bệnh  nhân  ăn  ít  hay 

bỏ bữa. Điều này càng làm cho tình trạng HĐH  xảy ra trầm trọng hơn, gây nguy hiểm cho bệnh  nhân  nếu  không  được  phát  hiện  và  xử  lý  kịp  thời.  Do  đó,  dù  nguyên  nhân  uống  rượu  chỉ  chiếm tỉ lệ thấp 5,3% nhưng lại gây HĐH nặng 

Trang 7

về vấn đề này. 

Ăn kém, bỏ bữa 

Nguyên nhân ăn kém, bỏ bữa có tỉ lệ 31,5% 

và 18,4%. Đây là 2 nguyên nhân gây HĐH có tỉ 

lệ  cao  nhất  trong  nghiên  cứu  này.  So  với  các 

nghiên  cứu  khác  tiến  hành  trong  nước  của  tác 

giả Nguyễn Bích Phượng (1998)(8) 47,2%, tác giả 

Đỗ  Kim  Phượng  (2011)(2)  là  39%;  14,6%  thì  kết 

quả  thu  được  đều  cho  thấy  HĐH  có  nguyên 

nhân  chủ  yếu  là  vẫn  là  vấn  đề  về  dinh  dưỡng 

của bệnh nhân như ăn ít hay bỏ bữa. Điều này có 

thể  do  bệnh  nhân  có  bệnh  kèm  theo  gây  cảm 

giác  chán  ăn,  mệt  mỏi  như  suy  gan,  suy  thận, 

cảm sốt, hay tuổi cao khiến bệnh nhân giảm cảm 

giác thèm ăn và sức nhai giảm cũng gây cản trở 

việc ăn uống. Bên cạnh đó, một phần do ý thức 

về việc cần phải ăn đủ bữa, đủ chất, ăn đủ năng 

lượng trong một ngày để không bị HĐH thì vẫn 

chưa  được  bệnh  nhân  nhìn  nhận  và  quan  tâm 

đúng mức. Thực trạng này chưa được cải thiện 

nhiều theo thời gian vì các nghiên cứu trước đây 

vẫn có kết quả tương tự. Nguyên nhân có thể do 

số  lượng  bệnh  nhân  đông  kèm  thời  gian  khám 

chữa  bệnh  ít  gây  khó  khăn  cho  nhân  viên  y  tế 

trong  việc  hỗ  trợ  tư  vấn  cho  bệnh  nhân.  Ngoài 

ra, do không có đầy đủ đội ngũ bác sĩ chuyên gia 

về dinh dưỡng nên bác sĩ điều trị còn phải thực 

hiện kèm nhiệm vụ tư vấn cho bệnh nhân. Các 

bệnh viện nước ngoài do có đội ngũ bác sĩ điều 

trị  ĐTĐ  bao  gồm  bác  sĩ  điều  trị  và  chuyên  gia 

dinh  dưỡng nên  trong  kết  quả nghiên  cứu  như 

của  tác  giả  Christopher  D.Miller(7),  Muzaffar 

A.Shaik(6)  thì  nguyên  nhân  ăn  ít,  bỏ  bữa  gây 

HĐH lại chiếm tỉ lệ ít hơn. Bên cạnh đó, các vấn 

đề về trình độ văn hóa, tuổi tác, nơi cư trú cũng 

khiến  cho  bệnh  nhân  khó  tiếp  cận  kiến  thức 

bệnh  từ  các  nguồn  thông  tin  như  sách  báo,  tivi 

hay câu lạc bộ bệnh nhân ĐTĐ.  

Thuốc điều trị 

Lấy sai liều thuốc 

Có 10 trường hợp xảy ra HĐH do bệnh nhân 

lấy sai liều, chiếm tỉ lệ 13,2%. Liều lượng thuốc 

thường bị lấy sai vì các nguyên nhân như bệnh  nhân lớn tuổi kèm với thị lực kém do bệnh đục  thủy tinh thể hay tổn thương đáy mắt nên việc  rút  thuốc  insulin  từ  ống  tiêm  có  vạch  chia  nhỏ  rất  khó  khăn,  có  trường  hợp  bệnh  nhân  lấy  dư  hơn 10 đơn vị thuốc. Đối với thuốc dạng viên do  cùng lúc phải dùng chung nhiều loại thuốc khác  nên dễ xảy ra tình trạng bệnh nhân lầm lẫn giữa  các thuốc do hình dạng, màu sắc tương tự nhau 

và dẫn đến bệnh nhân dùng dư liều thuốc.  

Chích insulin sai giờ: Có 5 trường hợp bệnh 

nhân  chích  insulin  sai  giờ,  do  bệnh  nhân  bận  rộn công việc hay bệnh nhân lớn tuổi nên quên  không  chích  thuốc  và  đã  chích  bù  vào  thời  điểm khác, cách xa bữa ăn, lúc đường huyết đã 

hạ. Tình trạng này có thể khắc phục bằng cách  trên  toa  thuốc  nhân  viên  y  tế  ghi  rõ  thời  gian  chích kèm theo việc nhắc nhở người nhà lưu ý  đến  việc  chích  thuốc  của  bệnh  nhân,  nhất  là  với  đối  tượng  người  lớn  tuổi,  trí  nhớ  không  còn minh mẫn. 

Tăng liều thuốc: Nguyên nhân HĐH do tăng 

liều  thuốc  xảy  ra  trên  9  bệnh  nhân,  chiếm  tỉ  lệ  11,8%.  Các  bệnh  nhân  trong  nhóm  bị  HĐH  do  nguyên  nhân  tăng  liều  có  đặc  điểm  sau:  tuổi  trung bình là 68 ± 1,3 tuổi, HbA1c trung bình 7,3 

±  0,9%,  độ  thanh  lọc  creatinin  trung  bình  43  ±  11,2  ml/phút.  Từ  những  đặc  điểm  trên  có  thể  thấy rằng mức đường huyết của bệnh nhân vẫn  còn xa với mức đường huyết mục tiêu nên trong  quá trình điều trị cần phải tăng liều thuốc ĐTĐ.  Ngoài ra những bệnh nhân này có yếu tố nguy 

cơ kèm theo như tuổi cao, độ thanh lọc creatinin  trung  bình  thấp.  Do  độ  lọc  cầu  thận  giảm  làm  thuốc  thải  trừ  chậm  hơn  so  với  người  bình  thường dù dùng cùng một hàm lượng thuốc. 

Tiêu chảy 

HĐH  xảy  ra  trên  6  bệnh  nhân  bị  tiêu  chảy,  chiếm  tỉ  lệ  7,8%.  Tình  trạng  tiêu  chảy  làm  cho  lượng  thức  ăn  không  được  hấp  thu,  cùng  với  tình trạng mệt mỏi kèm theo gây cảm giác chán 

ăn nên lượng thức ăn được dùng sẽ rất ít. Tình  trạng tiêu chảy kèm với ăn ít càng tạo điều kiện 

cho nguy cơ HĐH xảy ra dễ dàng hơn. 

Trang 8

Mặc dù đã có nhiều giả thiết về yếu tố nguy 

cơ gây HĐH được đặt ra nhưng vẫn có 2 trong 

76 trường hợp vẫn chưa tìm được nguyên nhân, 

chiếm  tỉ  lệ  2,8%.  Điều  này  cũng  xảy  ra  ở  các 

nghiên cứu trong và ngoài nước như kết quả của 

tác  giả  Muzaffar(6)  là  4,9%  hay  tác  giả  Đỗ  Kim 

Phượng(2) là 5%. 

KẾT LUẬN 

Chế  độ  điều  trị  bệnh  ĐTĐ  thường  là  dạng 

phối  hợp 2  thuốc (55,2%), trong  các thuốc ĐTĐ 

được sử dụng thì insulin và nhóm Sulfonylurea 

chiếm  tỉ  lệ  cao  (46,1%,  44,7%).  Trong  nhóm 

Sulfonylurea, Glimepiride là thuốc có tỉ lệ HĐH 

cao  nhất  với  25%  trường  hợp.  Tỷ  lệ  tương  tác 

thuốc khá cao là 32,9% theo trang Drugs.com với 

91,5%  tương  tác  mức  độ  trung  bình  và  11,8% 

theo  phần  mềm  Facts  &  Comparisons  4.0,  với 

100% tương tác mức độ 2. Cặp thuốc tương tác 

xuất hiện nhiều và gây nguy cơ HĐH cao là giữa 

Insulin và Aspirin.  

Xác  định  được  8  yếu  tố  gây  HĐH  trong 

nhóm nghiên cứu là ăn  ít, bỏ bữa, lấy sai liều 

thuốc, tăng liều thuốc, tiêu chảy, chích insulin 

sai giờ, uống rượu và do vận động thể lực quá 

mức.  Tỉ  lệ  các  yếu  tố  này  lần  lượt  là  31,5%, 

18,4%, 13,2%, 11,8%, 7,8%, 6,6%, 5,3% và 2,6%. 

Có 2 trường hợp không xác định được nguyên 

nhân HĐH. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Amiel  SA  and  Dixon  T  (2008).  “Hypoglycemia  in  type  2 

diabetes”. Diabetic Medicine, 25, pp 245‐254.  

2 Đỗ  Kim  Phượng,  Nguyễn  Thị  Bích  Đào  (2012).  “Các  yếu  tố 

nguy  cơ  hạ  đường  huyết  trên  bệnh  nhân  cao  tuổi”.  Y  Học  Thực Hành, 5, Tr 150‐153. 

3 Hồ Đắc Phương (2005). “Khảo sát tình hình hạ đường huyết ở  bệnh  nhân  đái  tháo  đường  tại  khoa  Nội  tiết,  bệnh  viện 

Nguyễn Tri Phương, tp.Hồ Chí Minh 2004‐2005” Hội nghị đái  tháo đường và nội tiết lần IV.  

4 IDF (2013). “IDF Diabetes Atlas Sixth Edition”.  

5 Lê  Tuyết  Hoa  (2012).  “Điểm  mới  trong  điều  trị  tăng  đường 

huyết cho người cao tuổi”, Thời sự Y học số 71. 

6 Muzaffar  AShaikh  et  al.  “Causes  of  Hypoglycemia  in 

Diabetes Mellitus Patients”. JLUMHS May ‐ August 2009; Vol: 

08 No. 02, pp 100‐105. 

7 Miller  CD  and  LS  Philip  (2001).  “Hypoglycemia  in  Patients 

with  Type  2  Diabetes  Mellitus”.  Archives of  internal  medicine, 

161, pp 1653‐1699. 

8 Nguyễn  Bích  Phượng,  Nguyễn  Thy  Khuê  (1998).  “Một  số  nhận  xét  về  tình  hình  hạ  đường  huyết  trên  bệnh  nhân  đái 

tháo  đường  tại bệnh  viện  Chợ  Rẫy”.  Y Học TP.Hồ Chí Minh, 

2001;5, Tr 141‐147.  

9 Nguyễn  Thy  Khuê  (2006).  “Điều  trị  bệnh  đái  tháo  đường”.  Nội tiết học đại cương, NXB Y Học thành phố Hồ Chí Minh,Tr 

89‐130. 

10 Roy WBeck et al (2010). “Prolonged Nocturnal Hypoglycemia 

Is  Common  During  12  Months  of  Continuous  Glucose  Monitoring  in  Children  and  Adults  With  Type  1  Diabetes”. 

Diabetes Care, May; 33950, pp 1004‐1008. 

11 Subish  Palaian,  Anupa  KChetri,  Mukhyaprana  Prabhu,  Surulivel Rajan, PRavi Shankar (2005). “Role of Pharmacist in 

Counseling  Diabetes  Patients”.  The  Internet  Journal  of  Pharmacology, volume 4 Number 1.ISSN: pp 1531‐2976. 

 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:    29/9/2014 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm