Nội dung bài viết trình bày tổng quan về sinh lý bệnh sỏi san hô do nguyên nhân nhiễm trùng, cách phòng ngừa và điều trị bệnh sỏi san hô. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1Tổng quan Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 6 * Số 2 * 2002
TỔNG QUAN VỀ SINH LÝ BỆNH SỎI SAN HÔ
DO NGUYÊN NHÂN NHIỄM TRÙNG
Phạm Văn Bùi *
Sỏi san hô chiếm khoảng 10 – 15% các sỏi
niệu(6), là một bệnh lý đặc biệt, một loại sỏi “ngoạn
mục”, do hình dáng, sinh bệnh học và ảnh hưởng
của chúng trên thận nên từ lâu sỏi san hô đã được
các nhà niệu học quan tâm(10)
Với thành phần hóa học đặc biệt chủ yếu là
magné + ammoniac + phosphat, sỏi san hô có liên
quan chặt chẽ với nhiễm trùng niệu mạn tính hoặc
tái phát, đặc biệt do các chủng vi khuẩn sinh men
urease, men này thủy phân urea thành ammoniac
khiến nước tiểu kiềm mạnh, dẫn tới sự kết tinh
phosphat(2,15)
Tùy theo nguồn gốc, người ta phân biệt 3 loại
sỏi san hô:
- Sỏi san hô nhiễm trùng chiếm khoảng 75%
- Sỏi san hô cơ quan chiếm 15%
- Sỏi san hô chuyển hóa chiếm 15% các trường
hợp
Như vậy có thể nói sỏi san hô nhiễm trùng
thường gặp nhất và đặt ra nhiều vấn đề phức tạp
nhất vì nhiễm trùng là nguồn gốc của sỏi Sự hiện
diện của loại sỏi giúp nhiễm trùng tồn tại, từ đó lại
khiến cho sỏi tiếp tục lớn lên và cứ thế thành một
vòng lẩn quẩn mà hậu quả cuối cùng là tàn phá hoàn toàn chức năng thận bị sỏi
SINH BỆNH HỌC CỦA SỎI SAN HÔ NHIỄM TRÙNG
Mọi bệnh lý nhiễm trùng hệ niệu gây nên bởi các chủng có chứa men urease đều có thể là nguồn gốc của sỏi nhiễm trùng Sỏi nhiễm trùng luôn luôn có thành phần hóa học khá đặc trưng, luôn luôn thuộc loại struvite (Mg-NH4-PO4-6H2O) và carbonate apatite [Ca10(PO4)6CO3] có thể có kèm theo một số chất phụ khác như ammonium urate, calcium oxalate, calcium phosphate, protéine(12,14)
Vi khuẩn
Có hơn 45 chủng khác nhau sản xuất ra urease
và protease, trong đó Proteus gặp trong 75% các trường hợp Ngoài ra Klebsiella, Pseudomonas, Providencia, Staphylococcus, Ureaplasma urealyticum cũng sản xuất ra urease trong khi E coli
rất ít khi sản xuất ra urease(5,6,15)
Cơ chế hoạt động của ureas và proteinase
Khi các chủng vi khuẩn có các men này xâm nhập vào thận (thường nhất là loại P mirabilis) chúng tiết ra hai loại men(14):
Sơ đồ 1: Cơ chế tác dụng của Urease và proteinase
dioxyde làm kiềm hóa mạnh nước tiểu (pH>7,2) Sự
H2N C NH2 + H2O 2NH3 + CO2
O
NH4 + OH H++ CO3H
-Urease Proteinase
Proteus
Biến chất tổ chức + phóng thích các protein
* Bệnh viện 115
Trang 2Tổng quan Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 6 * Số 2 * 2002
kiềm hóa gây ra sự siêu bão hòa struvite là nguồn
gốc của sỏi struvite, còn carbonate apatite có lẽ sinh
từ CO2 được phóng thích vào nước tiểu cũng do tác
động của urease Yếu tố độc hại của proteus dường
như là do urease vì Brand gây nhiễm bể thận-thận
với các chủng Proteus đã bị biến chủng nhưng vẫn
còn giữ urease
Protease
Protease tấn công vào đường xuất tiết niệu (đài,
bể thận) gây nên sự thoái hóa của mô và bong tróc ra
khiến các proteine đổ tràn vào trong lòng đường xuất
tiết Vai trò của các proteine này trong sinh sỏi vẫn
còn mơ hồ, chúng có thể đóng vai trò như chất nền
cho sự kết dính của các tinh thể Tác động của các
men này có thể tóm tắt như trong sơ đồ 1
Sự thành lập sỏi
Sự sinh sỏi bắt đầu trong hệ thống đài bể thận
chứ không phải trong chủ mô thận Chủ mô thận vẫn
nguyên vẹn, không có các bất thường chuyển hóa,
không có tổ thương ống thận
Sự tăng nồng độ ammoniac do tác động thủy
phân urea của urease ngoài việc làm kiềm hóa nước
tiểu còn làm tổn thương lớp glycosamin của niệu
mạc giúp vi khuẩn dễ bám dính và xâm nhập vào
mô hơn nữa Vi khuẩn còn tiết ra chất glycocalix
vừa tạo khả năng bám dính vừa bảo vệ vi khuẩn lại
vừa kết hợp các tinh thể struvite và apatite được
hình thành do kết quả của sự gia tăng pH nước tiểu
Các phức hợp hữu cơ được gia tăng thêm do viêm
nhiễm tổ chức dưới tác động của các proteinase Từ
đó, các chất đạm niệu sẽ bị thâm nhập và lắng đọng
các tinh thể khi vi khuẩn tiếp tục tăng bội và sỏi
dạng xu xoa (gelatin) dần dần được hình thành Với
thời gian, chất hỗn hợp non trẻ và tỷ trọng thấp này
sẽ được khoáng hóa thông qua quá trình thủy phân
urea của vi khuẩn trong chất nền Struvite và
carbonate apatite sau đó sẽ thay thế chất nền và
chuyển dần thành sỏi đặc cản quang(3,6)
Thời gian thành lập sỏi rất thay đổi từ nhiều
tháng tới nhiều năm, tùy theo cường độ của tiến
trình tạo sỏi Nếu sỏi là một khối toàn vẹn thành
hình từ các hốc đài thận có thể không có bế tắc;
ngược lại nếu sự phát triển sỏi đầu tiên ở bể thận,
đẩy các nhánh phát triển về phía các cuống đài thận
một cách ly tâm, nó sẽ gây dãn nở nhanh chóng các
đài thận và sớm phá hủy thận(3)
Sự lắng đọng các chất khoáng lên bề mặt sỏi tùy thuộc vào dòng nước tiểu giữa lớp niệu mạc và sỏi, vận tốc lắng đọng sẽ giảm đi theo sự suy giảm chức năng thận do giảm khả năng cô đặc nước tiểu(3)
PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ
Phòng ngừa nhiễm trùng và điều trị tích cực, tận gốc nhiễm trùng niệu là biện pháp quan trọng nhất(7)
Kháng sinh
Do Proteus thường gặp nhất và hơn 90% các
trường hợp nhạy cảm với Penicilline, nên kháng sinh thuộc nhóm này thường được lựa chọn trước tiên Tétracycline được lựa chọn trong trường hợp
Pseudomonas và Ureaplasma urealyticum Ngoài ra
còn có thể chọn nhóm Fluoroquinolones
Chất ức chế urease
Chất này giúp làm giảm ammonia, pH nước tiểu và gia tăng tác dụng của kháng sinh Các acid hydroxamic là chất ức chế urease mạnh và chuyên biệt nhất giúp giảm pH và ammonia, liều dùng là 250mg x 3 lần /ngày, có khoảng 20% bệnh nhân bị các phản ứng phụ như viêm tắc tĩnh mạch, nhức đầu, thiếu máu tán huyết Ngoài ra, chúng còn có nguy cơ gây quái thai và bị hạn chế sử dụng ở những bệnh nhân có creatinin máu 2,5mg%(1,11)
Giảm các chất tạo sỏi trong nước tiểu
- Shorr và Carter(16) dùng chế độ ăn giảm phosphore, giảm calcium kết hợp với uống Aluminium hydroxyde dễ gắn kết với phosphore trong thức ăn: ghi nhận 23% các trường hợp sỏi tan từng phần hay hoàn toàn, chỉ 10% là sỏi gia tăng kính thước
- Lotz và cộng sự(8) lại ghi nhận nhiều bất thường liên quan đến sự sử dụng Aluminium hydroxyde như tăng calci niệu, tăng tái hấp thu phosphore và calcium từ cơ, tăng tái hấp thu calcium từ ruột gây các hậu quả như: yếu cơ, chán ăn, bứt rứt và đau xương
- Pearl(13), Coe(1): lợi tiểu nhóm Thiazide, Allopurinol, citrate có thể giúp phòng ngừa sự tái phát sỏi Trong 14 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát thấy rằng điều trị nội khoa sỏi calci làm giảm xuất độ tái phát Trong đó nhóm lợi tiểu
Trang 3Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 6 * Số 2 * 2002 Tổng quan
Thiazide tỏ ra hiệu quả nhất làm giảm đáng kể sự
tái phát sỏi
Acid hóa nước tiểu
- White Murphy và Zeiman(9) dùng acid
ascorbic với liều 2g/ngày
- Ammonium chloride cũng có thể sử dụng để
giảm pH nước tiểu Tuy nhiên, sau 6 ngày điều trị
ammonia nước tiểu tăng lên trở lại và thuốc hết tác
dụng
Điều trị ngoại khoa
Điều trị ngoại khoa lấy sạch sỏi và tạo hình
những dị dạng của đường tiểu là biện pháp điều trị
triệt để nhất “Stone cancer”(10) được dùng để mô tả
tiến trình phát triển của sỏi không điều trị hoặc điều
trị không triệt để Các sỏi còn sót sau điều trị ngoại
khoa có thể tiếp tục làm tan bằng cách tưới rửa tại
chỗ với dung dịch Suby’s G và Hemacidin 10%, đây
là những dung dịch có pH = 4,0(1,4,10,13)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 COE FL, HENRY W, PARKS JH, (2001), “ Propertional
reduction of urine supersaturation during nephrolithiasis
treatment”, J Urol, 166: 1247-1251
2 FAURE G, SARRAMON JP (1982), Naissance et croissance
du coralliforme “d’infection”, J Urol, 88: 425-429
3 FAURE G., SARRAMON JP (1982), Histoire naturelle du
coralliforme, J Urol 88: 423-424
4 HESSE A, HEIMBACH D (1999), Cause of phosphate stone
formation and the importance of metaphylasis by uninary
acidification: a review”, World J Urol, 17(5): 308-315
5 HUGOSSON J, GRENABO L, HEDELIN H, PETTERSON S, SEEBERG S (1990), Bacteriology of upper urinary tract stones, J Urol, 143: 965-968
6 LERNER SP, GLEESON MJ, GRIFFITH DP (1989), Infection stones J Urol, 141: 753-756
7 LINGERMAN JE (1995), “Editional: Stone” J Urol, 153:
1408
8 LOTZ M, ZISMAN E, BARTTER FC (1990), Evidence for phosphorus depletion syndrome in man, New Engl J Med, 278:
409
9 MURPHY FJ, ZEIMAN S (1992), Ascorbic acid as a urinary acidifying agent Comparison with the ketogenic effect of fasting, J Urol, 94: 2997
10 NONY P P, (1993), Données actuelles et perspectives d’avenir dans le traitement de la lithiase coralliforme de l’aldulte A propose de 113 calculs opérés, Thèse pour le Doctorat d’Etat
en Médecine
11 NORBERTO O, BERNADO MD, ARTHUR D, SMITH MD (2000): “Chemolysis of urinary calculi” Urol Clin North Am, 27(2): 355-356
12 OTTKAWA M, TOKUNAGA S, NAKASHIMA T, YAMAGUCHI R, ORITO M, HISAZUMI H (1992), Composition of urinary calculi related to urinary tract infection,
J Urol, 148: 995-997
13 PEARLE MS, ROEHRBORN CG, PAK CY (1999),
“Metaanalysis of randomized trials for medical prevention of calcium oxalate nephrolithiasis”, J Endo Urol, 13(9): 679-685
14 SARRAMON JP (1994), “Traitement de la lithiase coralliforme”, Viatique de néphrologie et d’Urologie, Fournié-Fonsegrives, Toulouse: 467-477
15 SEGURA JW (1997), “Staghorn calculi”, Urol Clin North Am, 24(1): 71-80
16 SHORR E, CARTER AC (1987), Aluminium gels in the management of renal phosphatic calculi, JAMA, 144: 1549