1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Liên quan giữa răng khôn hàm dưới mọc lệch với gãy góc hàm và gãy lồi cầu xương hàm dưới

6 71 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 307,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về mối liên quan giữa răng khôn hàm dưới mọc lệch với các đường gãy góc hàm và gãy lồi cầu xương hàm dưới. Tiến hành nghiên cứu trên 546 bệnh nhân bị gãy xương hàm dưới được điều trị tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TP.HCM từ tháng 12/2011 đến tháng 10/2013.

Trang 1

LIÊN QUAN GIỮA RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI MỌC LỆCH

VỚI GÃY GÓC HÀM VÀ GÃY LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI

Trần Đăng Minh*, Nguyễn Thị Bích Lý**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về mối liên quan giữa răng khôn

hàm dưới mọc lệch với các đường gãy góc hàm và gãy lồi cầu xương hàm dưới

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 546 bệnh nhân bị gãy xương hàm dưới được điều trị tại bệnh

viện Răng Hàm Mặt Trung ương TPHCM từ tháng 12/2011 đến tháng 10/2013 Dữ liệu thu thập bao gồm tuổi, giới tính, nguyên nhân chấn thương (tai nạn giao thông, đả thương, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt), vị trí răng khôn hàm dưới và vùng gãy xương

Kết quả: Sự hiện diện răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy góc hàm cao gấp 2,06 lần so với người không có

răng khôn Trong khi đó sự hiện diện răng khôn mọc lệch làm giảm nguy cơ gãy lồi cầu 0,81 lần nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan giữa nguyên nhân chấn thương với tình trạng gãy xương hàm dưới

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của răng khôn mọc lệch làm tăng nguy cơ gãy góc hàm Trong

khi đó nhóm có răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy lồi cầu ít hơn nhưng sư khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Từ khóa: Răng khôn hàm dưới mọc lệch, gãy góc hàm, gãy lồi cầu

ABSTRACT

RELATIONSHIP BETWEEN IMPACTED LOWER THIRD MOLARS AND MANDIBLE ANGLE AND

CONDYLE FRACTURES

Tran Dang Minh, Nguyen Thi Bich Ly

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 261 - 266

Objective: The purpose of this study was to evaluate to relationship between impacted mandibular third

molars and the risk of mandibular angle fractures and condyle fractures

Study design: This retrospective study reviews data from 546 patients attending the Division of Oral and

Maxillofacial Surgery from December 2011 till October 2013, all presented for treatment of mandible fractures Data collected included age, sex, injury cause (motor vehicle accident, assault, industrial accident, others), position of mandibular third molars and fracture sites Diagnosis of fracture sites was made by clinical examination and panoramic radiograph

Results: The incidence of mandibular angle fracture was significantly greater on sides with an impact third

molar, whereas the condylar fracture rate decreased in mandibles lacking a third molar but the rate was not statistically significant different between groups The risk of angle fracture was much more affected by impacted mandibular third molar than that of condylar fracture, when injury causes were taken into consideration.

Conclusions: This study provides evidence to suggest that mandibular angle fractures are influenced by the

presence of impacted third molar but not observe any significant difference between the position of mandibular

*BS-Học viên Cao học khóa 2012-2014- Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

** Bộ môn Phẫu thuật miệng-Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Trần Đăng Minh ĐT: 0982295579 Email: dangminh_dds@yahoo.com

Trang 2

third molars and the risk of condyle fractures

Key words: impacted mandibular third molars, angle fractures, condyle fractures

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Việt Nam, gãy xương hàm dưới chiếm tỉ

lệ khoảng 43%(2) trong các trường hợp gãy xương

vùng hàm mặt do chấn thương mặc dù đây là

xương chắc và khỏe nhất Điều này được giải

thích một phần là do vị trí đưa ra trước của

xương hàm dưới nên dễ tiếp xúc với lực nguy cơ

khi gặp chấn thương Vị trí gãy xương hàm dưới

tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí lực tác

động trên xương, hướng và cường độ của lực,

cấu trúc mô mềm bao phủ, các đặc điểm sinh cơ

học của cấu trúc hàm dưới như mật độ và khối

lượng xương, trong đó những điểm yếu dễ gãy

là cằm, góc hàm, lỗ cằm, lồi cầu Năm 1964,

Huelke(3) đã báo cáo rằng có mối liên quan đáng

kể giữa vị trí gãy xương và vùng có răng Trong

một nghiên cứu thực nghiệm trên khỉ của Reitzik

cho thấy rằng chỉ cần lực khoảng 60% lực làm

gãy hàm dưới có răng khôn mọc hoàn toàn cũng

đủ làm gãy hàm dưới có răng khôn lệch(10) Nguy

cơ gãy góc hàm gia tăng từ 2-3 lần ở nhóm có

răng khôn mọc lệch so với nhóm răng khôn bình

thường Mức độ lệch của răng khôn cũng là yếu

tố ảnh hưởng đến tỉ lệ gãy vùng góc hàm Bên

cạnh đó, kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy ở

những đối tượng có răng khôn hàm dưới mọc

lệch thì tỉ lệ gãy cổ lồi cầu giảm đi rõ rệt Theo

mô hình sinh cơ học ngày nay, người ta giả

thuyết rằng răng khôn hàm dưới tạo nên điểm

yếu tại vùng góc hàm do làm giảm khối lượng

này sẽ làm giảm nguy cơ gãy lồi cầu Vì thế

chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này

với các mục tiêu:

- Mô tả các đặc điểm dịch tễ học của những

bệnh nhân gãy xương hàm dưới điều trị tại Răng

Hàm Mặt Trung ương TPHCM từ tháng 12/2011

đến tháng 10/2013

- Đánh giá mối liên quan giữa sự hiện diện

của răng khôn hàm dưới đến tỉ lệ gãy góc hàm

và lồi cầu xương hàm dưới

- Đánh giá mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm dưới đến tỉ lệ gãy góc hàm và lồi cầu xương hàm dưới

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bệnh chứng

Đối tượng nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu gồm 546 hình ảnh toàn cảnh và hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân được chẩn đoán gãy xương hàm dưới được điều trị nội trú tại khoa Phẫu thuật hàm mặt, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương TPHCM từ tháng 12/2011 đến tháng 10/2013

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán gãy xương hàm dưới do chấn thương

Bệnh nhân từ 17 tuổi trở lên

Hồ sơ được chọn phải thỏa các điều kiện sau: + Có đầy đủ thông tin cá nhân có giá trị gồm: tên họ, giới tính, ngày tháng năm sinh, ngày chụp phim, nguyên nhân chấn thương + Hình ảnh toàn cảnh kĩ thuật số phải có giá trị khảo sát và có độ tương phản rõ nét, không ảnh hưởng đến việc quan sát các chi tiết trên phim

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân gãy xương hàm dưới do bệnh lý

u, nang xương hàm dưới

Bệnh nhân có gãy kết hợp xương hàm trên Bệnh nhân có hồ sơ không đầy đủ

Bệnh nhân mất răng toàn bộ

Các bước tiến hành:

Huấn luyện và định chuẩn trước nghiên cứu Chọn lựa bệnh án

Thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh nhân bao gồm phần hành chính: họ tên, giới tính, nghề

Trang 3

nghiệp; nguyên nhân gây chấn thương, chẩn

đoán vị trí gãy xương

Thu thập dữ liệu trên hình ảnh toàn cảnh:

+ Tình trạng gãy xương: ghi nhận số đường

gãy, vị trí gãy xương hàm dưới

+ Tình trạng răng khôn hàm dưới: ghi

nhận sự hiện diện răng khôn hàm dưới của

bệnh nhân Ở những trường hợp bệnh nhân có

răng khôn, xác định vị trí của răng khôn theo

chiều ngang tương quan với cành đứng xương

hàm dưới (Phân loại I, II, III) và theo chiều dọc

so với mặt nhai răng cối lớn thứ hai (Phân loại

A, B, C) theo phân loại của Pell và Gregory

Độ nghiêng của răng khôn được phân loại

theo Shiller, dựa vào góc mọc của răng khôn

Đó là góc tạo bởi mặt phẳng nhai của răng

khôn và mặt phẳng nhai RCL thứ hai Răng

khôn được phân thành các loại: răng khôn

mọc thẳng (-100 đến 100), nghiêng gần (110 đến

700), nghiêng xa (góc lớn hơn 700 hay nhỏ hơn

-700), nằm ngang (-110 đến -700)

Răng khôn ở mỗi phần hàm phải và trái

được chia làm ba nhóm:

+ Nhóm 1: Bệnh nhân không có răng khôn

+ Nhóm 2: Bệnh nhân có răng khôn mọc

thẳng: răng có phân loại IA và có độ nghiêng -100

đến 100.

+ Nhóm 3: Bệnh nhân có răng khôn mọc

lệch: răng thuộc các phân loại còn lại

Phân tích số liệu

Dữ liệu thu thập được mã hóa và phân tích

bởi phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0

Thống kê mô tả: Tính các giá trị trung bình,

phần trăm về số liệu tổng quát của nghiên cứu

Thống kê phân tích:

+ Bước 1: Phân tích đơn biến để xác định

các yếu tố liên quan Kiểm định mối liên quan

bằng phép kiểm chi bình phương (2) Nếu giá

trị p<0,05 thì xác định có mối liên quan Giá trị

RR được đo lường để đánh giá mức độ liên

quan Trường hợp không có sự tương đồng giữa

giá trị p và khoảng tin cậy 95% (giá trị p<0,05

nhưng khoảng tin cậy chứa giá trị trung tính) thì

sẽ dùng test-based để xác định chính xác khoảng giá trị của khoảng tin cậy 95%

+ Bước 2: Phân tích đa biến với hồi quy tuyến tính để xác định mối liên quan độc lập đến gãy góc hàm, lồi cầu (những biến số trong phân tích đơn biến liên quan có ý nghĩa thống kê hoặc

có giá trị p<0,2 được đưa vào mô hình đa biến) Trị số của phép kiểm 2 chọn theo giá trị của chỉ

số thống kê Z

Phép kiểm trên đều được sử dụng với độ tin cậy 95% và được kết luận dựa vào giá trị p:

- Nếu p < 0,05: sự khác biệt có ý nghĩa thống

- Nếu p > 0,05: sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Bảng 1: Mối liên quan giữa sự hiện diện răng khôn

hàm dưới và nguy cơ gãy góc hàm (phân tích đa biến)

Các yếu tố RR(KTC 95%) p

Nhóm tuổi

21-30 0,95(0,69-1,33) 0,80 31-40 0,82(0,54-1,24) 0,35 41-60 0,90(0,54-1,50) 0,70

>60 0,78(0,18-3,31) 0,74

Răng khôn

1,54 (1,11-2,14) 0,009

Không có Không có 1 Mọc thẳng 1,07(0,71-1,63) 0,73 Mọc lệch 2,06(1,41-3,03) <0,001

Nguyên nhân chấn thương

Giao thông 1

Đả thương 2,38(1,68-3,38) <0,001

Sinh hoạt 1,84(1,06-3,21) 0,03

Lao động 1,68(0,62-4,55) 0,31 Những người có răng khôn mọc thẳng tuy có khả năng gãy góc hàm cao gấp 1,07 (KTC 95%: 0,71-1,63) lần so với người không có răng khôn, tuy vậy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05) Tuy vậy, so với những người không có

răng khôn, thì những người có răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy góc hàm cao gấp 2,06 (KTC 95%:

Trang 4

1,41-3,03) lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

(p<0,05)

Bảng 2: Mối liên quan giữa sự hiện diện răng khôn

hàm dưới và nguy cơ gãy lồi cầu

Các yếu tố

Gãy lồi cầu [Tần số(tỉ lệ%)] RR (KTC

95%) p

Có Không

Nhóm

tuổi

≤20 45(21,2) 167(78,8) 1

21-30 96(19,1) 406(80,9) 0,90

(0,66-1,23) 0,52 31-40 38(16,9) 186(83,0)

0,80(0,54-1,17) 0,26 41-60 32(22,5) 110(77,5)

1,06(0,71-1,58) 0,77

>60 5(41,7) 7(58,3) 1,96(0,96-4,02) 0,06

Giới tính Nam 186(19,9) 750(80,1) 1,03(0,73-1,46) 0,85

Nữ 30(19,2) 126(80,8)

Răng

khôn

Có 160(19,5) 660(80,5)

0,95(0,72-1,24) 0,70 Không

có 56(20,6) 216(79,4)

Không

có 56(20,6) 216(79,4) 1

Mọc

thẳng 82(22,3) 285(77,7)

1,07(0,79-1,44) 0,66 Mọc lệch 77 (17,0) 375 (83,0)

0,81(0,59-1,10) 0,20

Nguyên

nhân

chấn

thương

Giao

thông 195(20,5) 755(79,5) 1

Đả

thương 7(7,9) 81(92,1)

0,38(0,19-0,79) 0,01 Sinh

hoạt 11(27,5) 29(72,5)

1,33(0,79-2,25) 0,27 Lao

động 3(21,4) 11(78,6)

1,04(0,38-2,67) 0,93 Người có răng khôn có nguy cơ gãy lồi cầu

0,95 lần so với người không có răng khôn nhưng

sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Tương tự, sự khác biệt về nguy cơ gãy lồi cầu

giữa những người không có răng khôn, có răng

khôn mọc thẳng, có răng khôn mọc lệch không

có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 3: Mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm

dưới và nguy cơ gãy góc hàm

Vị trí răng khôn Gãy góc hàm RR(KTC

95%) p

Có Không

Ngang

I 109(21,2) 405

(78,8) 1

II 80(27,5) 211

(72,5)

1,29 (1,01-1,66) 0,04

III 11(73,3) 4(26,7) 3,45(2,44-4,89) <0,001

Dọc

A 121(21,6) 440(78,

4) 1

B 71(33,5) 141(66,

5)

1,55(1,21-1,98) <0,001

C 8(17,0) 39

(83,0)

0,79 (0,41-1,51) 0,47

Độ nghiêng

Thẳng 76(17,2) 367

(82,8) 1 Nghiêng

gần 87(35,1)

161 (64,9)

2,04 (1,57-2,67) <0,001 Ngang 27(29,7) 64

(70,3)

1,72 (1,18-2,52) 0,004 Nghiêng

xa 10(26,3)

28 (73,7)

1,53 (0,87-2,71) 0,14 Người có răng khôn loại III có nguy cơ gãy góc hàm cao hơn đáng kể 3,45 lần (KTC 95%: 2,44-4,89), trong khi đó người có răng khôn loại

II có nguy cơ gãy góc hàm cao hơn 1,29 lần (KTC 95%: 1,01-1,66) so với người có răng khôn loại I

Bảng 4: Mối liên quan giữa vị trí răng khôn hàm

dưới và nguy cơ gãy lồi cầu

Vị trí răng khôn Gãy lồi cầu RR(KTC

95%) p

Có Không

Ngang

I 104(20,2) 410(79,8) 1

II 55(18,9) 236(81,1) 0,93(0,69-2,15) 0,65 III 1(6,7) 14(93,3)

0,33(0,04-2,20) 0,25

Dọc

A 115(20,5) 446(79,5) 1

B 38(17,9) 174(82,1)

0,87(0,63-1,22) 0,42

C 7(14,9) 40(85,1)

0,73(0,36-1,46) 0,36

Độ nghiêng

Thẳng 104(23,5) 339(76,5) 1 Nghiêng

gần 40(16,1) 208(83,9)

0,68(0,49-0,95) 0,03 Ngang 13(14,3) 78(85,7)

0,61(0,37-1,03) 0,07 Nghiêng

xa 3(7,9) 35(92,1)

0,34(0,11-1,00) 0,06 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ gãy lồi cầu với các vị trí răng khôn tương quan theo chiều ngang với cành đứng và tương quan theo chiều dọc với răng cối lớn thứ hai Về độ nghiêng, răng khôn nghiêng gần có nguy cơ gãy lồi cầu 0,68 lần (KTC 95%: 0,49-0,95)

so với răng khôn mọc thẳng, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê

Trang 5

BÀN LUẬN

Mối liên quan giữa sự hiện diện và vị trí

của răng khôn hàm dưới và nguy cơ gãy

góc hàm

Răng khôn hàm dưới là răng xuất hiện sau

cùng trên cung hàm, cũng là răng mọc lệch,

ngầm nhiều hơn bất kỳ răng nào khác Khi răng

khôn lệch, ngầm có thể gây ra nhiều biến chứng

như viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào,

nang, sâu chân răng kế cận, viêm mô nha chu,

chen chúc muộn ảnh hưởng đến kết quả điều trị

chỉnh hình Kết quả trong nghiên cứu của chúng

tôi cho thấy răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy

góc hàm gấp 2,06 lần (KTC 95%: 1,41-3,03) so với

không có răng khôn và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê, trong khi đó nguy cơ gãy góc

hàm khi có răng khôn mọc thẳng gần tương

đương với không có răng khôn và sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê Như vậy có thể thấy

nguy cơ gãy góc hàm ở nhóm có răng khôn mọc

lệch cũng tương tự so với nhóm răng khôn mọc

thẳng Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu

của các tác giả trên thế giới, trong đó nguy cơ

tương đối dao động trong khoảng từ 1,2 đến 3,8

Nghiên cứu của Huelke(3) đã báo cáo rằng các

đường gãy xảy ra thường xuyên hơn ở những

vùng còn răng hơn những vùng mất răng xương

hàm dưới

Khi phân tích các đặc điểm về độ nghiêng

của răng khôn, chúng tôi nhận thấy rằng vị trí

lệch gần vừa là vị trí phổ biến nhất vừa có liên

quan cao đến nguy cơ gãy góc hàm Nguy cơ gãy

góc hàm khi răng khôn nghiêng gần là 2,04 (KTC

95%: 1,57-2,67), răng khôn nghiêng xa là 1,72 lần

(KTC 95%: 1,18-2,52) so với răng khôn thẳng

đứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Giải

thích cho điều này, chúng tôi nghĩ rằng do chân

răng khôn trong nhóm răng nghiêng gần và nằm

ngang hướng trực tiếp về góc hàm nên có thể

đóng vai trò như một chêm tách góc hàm xương

hàm dưới và tạo điểm yếu tại đây, vì thế lực gây

chấn thương được chuyển tới cành đứng và góc

hàm xương hàm dưới

Nghiên cứu của Tevepaugh và Dodson(11);

dự phòng nhằm ngăn chặn nguy cơ gãy góc hàm, đặc biệt là ở những vận động viên chơi thể thao trẻ tuổi Việc nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch có thể làm tăng hoặc không tăng sức đề kháng của xương hàm dưới vùng góc hàm Nếu góc hàm xương hàm dưới có thể

đề kháng hơn với gãy xương dưới một lực chấn thương, vậy khi lực này tác dụng lên, xương hàm dưới có bị gãy không? Có thể các chấn thương này sẽ tạo ra đường gãy ở một vị trí khác trên xương hàm dưới(7)

Mối liên quan giữa sự hiện diện và vị trí của răng khôn hàm dưới và nguy cơ gãy lồi cầu

Khi so sánh với nhóm không có răng khôn, nhóm có răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy lồi cầu ít hơn 0,81 (KTC 95%: 0,59-1,10) lần nhưng

sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,2) Kết quả này tương tự với một số nghiên cứu trên thế giới(1,4,9,12) nhưng chưa đủ để kết luận về vai trò của răng khôn mọc lệch đối với các trường hợp gãy lồi cầu

Nếu xét chung về vị trí răng khôn, chúng tôi thấy rằng xương hàm dưới có răng khôn theo phân loại IA có nguy cơ tương đối bị gãy lồi cầu cao nhất Kết quả này ủng hộ giả thuyết rằng sự hiện diện của răng khôn hàm dưới mọc thẳng làm nguy cơ gãy lồi cầu tăng lên Điều này phù hợp với nghiên cứu của Duan(1), Zhu(12) và Iida

Có thể giải thích các phát hiện này là do việc giảm hấp thu lực của góc hàm Theo Kober(5), kháng lực của góc hàm dưới gia tăng khi răng khôn đã mọc hoặc không có răng khôn; điều này đưa đến lực được truyền tới một vùng dễ gãy hơn, đó là lồi cầu

KẾT LUẬN

Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy có sự liên quan giữa răng khôn hàm dưới và gãy góc hàm Người có răng khôn mọc lệch có nguy cơ gãy lồi cầu ít hơn nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu chỉ ghi nhận yếu tố nguy

Trang 6

cơ mà chưa nhằm so sánh về mức độ trầm trọng

trong gãy góc hàm và lồi cầu để đưa ra khuyến

cáo chính xác về việc nhổ răng khôn mọc lệch

Do đó chúng tôi đề nghị những nghiên

cứu kế tiếp cần mở rộng thực hiện trên đa

trung tâm với số lượng mẫu lớn hơn, đồng

thời các nghiên cứu sinh cơ học trong tương

lai sẽ là cần thiết để làm rõ thêm nguy cơ gãy

góc hàm phụ thuộc vào các mức độ lệch khác

nhau và hướng của lực tác dụng bên cạnh

răng khôn hàm dưới mọc lệch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Duan DH., Zhang Y (2008), "Does the presence of mandibular

third molars increase the risk of angle fracture and

simultaneously decrease the risk of condylar fracture?", Int J

Oral Maxillofac Surg, 37(1), pp.25-8

2 Hồ Nguyễn Thanh Chơn, Lâm Hoài Phương (2010), "Đánh

giá hiệu quả điều trị gãy xương hàm dưới bằng hệ thống

nẹp-vít nén", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, tr.180-185

3 Huelke D F (1964), "Location of mandibular fractures related

to teeth and edentulous regions", J Oral Surg Anesth Hosp Dent

Serv, 22, pp.396-405

4 Iida S., Nomura K., Okura M., Kogo M (2004), "Influence of

the incompletely erupted lower third molar on mandibular

angle and condylar fractures", J Trauma, 57(3), pp.613-7

5 Kober C, Sader R, Thiele H, Bauer HJ, Zeilhofer HF,

Hoffmann KH, Horch HH (2001), "[Stress analysis of the

human mandible in standard trauma situations with

numerical simulation]", Mund Kiefer Gesichtschir, 5(2),

pp.114-9

6 Lee JT, Dodson TB (2000), "The effect of mandibular third

molar presence and position on the risk of an angle fracture", J

Oral Maxillofac Surg, 58(4), pp.394-8; discussion 399

7 Mechan JG (2000), "The effect of mandibular third molar

presence and position on the risk of an angle fracture", Journal

of Oral and Maxillofacial Surgery, 58(4), pp.399

8 Meisami T, Sojat A, Sandor GK, Lawrence HP, Clokie CM (2002), "Impacted third molars and risk of angle fracture",

International Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 31(2),

pp.140-4

9 Patil PM (2012), "Unerupted lower third molars and their influence on fractures of the mandibular angle and condyle",

Br J Oral Maxillofac Surg, 50(5), pp.443-6

10 Reitzik M, Lownie JF, Cleaton-jones P, Austin J (1978),

"Experimental fractures of monkey mandibles", International

Journal of Oral Surgery, 7(2), pp.100-3

11 Tevepaugh DB, Dodson TB (1995), "Are mandibular third molars a risk factor for angle fractures? A retrospective cohort

study", J Oral Maxillofac Surg, 53(6), pp.646-9; discussion

649-50

12 Zhu SJ, Choi BH, Kim HJ, Park WS, Huh JY, Jung JH, Kim BY, Lee SH (2005), "Relationship between the presence of unerupted mandibular third molars and fractures of the

mandibular condyle", Int J Oral Maxillofac Surg, 34(4),

pp.382-5

Ngày nhận bài báo: 30/01/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/02/2015 Người phản biện: PGS-TS Nguyễn Thị Hồng Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w