1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả sau phẫu thuật giảm thể tích phổi ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

8 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 174,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá biến đổi lâm sàng, chức năng hô hấp ở bệnh nhân (BN) bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) sau phẫu thuật giảm thể tích phổi 1 tháng và 3 tháng. Đối tượng nghiên cứu là 16 BN được chẩn đoán xác định BPTNMT có khí phế thũng khu trú, ngoài đợt bùng phát, được phẫu thuật giảm thể tích phổi.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU PHẪU THUẬT GIẢM THỂ TÍCH PHỔI

Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Mai Xuân Khẩn*; Nguyễn Thanh Tùng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá biến đổi lâm sàng, chức năng hô hấp ở bệnh nhân (BN) bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) sau phẫu thuật giảm thể tích phổi 1 tháng và 3 tháng Đối tượng và phương pháp: 16 BN được chẩn đoán xác định BPTNMT có khí phế thũng khu trú, ngoài đợt bùng phát, được phẫu thuật giảm thể tích phổi Kết quả: sau phẫu thuật 1 tháng: tỷ lệ BN ho,

khạc đờm, khó thở, chỉ số CAT, RV và TLC giảm không nhiều FEV 1 và PaO 2 , SaO 2 giảm Sau phẫu thuật 3 tháng: tỷ lệ BN ho, khạc đờm, khó thở, chỉ số CAT, RV và TLC đều giảm rõ rệt,

RV giảm nhiều hơn TLC Test đi bộ 6 phút, FEV 1 , PaO 2 và SaO 2 tăng rõ rệt Kết luận: BN

BPTNMT sau phẫu thật giảm thể tích phổi 3 tháng có biến đổi lâm sàng, chức năng hô hấp tốt hơn sau phẫu thuật 1 tháng

* Từ khóa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; Khí phế thũng; Phẫu thuật giảm thể tích phổi

Assessment of Results of Lung Volume Reduction Surgery in Chronic Obstructive Pulmonary Disease Patients

Summary

Objectives: To evaluate the clinical, respiratory functional changes in patients with chronic obstructive pulmonary disease (COPD) after lung volume reduction surgery (LVRS) 1 month and 3 months Subjects and methods: 16 patients with COPD having focal emphysema and without acute exacerbations underwent LVRS Results: After one month LVRS, the proportions

of patients with cough, shortness of breath, sputum production, low CAT-score, RV and TLC decreased slightly Forced expiratory volume in one second (FEV1), PaO2 and SaO2 decreased but no statistical significance was seen After 3 month LVRS, the proportions of patients with cough, shortness of breath, sputum production, low CAT-score, RV and TLC decreased significantly The rate of patients with decreased RV was higher than patients with decreased TLC 6-minute walk distance, FEV 1 , PaO 2 , SaO 2 increased significantly Conclusions: Patients with COPD after 3 month LVRS have more significant improvement than those after 1 month LVRS

* Key words: Chronic obstructive pulmonary disease; Emphysema; Lung volume reduction surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính đang là gánh nặng toàn cầu Theo Tổ

chức Y tế Thế giới (2008), ước tính tới

năm 2020, BPTNMT sẽ là nguyên nhân

tử vong đứng hàng thứ 3 và là bệnh gây tàn phế đứng hàng thứ 5 trên toàn thế giới [2] Điều trị bệnh gồm hai giai đoạn:

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thanh Tùng (hathanhtung103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 23/02/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 02/05/2017

Ngày bài báo được đăng: 10/05/2017

Trang 2

điều trị đợt bùng phát (ĐBP) và điều trị

lâu dài ngoài ĐBP Kỹ thuật làm giảm thể

tích phổi bằng phẫu thuật là một biện

pháp điều trị lâu dài BPTNMT làm giảm

thể tích phổi giúp cải thiện các triệu

chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống

cho BN [3] Tại Việt Nam, kỹ thuật giảm

thể tích phổi bằng phẫu thuật mới được

đưa vào nghiên cứu và thực hiện Với hy

vọng giúp cho lâm sàng có những tiêu chí

so sánh, đánh giá kỹ thuật này với các kỹ

thuật giảm thể tích phổi khác, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm: Đánh

giá biến đổi lâm sàng, chức năng hô hấp

ở BN BPTNMT sau phẫu thuật giảm thể

tích phổi 1 tháng và 3 tháng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

16 BN được chẩn đoán xác định

BPTNMT có khí phế thũng khu trú, ngoài

ĐBP, được phẫu thuật giảm thể tích phổi

tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực Tim mạch

(B12), định kỳ kiểm tra và điều trị tại Khoa

Lao và Bệnh phổi (A3), Bệnh viện Quân y

103 từ 10 - 2014 đến 7 - 2016

* Tiêu chuẩn lựa chọn BN:

- Chẩn đoán xác định BPTNMT theo

tiêu chuẩn GOLD 2015 [6]:

+ BN có yếu tố nguy cơ

+ Ho khạc đờm mạn tính, khó thở

+ Thông khí phổi: FEV1 < 80%, chỉ số

Gaensler (FEV1/FVC) < 0,7 và test hồi

phục phế quản âm tính

- Tiêu chuẩn xác định BPTNMT ngoài

ĐBP theo GOLD 2015 [6]

- Tiêu chuẩn lựa chọn BN phẫu thuật

giảm thể tích phổi [1, 3]:

+ BPTNMT ngoài ĐBP

+ FEV1 từ 20 - 50% và so với SLT

+ RV > 150% so với SLT, TLC > 100%

so với SLT

+ Có khí phế thũng khu trú trên CT lồng ngực

+ Không có chống chỉ định với phẫu thuật lồng ngực nói chung

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- BN BPTNMT đang trong ĐBP

- BN BPTNMT có kèm theo bệnh hô hấp khác: bệnh lao phổi, viêm phổi cấp,

áp xe phổi, ung thư phổi

- BN BPTNMT nhưng mới bị nhồi máu

cơ tim (< 6 tháng), suy tim nặng, suy thận nặng

- Dày dính màng phổi liên quan đến bệnh lý màng phổi hoặc mở lồng ngực trước đó

- BN có chống chỉ định với phẫu thuật lồng ngực nói chung

- BN không hợp tác [1, 3]

2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu, can thiệp

và theo dõi dọc Khám lâm sàng và đăng

ký theo một mẫu thống nhất Thực hiện test đi bộ 6 phút (6MWD), chụp CT lồng ngực, đo thông khí phổi, đo thể tích ký thân, đo khí máu động mạch Đánh giá: cải thiện các triệu chứng lâm sàng Mức

độ khó thở bằng thang điểm mMRC Chất lượng cuộc sống bằng thang điểm CAT Test đi bộ 6 phút Đánh giá cải thiện chức năng hô hấp, thay đổi các chỉ tiêu chức năng hô hấp sau phẫu thuật 1 tháng và

3 tháng

Trang 3

* Kỹ thuật điều trị giảm thể tích phổi

bằng phẫu thuật:

- Vị trí cắt giảm thể tích phổi: phổi phải

93,75% (15/16 BN), phổi trái 6,25% (1/16 BN),

cắt thùy dưới phổi phải 75,00% (12/16 BN)

và cắt 2 thùy phổi 62,5% (10/16 BN)

Phần phổi được cắt giảm là phần khí phế

thũng chiếm ưu thế được xác định trước

mổ qua cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân

giải cao, kết hợp với quan sát trong mổ,

cắt giảm thể tích phổi khoảng 20 - 30% thể tích mỗi bên phổi [1, 5]

+ Sau khi phẫu thuật, BN được theo dõi kiểm tra đánh giá tai biến, biến chứng + Điều trị nội khoa sau phẫu thuật: dùng thuốc giãn phế quản, corticoid, thuốc long đờm, vận động hô hấp liệu pháp, hướng dẫn BN tập thở, định kỳ hẹn

BN sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng và không có ĐBP

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Biến đổi triệu chứng cơ năng hô hấp trước và sau phẫu thuật

Trước phẫu thuật (n = 16)

Sau phẫu thuật 1 tháng

(n = 16)

Sau phẫu thuật 3 tháng (n = 16)

Chỉ tiêu

đánh giá

Các triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở

đều có thay đổi đáng kể trước và sau

1 tháng và 3 tháng phẫu thuật giảm thể

tích phổi ở BN BPTNMT Sau phẫu thuật

1 tháng, tỷ lệ BN khó thở giảm còn 87,50%

(14/16 BN), có 2/16 BN hết khó thở Sau

phẫu thuật 3 tháng, tỷ lệ BN khó thở giảm

còn 56,25% (9/16 BN), 7/16 BN hết khó thở cho thấy thấy tỷ lệ ho khạc đờm giảm

rõ rệt, tỷ lệ khó thở cũng giảm đáng kể, chứng tỏ sau phẫu thuật kết hợp với điều trị nội khoa bằng các thuốc kiểm soát, duy trì đã cải thiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh như ho, khạc đờm, khó thở

Bảng 2: Biến đổi mức độ khó thở theo thang điểm mMRC trước và sau phẫu thuật

Trước phẫu thuật (1) Sau phẫu thuật 1 tháng (2) Sau phẫu thuật 3 tháng (3) mMRC

Trang 4

Mức độ khó thở theo mMRC cũng cải

thiện đáng kể, trước phẫu thuật: chủ yếu

khó thở với mức mMRC = 3 với tỷ lệ

50,00% (8/16 BN), mức mMRC = 2 với tỷ

lệ 43,75% (7/16 BN), không có khó thở

mức độ rất nặng (tương đương mMRC = 4)

Sau phẫu thuật 1 tháng, mức độ khó thở

theo thang điểm mMRC không có sự thay

đổi đáng kể so với trước phẫu thuật (p >

0,05) Còn sau phẫu thuật 3 tháng, hầu

hết BN đều có cải thiện về mức độ khó

thở, khó thở với mMRC = 3 chỉ còn 12,50%

(2/16 BN), khó thở khi gắng sức mạnh với

mMRC = 0 là 43,75% (7/16 BN) và không

có BN nào khó thở nặng (mMRC = 4)

Điểm trung bình mức độ khó thở theo

mMRC trước phẫu thuật là 2,44 ± 0,63; sau phẫu thuật 3 tháng giảm còn 2,06 ± 0,57; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Sự biến đổi mức độ khó thở theo mMRC ở BN BPTNMT sau phẫu thuật của chúng tôi gần tương đồng với nghiên cứu của Cooper J D và CS (1995) [4], thay đổi điểm trung bình mMRC trước phẫu thuật là 2,9 và giảm xuống sau phẫu thuật 3 tháng còn 2,1 Kết quả này cũng tương đương nghiên cứu của Hamacher

J và CS (2002) [7] khi đánh giá hiệu quả của phẫu thuật giảm thể tích phổi ở

39 BN bị khí phế thũng nặng qua 3, 6, 12,

18 và 24 tháng, kết quả cho thấy mức độ khó thở của BN giảm dần sau phẫu thuật

Bảng 3: Biến đổi kết quả test đi bộ 6 phút trước và sau phẫu thuật

6MWD (m)

(n = 16)

Trước phẫu thuật (1)

Sau phẫu thuật 1 tháng

(2)

Sau phẫu thuật 3 tháng

(3)

Quãng đường trung bình đi được trong

6 phút trước phẫu thuật là 302,50 ±

80,04 m; sau phẫu thuật 1 tháng giảm

còn 296,25 ± 64,86 m và sau phẫu thuật

3 tháng tăng lên 320,63 ± 74,65 m; sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05 Sau phẫu thuật 1 tháng, quãng

đường đi bộ trong 6 phút của một số BN

giảm, khả năng do BN còn đau ngực, hạn

chế cử động thở, kèm theo chưa hồi phục

hoàn toàn sức khỏe sau phẫu thuật nên

khả năng gắng sức còn kém

Kết quả của chúng tôi cũng tương

đồng với một số nghiên cứu trên thế giới:

nghiên cứu của Cooper J D và CS (1995) [4], quãng đường đi bộ trung bình với

20 BN trước phẫu thuật giảm thể tích phổi

là 291,99 m và sau phẫu thuật 3 tháng tăng lên 371,86 m

Theo Hamacher J và CS (2002) [7], giá trị trung bình của 6MWD trước phẫu thuật là 274 ± 16 m và sau 3 tháng phẫu thuật 6MWD tăng lên 369 ± 15 m, chứng tỏ thể lực và khả năng gắng sức của BN BPTNMT có cải thiện theo chiều hướng tích cực sau 3 tháng phẫu thuật

Trang 5

Bảng 4: Biến đổi kết quả thang điểm CAT trước và sau phẫu thuật

Trước phẫu thuật (1)

Sau phẫu thuật 1 tháng

(2)

Sau phẫu thuật 3 tháng

(3)

Mức độ

ảnh

hưởng

CAT

(n = 16)

Đánh giá biến đổi mức độ ảnh hưởng

của BPTNMT đến chất lượng cuộc sống

bằng thang điểm CAT cho thấy giá trị

trung bình của điểm CAT giảm có ý

nghĩa tại cả 2 thời điểm sau phẫu thuật

1 tháng và 3 tháng Điểm CAT trung bình

giảm rõ rệt từ 19,44 ± 6,57 (CAT chủ yếu

từ 21 - 30 điểm với 57,14%) trước thời

điểm phẫu thuật xuống còn 17,94 ± 5,74

(CAT chủ yếu từ 11 - 20 điểm với

60,00%) và 15,88 ± 5,70 (CAT chủ yếu

từ 11 - 20 điểm với 56,25%) tương ứng

sau phẫu thuật 1 và 3 tháng với p < 0,05

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của

Cooper J.D và CS (1995) [4], sau 3

tháng phẫu thuật giảm thể tích phổi, CAT trung bình từ 17,58 giảm xuống 14,32 Theo Nakano Y và CS (2001), sau phẫu thuật giảm thể tích phổi 6 tháng, chỉ số CAT trung bình giảm từ 15,53 xuống còn 13,28 Tuy nhiên, giá trị CAT ban đầu của BN trước phẫu thuật của các tác giả nước ngoài thường thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi do quá trình tuân thủ điều trị, tầm soát, quản lý BPTNMT hiệu quả hơn ở những nước này Mức độ ảnh hưởng của BPTNMT đến chất lượng cuộc sống đã giảm rõ rệt, do đó chất lượng cuộc sống của BN cũng cải thiện đáng kể

Bảng 5: Biến đổi kết quả các chỉ tiêu chức năng hô hấp trước và sau phẫu thuật

Chức năng hô hấp

(n = 16)

Trước phẫu thuật (1)

Sau phẫu thuật

1 tháng (2) Sau phẫu thuật 3 tháng (3) p

FVC

FEV 1 /FVC

RV

TLC

Trang 6

Các chỉ tiêu thông khí phổi như FVC,

FEV1, FEV1/FVC đều thay đổi không

đáng kể trước và sau phẫu thuật giảm

thể tích phổi, thậm chí FEV1 còn giảm

nhẹ sau phẫu thuật 1 tháng, sau đó lại

tăng ở tháng thứ 3 sau phẫu thuật Sự

thay đổi của FVC, FEV1/FVC không có ý

nghĩa thống kê với p > 0,05 Còn chỉ tiêu

FEV1 tăng lên rõ rệt sau 3 tháng phẫu

thuật, giá trị trung bình của FEV1 từ

43,92 ± 7,21% SLT trước phẫu thuật

tăng lên 53,50 ± 9,46% SLT sau phẫu

thuật 3 tháng, sự thay đổi này có ý nghĩa

thống kê (p < 0,05), điều này tương đồng

với thay đổi giai đoạn bệnh và cải thiện

các triệu chứng lâm sàng Sau phẫu

thuật 1 tháng, nhiều BN còn đau tại vết

mổ, phải dùng các thuốc giảm đau chữa

triệu chứng, nên ảnh hưởng nhiều đến

thao tác và kết quả đo thông khí phổi Sau 3 tháng, phẫu thuật kết hợp với tập thở, đau ít tại vết mổ nên BN đo thông khí phổi tốt hơn và kết quả FVC, FEV1, FEV1/FVC đều tăng lên rõ rệt theo chiều hướng tích cực Các chỉ tiêu thể tích khí cặn RV, dung tích toàn phổi TLC đều thay đổi đáng kể trước và sau phẫu thuật giảm thể tích phổi Chỉ tiêu RV trung bình 224,94 ± 53,02% SLT trước phẫu thuật xuống còn 180,69 ± 27,49% SLT ở tháng thứ nhất sau phẫu thuật và giảm xuống tiếp ở tháng thứ 3 sau phẫu thuật còn 165,63 ± 29,23% SLT Chỉ tiêu TLC trung bình 138,94 ± 13,96% SLT trước phẫu thuật giảm xuống còn 125,56 ± 10,74% SLT ở tháng thứ nhất sau phẫu thuật và 120,38 ± 10,35% SLT ở tháng thứ 3 sau phẫu thuật

138,94

224,94

180,69

165,63

0

50

100

150

200

250

Trước PT (n=16) Sau PT 1 tháng (n=16) Sau PT 3 tháng (n=16)

TLC RV FEV1

Biểu đồ 1: Biến đổi chỉ tiêu FEV1, RV, TLC trước và sau phẫu thuật

Chỉ tiêu RV, TLC sau 3 tháng phẫu

thuật đều giảm nhiều hơn so với sau

phẫu thuật 1 tháng và mức độ giảm sau

phẫu thuật 1 tháng và 3 tháng của RV

nhiều hơn so với TLC Sự thay đổi của

RV và TLC trước và sau phẫu thuật

1 tháng và 3 tháng có ý nghĩa thống kê

(p < 0,05); chứng tỏ phẫu thuật cắt giảm

thể tích phổi đúng vào vị trí khí phế thũng chiếm ưu thế, làm cho phần phổi lành xung quanh có điều kiện nở ra, giảm thể tích khí cặn và giảm dung tích toàn phổi Theo Cooper J.D và CS (1995) [4], các chỉ tiêu thông khí phổi trước và sau phẫu thuật 3 tháng có cải thiện rõ rệt, FEV1 từ 25% SLT (trước

% SLT

FEV1 (Thời gian) Trước phẫu thuật (n = 16) Sau phẫu thuật 1 (n = 16) Sau phẫu thuật 2 (n = 16)

Trang 7

phẫu thuật) tăng lên 44% SLT (sau phẫu

thuật 3 tháng), FVC từ 56% SLT (trước

phẫu thuật) tăng lên 73% SLT (sau phẫu

thuật 3 tháng), RV từ 288% SLT (trước

phẫu thuật) giảm còn 177% SLT (sau

phẫu thuật 3 tháng), TLC từ 140% SLT

(trước phẫu thuật) giảm còn 110% SLT

(sau phẫu thuật 3 tháng) Pompeo E và

CS (2012) [8] theo dõi dọc BN BPTNMT

sau phẫu thuật giảm thể tích phổi với thời

gian dài hơn (6 tháng, 9 tháng, 1 năm)… cho

thấy FVC, FEV1, RV, TLC, PaO2, PaCO2 đều cải thiện đáng kể và có ý nghĩa thống kê Chính vì vậy, cần quan sát theo dõi dọc trong thời gian dài hơn sau phẫu thuật giảm thể tích phổi để đánh giá cụ thể, chính xác hơn sự biến đổi về chức năng hô hấp của BN; đồng thời đánh giá toàn diện không những hiệu quả trước mắt mà còn hiệu quả lâu dài của kỹ thuật phẫu thuật giảm thể tích phổi ở BN BPTNMT

Bảng 6: Biến đổi chỉ tiêu khí máu động mạch trước và sau phẫu thuật

Khí máu động mạch

(n = 16) Trước phẫu thuật (1) Sau phẫu thuật 1 tháng (2) Sau phẫu thuật 3 tháng (3) p

pH

Giá trị trung bình của các chỉ tiêu

PaCO2, pH không thay đổi rõ ràng trước

phẫu thuật và sau phẫu thuật 1 tháng và

3 tháng (p > 0,05); nhưng giá trị trung

bình của PaO2 và SaO2 thay đổi sau

3 tháng phẫu thuật, sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05 Chỉ tiêu

PaO2 trung bình từ 79,00 ± 5,48 mmHg

trước phẫu thuật tăng lên 81,56 ± 10,63

mmHg sau phẫu thuật 3 tháng, còn

PaCO2 không thay đổi đáng kể, từ 40,69

± 6,02 mmHg trước phẫu thuật giảm

xuống 38,63 ± 5,83 mmHg sau phẫu thuật

3 tháng Trong nghiên cứu của Cooper J.D và CS (1995) [4], PaO2 trước phẫu thuật trung bình 64 mmHg, sau phẫu thuật 3 tháng tăng 70 mmHg, còn PaCO2 trước phẫu thuật 41 mmHg, sau phẫu thuật 3 tháng giảm xuống 39 mmHg Các chỉ tiêu khí máu như PaO2, SaO2 cải thiện sau phẫu thuật giảm thể tích phổi

3 tháng, qua đó gián tiếp thể hiện chức năng trao đổi khí của phổi có cải thiện tích cực

Trang 8

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 16 BN BPTNMT được

phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi, chúng

tôi thấy:

+ Sau phẫu thuật 1 tháng: tỷ lệ BN ho,

khạc đờm, khó thở, chỉ số CAT, RV và

TLC giảm không nhiều FEV1 và PaO2,

SaO2 giảm

+ Sau phẫu thuật 3 tháng: tỷ lệ BN ho,

khạc đờm, khó thở, chỉ số CAT, RV và

TLC đều giảm rõ rệt, RV giảm nhiều hơn

TLC Test đi bộ 6 phút, FEV1, PaO2 và

SaO2 tăng rõ rệt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đồng Khắc Hưng, Tạ Bá Thắng Điều trị

giảm thể tích phổi trong bệnh phổi tắc nghẽn

mạn tính (sách chuyên khảo) Nhà xuất bản Y

học Hà Nội 2015

2 Đinh Ngọc Sỹ Dịch tễ học bệnh phổi tắc

nghẽn mạn tính ở Việt Nam và các biện pháp

dự phòng, điều trị Báo cáo kết quả nghiên

cứu đề tài cấp Nhà nước Hà Nội 2010

3 Andrew K, Alain V, Samer A.M et al

Core Topics in Cardiothoracic Critical Care, chapter 52: Lung Volume Reduction Surgery

2008, pp.390-394

4 Cooper J.D, Trulock E.P, Triantafillou A.N et al Bilateral pneumectomy (volume

reduction) for chronic obstructive pulmonary disease J Thorac Surg 1995, 109, pp.106-119

5 Geddes D, Davies M, Koyama H et al

Effect of lung volume-reduction surgery in patients with severe emphysema N Engl J Med 2000, 343, pp.239-245

6 Global Initiative For Chronic Obtructive Lung Disease Global Strategy for the diagnois,

management and prevantion of Chronic Obtructive Pulmonary Disease 2015

7 Hamacher J, Buchi S, Georgescu C.L et

at Improved quality of life after lung volume reduction surgery Journals Ltd 2002, pp.54-60

8 Pompeo E, Rogliani P, Tacconi F et

al Randomized comparison of awake nonresectional versus nonawake resectional lung volume reduction surgery J Thorac Surg

2012, 143, pp.47-54

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w