1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chẩn đoán và điều trị ung thư hệ tiêu hóa ở bệnh nhân phồng động mạch chủ bụng dưới động mạch thận

7 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 206,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Tìm tần xuất gặp ung thư hệ tiêu hoá ở các bệnh nhân P/ĐMC/B và phân tích những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị phẫu thuật. Phương pháp: Tiền cứu các trường hợp lâm sàng P/ĐMC/B có các bệnh lý ung thư thuộc hệ tiêu hoá từ 7/1998 đến 6/2000 tại BV Bình Dân TP. HCM.

Trang 1

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ HỆ TIÊU HÓA Ở BỆNH NHÂN PHỒNG ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG DƯỚI ĐỘNG MẠCH THẬN

Cao Văn Thịnh*, Văn Tần*

TÓM TẮT

Tổng quan và đặt vấn đề: Ung thư hệ tiêu hoá ở các bệnh nhân có phồng động mạch chủ bụng

(P/ĐMC/B) dưới động mạch thận tương đối ít gặp Chẩn đoán bệnh phải dựa nhiều vào kết quả của chẩn đoán hình ảnh, lâm sàng khó xác định rõ ràng Đa số các bệnh nhân đều được phát hiện muộn nên điều trị thường khó khăn Chỉ định phẫu thuật phụ thuộc nhiều vào tình trạng tổn thương tại túi phồng và giai đoạn tiến triển của khối ung thư

Mục tiêu: Tìm tần xuất gặp ung thư hệ tiêu hoá ở các bệnh nhân P/ĐMC/B và phân tích những khó khăn

trong chẩn đoán và điều trị phẫu thuật

Phương pháp: Tiền cứu các trường hợp lâm sàng P/ĐMC/B có các bệnh lý ung thư thuộc hệ tiêu hoá từ

7/1998 đến 6/2000 tại BV Bình Dân TP HCM

Kết quả: Qua 2 năm đã gặp 126 trường hợp P/ĐMC/B, với 55,6% trường hợp đã được phẫu thuật cắt ghép

đoạn động mạch phồng và 44,4% trường hợp được theo dõi Trong đó 13 trường hợp có kèm bệnh lý ung thư, chiếm 10,3%, gồm 1 nữ, 7 nam ; trung bình 73 tuổi Có 4 trường hợp được ghi nhận là ung thư hệ tiêu hoá, chiếm 3,2% trong tổng số các Bn P/ĐMC/B và chiếm 30,8% trong các Bn P/ĐMC/B có kết hợp ung thư Có 3 trường hợp vào viện với chẩn đoán P/ĐMC/B, đã được phẫu thuật do túi phồng vỡ hoặc dọa vỡ (trong đó có 1 trường hợp kết hợp cắt khối u, 2 trường hợp khác chỉ sinh thiết khối u) 1 trường hợp khác vào viện với chẩn đoán K dạ dày, đã được phẫu thuật cắt 2/3 dạ dày, theo dõi chưa phẫu thuật P/ĐMC/B do túi phồng nhỏ, không có triệu chứng

Bàn luận: Chỉ gặp 4/126 (3,2%) trường hợp ung thư hệ tiêu hóa ở Bn có P/ĐMC/B Ung thư hệ tiêu hóa ở

Bn có P/ĐMC/B chưa được chủ động chẩn đoán trên lâm sàng, chỉ mới được phát hiện ở giai đoạn muộn bằng các chẩn đoán hình ảnh Chỉ định mổ P/ĐMC/B khi có bệnh ung thư kết hợp trong các trường hợp vỡ, dọa vỡ túi phồng Theo dõi chưa phẫu thuật P/ĐMC/B khi túi phồng nhỏ, chưa biến chứng Tùy vào giai đoạn tiến triển của ung thư mà đặt vấn đề có phẫu thuật cắt bỏ khối u hay không

Kết luận: Ung thư hệ tiêu hóa ở Bn có P/ĐMC/B hiếm gặp, nhưng chiếm tới 1/3 các trường hợp P/ĐMC/B có bệnh lý ung thư kết hợp Chẩn đoán ung thư hệ tiêu hóa ở Bn có P/ĐMC/B thường muộn và thiếu chủ động Điều trị phẫu thuật ung thư hệ tiêu hóa ở Bn có P/ĐMC/B dựa trên sự cân nhắc giữa tổn thương của túi phồng ĐMC và giai đoạn tiến triển của khối ung thư

SUMMARY

DIAGNOSIS AND TREATMENT OF ALIMENTARY TRACT’S CANCERS AT

INFRARENAL ABDOMINAL AORTIC ANEURYSM PATIENTS

Cao Van Thinh, Van Tan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 1 * 2004: 509 - 515

Background: Alimentary tract’s cancers at infrarenal abdominal aortic aneurysm (iaaa) patients are rare

Diagnosis is based on imaging techniques Clinical examination is difficult to define tumors clearly Most of these patients were detected lately, so treatment was difficult Surgical indications depended on the status of

*Bộ môn Ngoại tổng quát TTĐT - Khoa lồng ngực- mạch máu BV Bình Dân TP.HCM

Trang 2

iaaa and progressivstages of tumors

Purpose : Find out the incidence of alimentry tract’s cancers at iaaa patients and analyse the difficulties in

diagnosis and treatment of these cancers

Materials and methods: Retrospective study at binh dân hospital-ho chi minh city from 7/1998 to 6/2000 Results : from 126 iaaa case in which 55,6% were operated and 44,4% were followed up These were 13

cases with coincidental cancer diseases (10,3%), including 12 male and 1 female, average age :73 these were 4/13 cases with alimentary tract’s cancers (3,2% totally) or 30,8% of iaaa with coincidental cancer diseases : 3 cases admitted with diagnosis of iaaa and 1 case admitted with diagnosis of gastric cancer

Discussions: incidence of limentry tract’s cancers at iaaa patients : 4/126 (3,2%) They are not diagnosed

actively in clinic, and only detected at late stage by imging techniques Surgical indications for iaaa at patient cancer diseases when they are in ruptured or impending ruptured status, and following up at patients with small iaaa Surgical resection of tumors were based on stages of cancer

Conclusions: alimentry tract’s cancers are rare in iaaa patients, but it occurs about 1/3 iaaa cases with

coincidental cancer diseases Diagnosis is usually late Treatment is based on lesions of iaaa and stages of tumors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các bệnh lý mạch máu thường gặp bao

gồm cả phồng động mạch chủ bụng (P/ĐMC/B) dưới

động mạch thận, bệnh nhân thường có một hoặc

nhiều bệnh lý kết hợp(3,7,9) với trên 95% nguyên nhân

do xơ mỡ động mạch và chủ yếu gặp ở người lớn tuổi

Vì vậy có thể giải thích cho tình trạng có nhiều bệnh

lý kết hợp như quan điểm xơ mỡ động mạch là bệnh

hệ thống liên quan tới toàn bộ hệ thống các động

mạch Hoặc cho rằng ở đối tượng người lớn tuổi

thường làm gia tăng nhiều bệnh lý mạn tính, đặc biệt

hơn là các bệnh lý ác tính

Có khá nhiều các bệnh kết hợp trong P/ĐMC/B,

đáng lưu ý nhất là các bệnh do tổn thương hệ động

mạch (cảnh, vành tim, thận, chậu, đùi), do xơ mỡ

động mạch và các tác động từ hậu quả của suy đa cơ

quan (bệnh lý tim, phổi, thận ) Bên cạnh đó bệnh lý

ung thư với tính chất tiến triển và thời gian sống giới

hạn, tất yếu ảnh hưởng tới chiến lược điều trị

P/ĐMC/B và tiên lượng bệnh(2,4,6,8,9)

Trên thế giới,khi nghiên cứu các bệnh lý kết hợp

của P/ĐMC/B thì bệnh lý ung thư được các tác giả coi

như một lý do chống chỉ định tương đối trong phẫu

thuật cắt ghép đoạn động mạch phồng(4) Tới nay đã

có nhiều nghiên cứu về vấn đề này(1,2,5,10) Tuy nhiên

chỉ định điều trị rất được cân nhắc và áp dụng trên

từng người bệnh cụ thể dựa vào tổn thương của túi phồng động mạch và tình trạng ung thư tiến triển mà có sự lựa chọn phù hợp Chính điều đó đã mở đường cho những nghiên cứu thêm liên quan đến vấn đề này

Ở Việt Nam, phẫu thuật P/ĐMC/B đã được thực hiện tại nhiều trung tâm y tế lớn Việc đánh giá các bệnh lý kết hợp luôn được coi trọng trong chỉ định phẫu thuật và tiên lượng sau phẫu thuật, do có sự ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng bệnh và tỉ lệ tử vong Song tới nay còn ít các nghiên cứu về mối liên hệ giữa P/ĐMC/B với các bệnh lý ung thư(11) Ngay trong lĩnh vực của các bệnh lý ung thư thì ung thư hệ tiêu hoá với các tổn thương khu trú nhiều ở vùng bụng lại có mối liên hệ đặc biệt với P/ĐMC/B trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị bệnh Bệnh nhân sẽ vào viện với các triệu chứng chính của P/ĐMC/B hay của bệnh lý ung thư hệ tiêu hóa, các nhà lâm sàng có dễ dàng và chủ động phát hiện hai bệnh lý kết hợp này hay không và những chỉ định điều trị được đặt ra dựa trên cơ sở nào trong từng tình huống cụ thể của 2 bệnh lý có đặc thù khác nhau ở trên cùng một người bệnh

Dựa vào những lý luận và thực tiễn lâm sàng, nghiên cứu này phân tích các trường hợp P/ĐMC/B có bệnh lý ung thư đi kèm đã gặp tại BV Bình Dân

TP.HCM từ 7/1998 đến 6/2000 nhằm đánh giá tần

xuất có thể gặp của ung thư hệ tiêu hoá ở các bệnh

Trang 3

nhân P/ĐMC/B và phân tích những khó khăn trong

việc chẩn đoán và điều trị phẫu thuật P/ĐMC/B cũng

như phẫu thuật cắt khối ung thư hệ tiêu hoá.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp

Tiền cứu, tập hợp các trường hợp lâm sàng

Bệnh nhân (Bn) bao gồm toàn bộ các trường hợp

được chẩn đoán PĐMCB/DĐMT nhập viện điều trị nội trú

tại khoa phẫu thuật lồng ngực mạch máu BV Bình Dân

TP.HCM, trong thời gian từ 7/1998 đến 6/2000

Các trường hợp đủ điều kiện để thu thập trong

nghiên cứu, được theo dõi và làm bệnh án “nghiên

cứu khoa học”

Phân tích tất cả các trường hợp PĐMCB/DĐMT

mà có bệnh lý ung thư kết hợp (trong 2 nhóm được

phẫu thuật và không phẫu thuật), dựa vào các dữ liệu từ

bệnh án mẫu, kết quả điều trị và theo dõi sau xuất viện

Thời gian theo dõi sau xuất viện từ 1 đến 3 năm,

với tỉ lệ > 80% số Bn

Các dữ liệu được thu thập và sử lý trên máy vi tính

KẾT QUẢ

Qua 2 năm từ 7/1998 – 6/2000 khoa phẫu thuật

lồng ngực và mạch máu BV Bình Dân TP.HCM đã

nhận điều trị cho 126 trường hợp phồng động mạch

chủ dưới động mạch thận (PĐMCB/DĐMT)

Đã có 70/126 trường hợp PĐMCB/DĐMT được

phẫu thuật cắt ghép đoạn động mạch chủ phồng,

chiếm 55,6%, và 56/126 trường hợp theo dõi không

phẫu thuật cắt ghép đoạn động mạch chủ phồng, chiếm 44,4%

Trong số 126 trường hợp PĐMCB/DĐMT, chúng tôi có gặp 13 trường hợp có kèm theo bệnh lý ung thư, chiếm tỉ lệ 10,3%

Bao gồm 1 nữ, 12 nam (nữ/nam:1/12)

Tuổi trung bình : 73 tuổi

Xem xét 13 trường hợp P/ĐMC/B có bệnh lý ung thư đi kèm, nhận thấy 4 trường hợp (30,8%) là ung thư hệ tiêu hoá Như vậy tính chung toàn nhóm, Bn P/ĐMC/B có ung thư hệ tiêu hoá là 4/126 trường hợp, chiếm 3,2%

Bảng 1 PĐMCB/DĐMT có kèm ung thư theo nhóm

điều trị

P/ĐMC/B

Không phẫu thuật P/ĐMC/B

Tổng

Bảng 2 Tỉ lệ gặp các loại ung thư ở Bn PĐMCB/DĐMT

Các loại ung thư Cố bệnh nhân

(n=13)

Tỉ lệ

Như vậy ung thư hệ tiêu hóa ở Bn P/ĐMC/B chím gần 1/3 các trường hợp

Bảng 3 PĐMCB/DĐMT có kèm theo bệnh lý ung thư kết hợp

Stt Tuổi

Giới

Triệu chứng lâm

sàng

K.thước ngang Túi phồng (siêu âm)

Loại ung thư

Đi kèm

Phương pháp điều trị p/đmc/b

Chỉ định điều trị

Tổn thương túi phồng P/đmc/b

Kết quả theo dõi

1938

Đau bụng, Có U cạnh rốn

ruột , di căn Phổi phải

Phẫu thuật P/ĐMC/B sinh thiết hạch M/T, mổ U phổi

Túi phồngdọa vỡ

Túi phồng < 5cm, có hoại tử,bóc tách thành mạch

Tử vong sau mổ 10 tháng

2 Bn Nam

1929

Đau bụng, Có U cạnh rốn

căn gan

Phẫu thuật P/ĐMC/B sinh thiết khối U

Túi phồng vỡ

Túi phồng >5cm, đã vỡ vào sau phúc mạc

Tử vong sau mổ 3 tháng

1930

Có khối U cạnh rốn bên trái

4,3 cm K Bờ cong nhỏ

dạ dầy

Theo dõi điều trị nội ,có mổ K dạ

BN từ chối mổ

Túi phồng < 5cm, không có dấu hiệu

Tử vong sau mổ 17 tháng

Trang 4

dầy P/ĐMC/B vỡ hay dọa vỡ

4 Bn Nam

1922

Đau bụng thượng

vị + U cạnh rốn

5,2cm K thân tụy ăn

lan

Phẫu thuật P/ĐMC/B, sinh thiết U và nối vị tràng

Túi phồngdoạ vỡ

Túi phồng >5cm, có hoại tử, bóc tách

Tử vong sau mổ 6 tháng

1922

Đau bụng thượng

vị + U cạnh rốn

P/ĐMC/B

Túi phồng vỡ

Túi phồng >5cm, đã vỡ vào sau phúc mạc

Tử vong sau mổ 6 tháng

1925

Có khối U cạnh rốn

bên trái

Theo dõi điều trị nội ,có mổ K phổi

P/ĐMC/B không triệu chứng

Túi phồng < 5cm,

Bn không đau bụng

Tử vong sau mổ K phổi

1921

Có khối U cạnh rốn

4,2cm K vòm họng Theo dõi điều trị

nội khoa

P/ĐMC/B không triệu chứngû

Túi phồng < 5cm,

Bn không đau bụng

Tử vong sau

18 tháng

1924

Có khối U cạnh rốn

tuyến đã mổ

Theo dõi điều trị nội khoa

P/ĐMC/B không triệu chứngû

Túi phồng < 5cm,

Bn không đau bụng

Còn theo dõi (sau 2,5 năm)

1916

Không có triệu chứng

đã mổ

Theo dõi điều trị nội khoa

P/ĐMC/B không triệu chứng

Túi phồng < 5cm,

Bn không đau bụng

Còn theo dõi (sau 2,5 năm)

1928

Không có triệu chứng

trái đã mổ

Theo dõi điều trị nội khoa

P/ĐMC/B không triệu chứng

Túi phồng < 5cm,

Bn không đau bụng

Còn theo dõi (sau 3 năm)

1918

Đau bụng, Có U cạnh rốn

Điều trị nội khoa

Do K Tiến triển xấu

Túi phồng

< 5cm, không vỡ, có dọa vỡ

Tử vong sau

XV 1 tháng

1923

Không có triệu chứng

thất gây chèn ép

Theo dõi và Điều trị nội khoa

Do K tiến triển xấu

Túi phồng < 5cm, không vỡ, có doạ vỡ

Tử vong sau

XV

½ tháng

1920

Có khối U cạnh rốn

(đã mổ)

Phẫu thuật P/ĐMC/B

K có tiên lượng tốt

Túi phồng >5cm, có hoại tử, bóc tách

Còn theo dõi (sau 3,5 năm)

Bảng 4 Chẩn đoán các trường hợp Bn P/ĐMC/B có

ung thư hệ tiêu hóa

Bn P/ĐMC/B có

ung thư hệ

tiêu hoá

Chẩn đoán

trước mổ

Chẩn đoán sau mổ

Ghi chú

mạc treo ruột non

Kích thước khối

u mạc treo 2cmx3cm Bệnh án II P/ĐMC/B + U

gan hạ phân

thùy 7,8

P/ĐMC/B + K tâm vị do căn gan vàphúc mạc

Vùng tâm vị có khối thâm nhiễm không gây tắc

Bệnh án III K dạ dày P/ĐMC/B + K

dạ dày vùng hang vị

K hang vị có làm hẹp môn vị

P/ĐM chậu (T) + Thoát vị bẹn phải

P/ĐMC/B + P/ĐM chậu (T) + K thân tụy ăn lan + Thoát

vị bẹn phải

K vùng thân tụy thâm nhiễm gây chít hẹp lòng tá tràng

BÀN LUẬN

Tần xuất gặp bệnh lý ung thư hệ tiêu hoá ở Bn P/ĐMC/B

Bảng 1 cho thẩy tỉ lệ mắc bệnh ung thư nói chung theo từng nhóm điều trị phẫu thuật hay bảo tồn P/ĐMC/B Tính chung P/ĐMC/B kết hợp với một loại ung thư gặp chừng 10,3% Ở nhóm theo dõi

Trang 5

không mổ P/ĐMC/B đã có tiû lệ người mắc bệnh ung

thư lớn hơn gần 3 lần so với nhóm phẫu thuật Phải

chăng do có bệnh ung thư đi kèm mà chỉ mổ

P/ĐMC/B trở nên khắt khe hơn Nếu chỉ tính riêng

các trường hợp bệnh nhân có ung thư hệ tiêu hóa, tỉ

lệ gặp chung là 3,2% Nhưng so với các loại ung thư

khác có thể gặp ở các Bn P/ĐMC/B thì ung thư của hệ

tiêu hoá đã chiếm tới 30,8%

Bệnh lý ung thư được coi là một trong các bệnh

nặng đi kèm dẫn đến chống chỉ định phẫu thuật

P/ĐMC/B(4,9) Theo Crawford(2) trong 25 năm, tác giả

gặp 35/348 trường hợp (10,5%) P/ĐMC/B có kết hợp

với một bệnh lý ung thư Tại Mayo clinic tiû lệ này

là13,7% (1) Qua nhiều nghiên cứu, người ta còn thấy

rằng trong các bệnh kết hợp ở các bệnh nhân

P/ĐMC/B có một số bệnh gây ảnh hưởng đáng kể tới

tiên lượng, thường gặp nhất là các bệnh tim mạch

(cao huyết áp, bệnh tim như thiếu máu cơ tim, loạn

nhịp, suy tim ) Các tổn thương của động mạch chậu

đùi hai bên (phồng, hẹp tắc mạch gây thiếu máu nuôi

chi) Các bệnh phổi (tâm phế mãn, viêm phổi, lao

phổi) Các rối loạn chức năng bài tiết của thận và

các bệnh lý ung thư kết hợp Việc đánh giá tổn

thương của các cơ quan (giai đoạn trước và sau phẫu

thuật) có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ định phẫu

thuật hay săn sóc trong và sau mổ Một nghiên cứu

trước đây, chúng tôi thấy trung bình mỗi bệnh nhân

P/ĐMC/B có 02 bệnh lý kết hợp (trong khoảng từ 0 tới

4 bệnh đi kèm) Tiên lượng của bệnh nhân phụ thuộc

chủ yếu vào tổn thương của túi phồng ĐMC và các

bệnh lý kết hợp

Chẩn đoán ung thư hệ tiêu hoá ở BN

P/ĐMC/B

Qua phân tích 04 bệnh án của các bệnh nhân

P/ĐMC/B có ung thư hệ tiêu hoá (bảng 3 và 4) phần

nào cho thấy những tình huống có thể xảy ra trên

lâm sàng là tương đối phức tạp Người bệnh lớn tuổi,

có nhiều bệnh kèm theo và phần lớn đã được khám

hoặc điều trị một bệnh nội khoa nào đó ở tuyến cơ sở

trước khi chuyển viện Hơn nữa cả Bn P/ĐMC/B và đa

số các Bn ung thư của hệ tiêu hoá đều là những bệnh

lý có tổn thương tại ổ bụng với nhiều triệu chứng khó

phân biệt hay không điển hình Ngay trong một số trường hợp khi gặp túi phồng ĐMC nhỏ, không có triệu chứng hoặc trường hợp khối u hệ tiêu hoá còn nhỏ và chưa có biến chứng như vậy đôi khi cũng khó phát hiện cùng lúc 2 loại tổn thương có đặc thù khác nhau

Trong một số các trường hợp khác, cần lưu ý vai trò của những chuyên gia thực hiện siêu âm, vì những mô tả của siêu âm về tình trạng ổ bụng sẽ là tiền đề cho các thăm dò tiếp theo như nội soi ống tiêu hoá, chụp CT Scan vùng bụng Ngoài ra, các Bác sĩ lâm sàng cũng cần tỉnh táo trước những triệu chứng mơ hồ ở vùng bụng Chính sự không điền hình của các triệu chứng lâm sàng, khiến việc các Bác sĩ lâm sàng dễ dàng hướng tới một chẩn đoán có tính chất “Chuyên khoa” nhiều hơn

Chỉ định điều trị trong ung thư hệ tiêu hoá ở Bn P/ĐMC/B:

Qua việc tập hợp tất cả các chỉ định đã được đề nghị trong phẫu thuật P/ĐMC/B ở nhiều tạp chí tiếng Anh được xuất bản trong 25 năm, Hollier LH và cộng sự(4) đã đi tới đề xuất một công thức dành cho từng nhóm bệnh như: P/ĐMC/B vỡ, P/ĐMC/B to nhanh hay có triệu chứng, P/ĐMC/B không triệu chứng, P/ĐMC/B có biến chứng và P/ĐMC/B không điển hình Chống chỉ định tương đối khi có ảnh hưởng của một bệnh khác kết hợp làm Bn tử vong sớm hơn thời gian bình thường mà Bn đó có thể sống sau phẫu thuật P/ĐMC/B Các trường hợp mổ lựa chọn cũng chống chỉ định tương đối nếu Bn mắc bệnh kết hợp chỉ có cuộc sống dưới 2 năm Tuy nhiên các tác giả cũng lưu ý không nên quá khắt khe với các tiêu chuẩn đề ra khi xuất hiện các biến chứng của túi phồng ảnh hưởng tức thì tới sự sống còn(3) Như mổ khẩn cấp trong trường hợp vỡ, mổ cấp cứu trong các trường hợp P/ĐMC/B có triệu chứng(7)

Trong các trường hợp Bn ung thư hệ tiêu hóa đã phẫu thuật P/ĐMC/B, chúng tôi đã gặp 3 trường hợp chẩn đoán trước mổ có dọa vỡ và vỡ túi phồng, tổn thương ghi nhận trong mổ cho thấy 1 trường hợp vỡ,

2 trường hợp thành túi phồng đã hoại tử bóc tách và

Trang 6

có thrombus (bảng 3)

Khi đánh giá ảnh hưởng của bệnh lý đi kèm tới

những khó khăn trong kỹ thuật Crawford và cộng

sư(2) còn nhấn mạnh sự viêm dính,thâm nhiễm của

các tổn thương kế cận túi phồng gây hạn chế các

thao tác.Tương tự Compagnoni và cộng sự(1) gặp 1

trường hợp thâm nhiễm ung thư vào tĩnh mạch chủ

dưới nên chỉ có thể sinh thiết tổn thương

Các trường hợp P/ĐMC/B có ung thư kết hợp

được đề nghị chưa phẫu thuật khi túi phồng có đường

kính nhỏ < 5cm, không có triệu chứng và các biến

chứng đe dọa, hoặc Bn trong tình trạng có ung thư

tiến triển nặng, Bn từ chối điều trị phẫu thuật như

quan điểm của nhiều tác giả(3,4,7) Ernst cho rằng với

các ung thư giới hạn thời gian sống thì nên loại trừ

vấn đề mổ túi phồng Nếu lựa chọn phẫu thuật các

bệnh lý kết hợp trước, thì sau mổ phải luôn nghĩ tới

khả năng vỡ túi phồng ĐMC và cần rút ngắn thời

gian chờ đợi phẫu thuật của P/ĐMC/B

Đối với các túi P/ĐMC/B nhỏ < 4cm có thể theo

dõi trên siêu âm mỗi 6 tháng/ lần, loại túi phồng từ 4

đến 5cm nên siêu âm 3 tháng/lần, nhằm đánh giá

mức độ phát triển của túi phồng và phát hiện các

biến chứng có thể xảy ra

Về điều trị bệnh lý ung thư còn tùy theo từng

trường hợp

Quyết định việc điều trị nhóm bệnh kết hợp này

phụ thuộc vào sự cân nhắc giữa khả năng vỡ túi

phồng động mạch và tình trạng của tổ chức ung thư

đi kèm

Tiên lượng các trường hợp ung thư hệ

tiêu hoá ở Bn P/ĐMC/B

Tỉ lệ tử vong sau mổ P/ĐMC/B phụ thuộc vào

nhiều yếu tố, con số thay đổi theo từng thời điểm và

nghiên cứu của mỗi tác giả (3),(7) : Theo Sullivan mổ

phiên tử vong 5,1% (N=117), mổ cấp cứu tử vong

26% (N=19) Tương tự năm 1991 Olsen cho tỉ lệ là

4,8% (N=287) và 17,2% (N=151) Tuy nhiên tỉ lệ

này sẽ thay đổi nhiều nếu chỉ tính riêng các trường

hợp vỡ túi phồng hay trong nhóm có bệnh lý kết hợp

Như vậy các trường hợp P/ĐMC/B khi kèm bệnh lý ung thư hện tiêu hoá , cả hai nhóm điều trị (nội khoa hay phẫu thuật) đều có tiên lượng nặng, mặc dù vào thời điểm có chỉ định phẫu thuật P/ĐMC/B là phù hợp với tổn thương của túi phồng và tình trạng chung của bệnh nhân cho phép phẫu thuật Các trường hợp điều trị bảo tồn chủ yếu do P/ĐMC/B nhỏ hoặc ung

thư đã tiến triển tới giai đoạn muộn

KẾT LUẬN

Ung thư hệ tiêu hoá ở bệnh nhân có P/ĐMC/B khá hiếm gặp Tuy nhiên loại bệnh lý này chiếm gần 1/3 các trường hợp P/ĐMC/B có ung thư đi kèm

Do nhiều lý do, việc chẩn đoán ung thư hệ tiêu hóa ở Bn P/ĐMC/B thường muộn và thiếu chủ động Điều trị phẫu thuật ung thư hệ tiêu hóa ở Bn P/ĐMC/B được dựa trên sự cân nhắc giữa tình trạng tổn thương của túi phồng ĐM chủ bụng và giai đoạn tiến triển của bệnh ung thư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- COMPAGNON G., MASUMURA J.S et al (1997) Sarcome Développé à partir d’un Anévrysme de l’aorte abdominale.Ann Chir Vasc;11.pp 183-185

2- CRAWFORD E.S., SALEH S.A.et al (1981) Infrarenal Abdominal Aortic Aneurysm Factors influencing survival after operation performed over a 25 year period Ann Surg ;193 pp 699-709

3- ERNST C.B., TYNDALL S.H (1995) Infarenal Abdominal Aortic Aneurysms In Vascular surgery theory and practice.Allan D Callow, Calvin B.Ernst Pretice-hall international inc ; pp 921-937

4- HOLLIER L.H ET AL (1992) Recommended indication for operative treatment of abdominal aortic aneurysms J Vasc Surg;15.pp 1046-1053

5- ISRAELI D., DARDIK H ET AL (1996) Pelvic radiation therapy as a risk factor for ischemic colitis complicating abdominal aortic reconstruction J Vasc Surg; 23.pp 706-709

6- JOHANSSON G et al (1990) Survival in patients with abdominal aortic aneuvrysms comparison between operative and nonoperative management Eur J Vasc Surg, Vol 4, pp 497-502

7- MITCHELL M.B et al (1995) Infrarenal Aortic Aneurysms In Vascular surgery, Robert B.Rutherford,

4 th ed W.B.Saunders company; pp 1032-1060

8- PERKO M.J., SCHROEDER T.V et al (1993) Histoire naturelle des anévryses de l’aorte abdominal : Etude de

63 malades non opéré Ann Chir Vasc ; 7 pp 113-116 9- PEVEC W.C (1995), Morbidity associated with vascular surgery.In:Vascular surgery theory and

Trang 7

practice.Allan D Callow, Calvin B Ernst.Prentice-hall

international inc; pp 1373-1395

10- ROUFFET F., BUSY F., KOHLMANNG (1978),

Association anévisme de l’aorte abdominale et tumeur

de l’uretère Ann Urologie ; pp 23-26

11- CAO VĂN THỊNH, VĂN TẦN, NGUYỄN SÀO TRUNG (1999), “Bệnh lý kết hợp giữa phồng động mạch chủ bụng dưới động mạch thận và ung thư” Y học TP HCM, Phụ bản 3(4), Tr 204-209

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w