1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của tư vấn và đi bộ trên phụ nữ có rối loạn quanh mãn kinh tại Bệnh viện Từ Dũ (2013)

7 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 431,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của tư vấn và đi bộ trên phụ nữ có loạn quanh mãn kinh và xác định các yếu tố ảnh hưởng lên kết quả của cách can thiệp này tại bệnh viện Từ Dũ. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

CÓ RỐI LOẠN QUANH MÃN KINH TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ (2013) 

Trịnh Hoài Ngọc*, Võ Minh Tuấn*, Nguyễn Thị Minh Thu* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của tư vấn và đi bộ trên phụ nữ có loạn quanh mãn kinh và xác định các yếu 

tố ảnh hưởng lên kết quả của cách can thiệp này tại bệnh viện Từ Dũ. 

Phương  pháp:  Nghiên cứu giả thực nghiệm được thực hiện trên phụ nữ 45‐55 tuổi có triệu chứng mãn 

kinh tại bệnh viện  Từ  Dũ  từ  11/2012  đến  4/2013.  89  phụ  nữ  được  nhận  vào  chương  trình  tư  vấn  và  đi  bộ.  Những người tham gia đi bộ là trung bình 3 ngày mỗi tuần trong 12 tuần. Hiệu quả của can thiệp được đánh  giá bằng sự cải thiện chất lượng cuộc sống theo thang điểm Women’s Health Questionaire (WHQ) sau 3 tháng. 

Kết  quả:  Chất lượng cuộc sống cải thiện có ý nghĩa thống kê ở các lĩnh vực triệu chứng cơ thể và triệu 

chứng vận mạch. Sau tư vấn, khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống ở nhóm đi bộ >3 ngày một tuần tăng lên  2,48 lần (KTC 95% 1,05 – 5,83) so với nhóm đi bộ ≤3 ngày một tuần. Phụ nữ thừa cân làm giảm khả năng cải  thiện chất lượng cuộc sống xuống 3 lần (KTC 95% 0,11 – 1,00) so với phụ nữ có cân nặng trung bình. 

Kết luận: Tư vấn và đi bộ đã cải thiện chất lượng cuộc sống tốt cho phụ nữ có triệu chứng quanh mãn kinh. 

Phụ nữ thừa cân là yếu tố làm giảm hiệu quả của can thiệp. 

Từ khóa: tư vấn, đi bộ, chất lượng cuộc sống, quanh mãn kinh 

ABSTRACT 

THE EFFECT OF COUNSELING AND WALKING ON WOMEN  

WITH PERIMENOPAUSAL SYNDROME  

Trinh Hoai Ngoc, Vo Minh Tuan*, Nguyen Thi Minh Thu  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 206 ‐212 

Objective: To assess the effect of counseling and walking on women with perimenopausal syndrome and to 

determine the factors that influence to the effects. 

Methods: Quasi‐experimental study was carried out in women at the age of 45 to 55 with perimenopausal 

syndrome at Tu Du hospital from November 2012 to April 2013. 89 womens were enrolled in an counseling and  walking program. The participants had been guided to walk at least 3 days per week for 12 weeks. After 3 months,  the  effect  of  program  was  evaluated.  We  measured  the  scale  differnce  of  quality  of  life  using  Women’s  Health  Questionaire scale (WHQ). 

Result: Quality of life (QOL) was improved significantly in psychosomatic and vasomotor symptoms. The 

odds of improved QOL in group walked >3 days per week were 2.48 times higher than group walked ≤3 days per  week (95% CI 1.05 – 5.83). Women with high body mass index (BMI) was improved QOL less 3 times than  women with BMI normal (95% CI 0.11 – 1.00).  

Conclusion:  Counseling  and  walking  was  shown  to  enhanced  quality  of  life  for  women  with 

perimenopausal syndrome. Overweight was reduced the effect of the intervention. 

Keywords: counseling, walking, quality of life, perimenopause. 

* Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên hệ: PGS.TS.BS Võ Minh Tuấn ĐT: 0909727199  Email: drvo_obgyn@yahoo.com.vn

Trang 2

Triệu chứng mãn kinh và các rối loạn quanh 

thời  kỳ  mãn  kinh  có  thể  ảnh  hưởng  đến  chất 

lượng cuộc sống (CLCS) của người phụ nữ. Từ 

lâu,  hormone  thay  thế  đã  là  tiêu  chuẩn  và  có 

hiệu quả nhất trong điều trị triệu chứng quanh 

mãn kinh. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ chỉ 

định y khoa và điều kiện kinh tế để trị liệu theo 

phương pháp này. Bên cạnh hormone thay thế, 

hiện nay có nhiều phương pháp khác như thuốc 

điều trị triệu chứng, chế độ dinh dưỡng, tư vấn, 

tập thể dục đã đem lại nhiều lựa chọn hơn cho 

phụ  nữ  mãn  kinh.  Việc  áp  dụng  liệu  pháp 

không hormone đã và đang có nhiều nghiên cứu 

tiến hành để xem xét tính hiệu quả. 

Nghiên cứu của các tác giả Forouhari (2010) 

vàYadzkhasti (2012) cho thấy, tư vấn về rối loạn 

mãn  kinh  có  thể  cải  thiện  được  một  số  triệu 

chứng(7,15). Một số nghiên cứu khác can thiệp tập 

thể  dục  như  đi  bộ,  đạp  xe,  yoga  trong  khoảng 

thời gian 8 đến 12 tuần cũng làm giảm các triệu 

chứng mãn kinh và cải thiện CLCS(1,6). Cũng có 

nghiên  cứu  kết  hợp  tư  vấn  và  tập  thể  dục  như 

Ueda  (2004)  và  Duijts  (2009),  kết  quả  cũng  cải 

thiện CLCS ở nhiều lĩnh vực(5,13).  

Tại  Việt  Nam,  các  phương  pháp  điều  trị 

không  hormone  như  tư  vấn,  đi  bộ  cũng  đang 

được  thực  hiện.  Tuy  nhiên,  cho  đến  nay  vẫn 

chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy, 

chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Hiệu quả của 

đi  bộ  và  tư  vấn  về  rối  loạn  quanh  mãn  kinh 

tại  bệnh  viện  Từ  Dũ,  nhằm  trả  lời  câu  hỏi 

“Liệu việc tư vấn về rối loạn quanh mãn kinh 

và  phương  pháp  đi  bộ  có  làm  cải  thiện  CLCS 

cho phụ nữ có hội chứng quanh mãn kinh hay 

không?” 

Mục tiêu nghiên cứu 

1. Đánh giá hiệu quả của tư vấn và đi bộ lên 

rối loạn quanh mãn kinh.  

2.  Xác  định  yếu  tố  ảnh  hưởng  lên  hiệu  quả 

của can thiệp. 

PHƯƠNG PHÁP  Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên  cứu  giả  thực  nghiệm  (Quasi  Experimental Study). Đây là thiết kế nghiên cứu  được sử dụng để đánh giả hiệu quả trước và sau  can thiệp. 

Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mục tiêu 

Phụ nữ 45‐55 tuổi. 

Dân số nghiên cứu 

Phụ  nữ  45‐55  tuổi  đến  khám  vì  hội  chứng  quanh  mãn  kinh  tại  khoa  khám  bệnh  bệnh  viện Từ Dũ và không được sử dụng hormone  thay thế. 

Dân số chọn mẫu 

Phụ  nữ  45‐55  tuổi  đến  khám  vì  hội  chứng  quanh mãn kinh tại khoa khám bệnh bệnh viện 

Từ Dũ từ 16/11/2012 đến 31/01/2013 không được 

sử dụng hormone thay thế và đồng ý tham gia  nghiên cứu. 

Cỡ mẫu 

Công thức tính cỡ mẫu là công thức so sánh 

2 trung bình của một nhóm đối tượng trước và  sau can thiệp: 

2

2 2

2

n = số đối tượng nghiên cứu. Độ lệch của 2 trung bình: ∆ 

= μ1 – μ2 = 10. Giả thiết điểm số CLCS sau can thiệp thay  đổi là 10 điểm sẽ có ý nghĩa theo nghiên cứu của 

Wiklund (98)  σ = 20 (ước lượng tối đa bằng 2 lần độ lệch  của 2 trung bình). 

Các bảng đánh giá đều cho thang điểm từ 0  đến 100. 

Sai lầm loại I: α = 0,05. 

Sai lầm loại II: β = 0,1 => Năng lực mẫu = 90%.  Vậy n = 2x202(1,96 + 1,28)2 / 102 = 83,98. 

n = 84 trường hợp. 

Dự kiến 10% mất dấu nên cần ít nhất 93 đối  tượng  để  đảm  bảo  năng  lực  mẫu  cho  mục  tiêu  nghiên cứu chính. 

Trang 3

Bộ câu hỏi Women’s Health Questionaire 

Đây  là  bộ  câu  hỏi  được  sử  dụng  để  đánh 

giá CLCS của phụ nữ tuổi mãn kinh bắt nguồn 

từ  nước  Anh  năm  1992(9).  Bộ  câu  hỏi  gồm  23 

câu (WHQ_23), chia thành 6 lĩnh vực sức khỏe 

bao  gồm:lo  âu/trầm  cảm  (7  câu),  triệu  chứng 

vận mạch (2 câu), sức khỏe (4 câu), triệu chứng 

cơ  thể  (5  câu),  trí  nhớ/tập  trung  (3  câu)  và  rối 

loạn  giấc  ngủ  (2  câu).  Bộ  câu  hỏi  này  cũng 

được  sử  dụng  để  đánh  giá  hiệu  quả  trước  và 

sau can thiệp. 

Bộ  câu  hỏi  được  dịch  sang  tiếng  Việt  với  2 

người dịch xuôi, 2 người dịch ngược và 1 người 

hiệu  chỉnh  đều  là  các  giáo  viên  và  người  dịch 

thuật  có  kinh  nghiệm.  Sau  đó  bộ  câu  hỏi  được 

phát  cho  30  người  từ  14  tuổi  trở  lên,  biết  đọc 

tiếng  Việt  với  hình  thức  tự  điền.  Mục  đích  là 

đánh  giá  tính  chấp  nhận  của  bộ  câu  hỏi  tiếng 

Việt. Kết quả bộ câu hỏi được chấp nhận và sử 

dụng cho nghiên cứu chính thức. 

Phương pháp tiến hành 

Nghiên  cứu  thử  30  đối  tượng  từ  45  –  60  tuổi 

đến khám vì triệu chứng mãn kinh từ 01/11/2012 

đến  05/11/2012.  Mục  đích  nghiên  cứu  thử  nhằm 

đánh giá tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi 

WHQ_23.  Sau  khi  thu  thập  các  đặc  điểm  dân  số 

(tuổi, giới, trình độ học vấn, kinh tế), các đối tượng 

này  hoàn  tất  bộ  câu  hỏi  WHQ_23  bằng  cách  tự 

điền trong lần thứ nhất và thực hiện lại lần thứ hai 

(cách lần đầu 7‐14 ngày). 

Tính  tin  cậy  được  đánh  giá  bằng  hệ  số 

Cronbach’s  α  và  hệ  số  tin  cậy  test‐retest  (trong 

đó giá trị hệ số Cronbach’s α và test‐retest từ 0,7 

trở lên mới đạt yêu cầu). 

Bảng 1. Tính tin cậy của bộ câu hỏi WHQ_23 

Thang đo Tổng số câu Cronbach’s α

(n = 30)

Test-retest (n = 18)

Hệ số Cronbach’s α đạt giá trị trên 0,7 ở 5  lĩnh vực, ngoại trừ lĩnh vực đánh giá sức khỏe 

là 0,66. 

Đánh  giá  trên  11  đối  tượng  tái  khám,  chúng  tôi  tính  được  giá  trị  hệ  số  tin  cậy  test‐ retest  thay  đổi  trong  khoảng  0,74  ‐  0,98.  Kết  quả  của  nghiên  cứu  thử  không  được  sử  dụng  trong nghiên cứu chính. 

Chương trình tư vấn và đi bộ 

Từ  ngày  16/11/2012  –  31/01/2013  chúng  tôi  nhận  vào  nghiên  cứu  96  đối  tượng  từ  45  –  55  tuổi có triệu chứng mãn kinh và không sử dụng  được hormone thay thế. Chúng tôi tiến hành thu  nhận  thông  tin  cơ  bản  và  đánh  giá  CLCS  bằng 

bộ câu hỏi WHQ. Sau đó mỗi đối tượng sẽ được  thảo luận và tư vấn như sau: 

Tư vấn 

Chương  trình  tư  vấn  được  thực  hiện  dựa  theo  hướng  dẫn  của  Hiệp  Hội  Sản  Phụ  Khoa  Hoa Kỳ (ACOG) và Hiệp Hội Mãn Kinh Bắc Mỹ  (NAMS) (2000)(12). Thời gian tư vấn cho mỗi đối  tượng khoảng 30 phút gồm các vấn đề sau: 

‐Định nghĩa về thời kỳ mãn kinh. 

‐Các triệu chứng mãn kinh. 

‐Ảnh hưởng của các triệu chứng này lên CLCS. 

‐Các phương pháp điều trị triệu chứng. 

‐Các phương pháp điều trị không hormone. 

‐Hiệu quả của tư vấn và đi bộ. 

‐Phương pháp đi bộ đúng cách. 

Đi bộ 

Phương pháp đi bộ dựa theo nghiên cứu của  Daley (2007)(3). Đi bộ >3 ngày mỗi tuần trong 12  tuần, mỗi ngày 30 phút. Thời điểm đi bộ tốt nhất 

là buổi sáng sớm hoặc sau bữa ăn tối. 

Nhật ký theo dõi 

Sau  khi  tư  vấn,  chúng  tôi  phát  cho  mỗi  đối  tượng một bảng nhật ký theo dõi gồm 2 phần  Phần 1: Tóm lược theo tư vấn nhận thức bao  gồm các mục: Thông tin cơ bản về mãn kinh; các  triệu  chứng  mãn  kinh;  các  phương  pháp  giảm 

Trang 4

dục hiệu quả. 

Phần  2:  Bảng  nhật  ký  tập  thể  dục  trong  12 

tuần  do  đối  tượng  tự  đánh  giá,  mỗi  tuần  chia 

thành  7  mức  độ  từ  1  tới  7  theo  thang  điểm 

Likert, tương đương với 1: Tập tệ nhất, cho tới 7: 

Tập  tốt  nhất.  Bên  cạnh  đó  là  phần  ghi  chú  khó 

khăn, tuần nào ghi nhận từ 1 đến 3, đối tượng tự 

ghi chú lại khó khăn để tìm yếu tố liên quan đến 

việc tập thể dục. 

Kết thúc nghiên cứu 

Các  đối  tượng  tái  khám  sau  3  tháng  được 

đánh  giá  lại  CLCS  theo  thang  điểm  WHQ. 

Khoảng thời gian chênh lệch cho phép là 7 ngày. 

Chúng tôi thu lại bảng nhật ký theo dõi. Sau 

đó, tính điểm số trung bình mức độ tập thể dục 

của mỗi đối tượng bằng công thức: 

Số điểm trung bình = Tổng số điểm / 12 

Cuối cùng, chúng tôi đã chia thành 2 mức độ 

đơn giản: Tập thể dục tốt là khi điểm trung bình 

>3 và tập  không  tốt  là  điểm  trung  bình  ≤3.  Ghi 

nhận lại tất cả các khó khăn của đối tượng. 

Phân tích số liệu 

Điểm số CLCS trước và sau can thiệp được 

tính  trung  bình  và  độ  lệch  chuẩn.  Đánh  giá 

hiệu  quả  của  can  thiệp  bằng  so  sánh  trước  và 

sau với phép kiểm Pair t‐test. Các yếu tố: nơi ở, 

trình độ học vấn, nghề nghiệp, BMI, tình trạng 

mãn  kinh,  bệnh  nội  khoa  được  đưa  vào 

phương trình hồi quy đa biến bằng phép kiểm 

Poisson để xác định yếu tố ảnh hưởng lên hiệu 

quả của can thiệp. Tất cả các phép kiểm được 

thực hiện với độ tin cậy 95%. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Từ  ngày  16/11/2012  đến  ngày  31/01/2013, 

chúng tôi đã đưa vào nghiên cứu tổng  cộng  96 

đối  tượng  từ  45  –  55  tuổi,  đi  khám  tại  phòng 

khám  phụ  khoa  bệnh  viện  Từ  Dũ.  Sau  khi  giải 

thích  mục  đích  nghiên  cứu,  các  đối  tượng  đều 

đồng ý tham gia. Chúng tôi sử dụng hình thức 

phỏng vấn trực tiếp, sau đó hướng dẫn cho các 

đối  tượng  tự  điền  vào  bảng  câu  hỏi  WHQ_23  trong tất cả các trường hợp.  

Sau 3 tháng theo dõi, có 89 đối  tượng  quay  lại  tái  khám.  Tỷ  lệ  mất  dấu  là  7%,  đây  là  tỷ  lệ  nhỏ  nên  không  được  tìm  hiểu  và  phân  tích  riêng. Trong số 89 đối tượng quay lại tái khám, 

tỷ lệ hoàn trả nhật ký là 100%. 

Bảng 2. Đặc điểm dịch tễ học nhóm nghiên cứu 

Đặc điểm Tổng (n = 89) Tỷ lệ (%)

Tuổi 45-49 50 56,2

50-55 39 43,8 Nghề nghiệp

Nội trợ 31 34,8 Buôn bán 25 28,1 Nông dân 33 37,1 Trình độ học

vấn

≤ Cấp 1 39 43,8 Cấp 2 32 36,0

≥ Cấp 3 18 20,2 BMI

Trung bình 75 84,2 Nhẹ cân 3 3,4 Thừa cân 11 12,4 Nơi cư ngụ Thành thị 49 55,1

Nông thôn 40 44,9

Không HRT vì:

Ra huyết âm đạo 43 48,3 Tăng huyết áp 18 20,2 Bệnh gan, thận 9 11,1 Không đồng ý 19 21,4

Tuổi  trung  bình  của  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu  là  49,1  ±  3,4  tuổi.  Trong  đó,  19%  đối  tượng  đã  hết  kinh  trên  12  tháng.Nghề  nghiệp phân bố đồng đều ở 3 lĩnh vực nội trợ,  buôn  bán  và  nông  dân.  Không  có  đối  tượng  nào  làm  công  nhân  hay  văn  phòng.  Trình  độ  học  vấn  chủ  yếu  từ  cấp  2  trở  xuống  chiếm  79,8%.  Đối  tượng  có  BMI  trung  bình  chiếm  tỷ 

lệ  cao  nhất  là  84,2%,  thấp  nhất  là  nhóm  nhẹ  cân.  Tỷ  lệ  các  đối  tượng  sống  ở  thành  thị  và  nông thôn là tương đương nhau. 

Về lý do không sử dụng hormone thay thế,  chủ yếu có chống chỉ định gồm 2 lý do chính: Ra  huyết âm đạo chưa  rõ  nguyên  nhân  (48,3%)  và 

có  bệnh  lý  nội  khoa  mãn  tính  đang  điều  trị  (30,3%) như tăng huyết áp, bệnh thận, gan. Còn  lại không đồng ý sử dụng hormone thay thế do  điều kiện kinh tế. 

Trang 5

sau 3 tháng theo dõi 

Lĩnh vực Trước (n = 89) Sau (n = 89) P*

Lo âu Trầm cảm 80,3±13,9 80,6±13,5 0,227

Đánh giá sức khỏe 60,6±14,3 61,5±13,0 0,205

TC cơ thể 69,8±21,2 71,4±18,4 0,019

Trí nhớTập trung 77,8±18,4 78,4±23,2 0,251

TC vận mạch 76,1±25,0 82,0±21,4 0,001

Vấn đề giấc ngủ 57,9±30,4 59,2±29,8 0,239

*Kiểm định Student mẫu ghép cặp 

Ngoại trừ lĩnh vực lo âu/ trầm cảm gần như 

không thay đổi sau 3 tháng theo dõi, 5/6 lĩnh vực 

còn  lại  đều  cho  thấy  sự  cải  thiện  về  điểm  số 

WHQ.  Tuy  nhiên,  chỉ  các  lĩnh  vực  triệu  chứng 

cơ thể và triệu chứng vận mạch sự khác biệt này  mới có ý nghĩa thống kê với P đều nhỏ hơn 0,05.  Sau  3  tháng  theo  dõi  các  đối  tượng  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cải  thiện  CLCS  ở  các  lĩnh  vực  triệu  chứng  cơ  thể  và  triệu  chứng  vận  mạch. Kết quả này tương tự với các nghiên cứu  của Duijts và Forouhari(5,7). Kết quả này có thể do  phương  pháp  cũng  như  thời  gian  can  thiệp  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  tương  tự  các  nghiên cứu trên. 

Bảng 4. Phân tích hồi quy đa biến mối liên quan giữa các yếu tố với tỷ lệ cải thiện CLCS 

Nghề nghiệp

Nội trợ

Buôn bán

Nông dân

22(71,0%) 10(40,0%) 24(72,7%)

9(29,0%) 15(60,0%) 9(27,3%)

Ref 0,54 0,90

0,181 0,744 Học vấn

≤ Cấp 1

Cấp 2

≥ Cấp 3

Tình trạng hôn nhân

Ở với chồng

Không ở với chồng

Nơi ở

Thành thị

Nông thôn

Mãn kinh

Chưa mãn kinh

Đã mãn kinh

Chỉ số khối cơ thể

Trung bình

Thừa cân

Nhẹ cân

Bệnh nội khoa

Không có bệnh

Có bệnh

Đi bộ**

Không tốt

Tốt

23(59,0%) 23(71,9%) 10(55,6%) 46(59,7%) 10(83,3%) 28(57,1%) 28(70,0%) 42(60,0%) 14(73,7%) 52(69,3%) 2(18,2%) 2(66,7%) 33(56,9%) 23(74,2%) 13(44,8%) 43(71,7%)

16(41,0%) 9(28,1%) 8(44,4%) 31(40,3%) 2(16,7%) 21(42,9%) 12(30,0%) 28(40,0%) 5(26,3%) 23(30,7%) 9(81,8%) 1(33,3%) 25(43,1%) 8(25,8%) 16(55,2%) 17(28,3%)

Ref 1,17 1,24 Ref 1,08 Ref 1,21 Ref 1,06 Ref 0,33 1,17 Ref 1,02 Ref 2,48

0,621 0,583

0,848

0,503

0,867

0,045 0,799

0,952

0,038

*Poisson đa biến. ** Đi bộ tốt là điểm trung bình >3, không tốt là điểm trung bình ≤3 theo thang điểm Likert từ 1‐7 

Theo nghiên cứu của Nuri, CLCS không cải 

thiện  sau  15  tuần  tái  khám.  Kết  quả  này  có  thể 

do  cách  chọn  mẫu  của  tác  giả  khác  với  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi.  Trong  khi  nghiên  cứu  của 

chúng tôi lựa chọn đối tượng 45‐55 tuổi có triệu 

chứng  mãn  kinh  thì  nghiên  cứu  của  Nuri  lựa 

chọn các đối tượng đã mãn kinh và có ung thư 

vú(11). Theo Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ năm 

2010,  sau  khi  mãn  kinh  thật  sự,  người  phụ  nữ  không còn than phiền về các triệu chứng rối loạn  kinh  nguyệt,  triệu  chứng  vận  mạch  cũng  biến  mất tự nhiên(2). Vì vậy các triệu chứng này cũng 

Trang 6

không  thay  đổi  nhiều  sau  điều  trị.  Thêm  một 

điểm  nữa,  trong  khi  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

kết hợp cả tư vấn và tập thể dục thì nghiên cứu 

của Nuri chỉ can thiệp tập thể dục mà thôi. 

Sau  khi  đưa  tám  yếu  tố  vào  phương  trình 

hồi  quy  đa  biến  nhằm  kiểm  soát  yếu  tố  gây 

nhiễu,  kết  quả  chỉ  còn  yếu  tố  tập  thể  dục  và 

BMI có ảnh hưởng lên tỷ lệ cải thiện CLCS sau 

3  tháng  tái  khám.  Những  đối  tượng  thừa  cân 

có  xu  hướng  giảm  khả  năng  cải  thiện  CLCS 

xuống  3  lần  so  với  nhóm  BMI  trung  bình.  So 

với  nhóm  đi  bộ  không  tốt  (điểm  trung  bình 

≤3),  nhóm  đi  bộ  tốt  (điểm  trung  bình  >3)  làm 

tăng khả năng cải thiện CLCS lên 2,48 lần. 

Theo nghiên cứu của Zolnierczuk‐Kieliszek, 

CLCS thấp hơn ở nhóm nông dân và cao hơn ở 

nhóm  công  nhân  viên  như  giáo  viên,  kế  toán, 

quản lý(16). Điều này cũng dễ hiểu, vì ở các nước 

phương Tây, nhóm nghề nghiệp dựa vào trí óc 

thường có thu nhập cao hơn nhiều so với nhóm 

lao động chân tay. Điều kiện kinh tế và thu nhập 

cao có thể khiến cho CLCS của người phụ nữ tốt 

hơn. Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi chỉ 

có  3  nhóm  nghề  nghiệp  chính  là  nội  trợ,  buôn 

bán và nông dân, sự khác biệt này có thể do mẫu 

của  chúng  tôi  chủ  yếu  là  các  trường  hợp  khám 

bảo  hiểm,  có  thể  bỏ  sót  nhóm  đối  tượng  công 

nhân  viên  có  thu  nhập  khá  hơn  và  thường  họ 

chọn khám dịch vụ. 

Theo  De  Lorenzi,  CLCS  không  phụ  thuộc 

trình độ văn hóa(4). Phụ nữ có trình độ văn hóa 

cao, có nhiều hiểu biết, làm công việc trí óc lại ít 

vận  động,  ngược  lại  những  người  có  trình  độ 

văn  hóa  thấp  lại  thường  vận  động  nhiều  hơn. 

Hai  yếu  tố  này  kết  hợp  cho  thấy  trình  độ  văn 

hóa  cao  hay  thấp  không  ảnh  hưởng  nhiều  đến 

CLCS của phụ nữ mãn kinh. 

Nghiên  cứu  của  Zolnierczuk‐Kieliszekcho 

thấy phụ nữ sống ở thành thị có CLCS cao hơn 

so với nông thôn ở các lĩnh vực lo âu/ trầm cảm 

và  vấn  đề  giấc  ngủ(16).  Theo  các  tác  giả  trên,  sự 

khác biệt về CLCS giữa 2 nhóm này phụ thuộc 

vào nhiều yếu tố: Trình độ học vấn, nghề nghiệp 

và thu nhập. Phụ nữ sống ở thành thị thường có 

trình  độ  học  vấn  cao  hơn,  có  nghề  nghiệp  ổn 

định  và  thu  nhập  tốt  hơn  phụ  nữ  sống  ở  nông  thôn. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi,  các  đối  tượng  nhìn  chung  có  trình  độ  học  vấn  thấp, không có đối tượng nào làm các công việc  trí óc và thu nhập của họ chủ yếu là đủ sống. Vì  vậy yếu tố nơi ở không làm thay đổi tỷ lệ thành  công của can thiệp. 

Theo  Girod,  khi  so  sánh  điểm  số  WHQ  ở  2  nhóm <49 tuổi và nhóm >58 tuổi, điểm số trong  lĩnh vực đánh giá sức khỏe và trí nhớ/ tập trung  của nhóm <49 tuổi  cao  hơn  (66,6  và  67,6  so  với  63,1 và 64,9)(8). Trong các lĩnh vực còn lại, điểm 

số WHQ của nhóm >58 tuổi  cao  hơn.  Điều  này 

có  thể  được  giải  thích  là  do  sau  khi  mãn  kinh  thật sự, người phụ nữ không còn than phiền về  các  triệu  chứng  rối  loạn  kinh  nguyệt,  triệu  chứng  vận  mạch  cũng  biến  mất  tự  nhiên.  Sự  khác biệt về kết quả trong nghiên cứu của chúng  tôi  với  nghiên  cứu  của  Girod  có  thể  do  mẫu  trong nghiên cứu của chúng tôi ít hơn nên chưa  thấy rõ được sự khác nhau giữa 2 nhóm. 

Theo nghiên cứu của Daley, yếu tố BMI ảnh  hưởng  có  ý  nghĩa  lên  các  CLCS  ở  các  lĩnh  vực  triệu chứng cơ thể, triệu chứng vận mạch và sức  hấp  dẫn(3).  Sau  3  tháng  theo  dõi,  nhóm  béo  phì 

có xu hướng giảm tỷ lệ cải thiện CLCS so với 2  nhóm  thừa  cân  và  trung  bình.  Các  lĩnh  vực  có  ảnh hưởng là đánh giá sức khỏe và sức hấp dẫn.   Nghiên cứu của Li năm 2005 cho thấy, trọng  lượng cơ thể tăng trên 5kg làm giảm CLCS có ý  nghĩa ở lĩnh vực triệu chứng cơ thể(10). Như vậy,  những phụ nữ thừa cân không những có CLCS  thấp  hơn  phụ  nữ  có  cân  nặng  trung  bình  mà  mức  độ  cải  thiện  CLCS  của  họ  sau  can  thiệp  cũng  thấp  hơn.  Điều  này  có  thể  do  phụ  nữ  có  BMI  thừa  cân  tuân  thủ  viêc  tập  thể  dục  không  tốt  bằng  phụ  nữ  có  BMI  trung  bình.  Trong  khi 

đó, tập thể dục là một trong những yếu tố chính  làm tăng CLCS. 

So  với  nhóm  tập  thể  dục  không  tốt,  nhóm  tập thể dục tốt có tỷ lệ cải thiện CLCS tăng gấp  3,38 lần, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với 

P  <  0,05.  Sau  khi  đưa  các  yếu  tố  liên  quan  vào  phương  trình  hồi  quy  đa  biến,  tỷ  lệ  cải  thiện  CLCS  cũng  vẫn  tăng  lên  tương  tự  ở  nhóm  tập 

Trang 7

thể  dục  tốt  (2,48  lần)  và  sự  khác  biệt  này  có  ý 

nghĩa thống kê với P < 0,05.  

Theo tác giả De Lorenzi tập thể dục thường 

xuyên làm giảm tần suất và mức độ triệu chứng 

bốc  hỏa,  cải  thiện  triệu  chứng  thần  kinh,  điều 

hòa nhịp tim và làm tăng CLCS(4). 

KẾT LUẬN 

Trong thời gian nghiên cứu từ 15/10/2012 – 

30/4/2013, sau khi áp dụng can thiệp tư vấn và 

hướng dẫn đi bộ cho 89 phụ nữ trong độ tuổi 

từ  45  ‐  55  có  hội  chứng  quanh  mãn  kinh  đi 

khám tại bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi rút ra kết 

luận sau: 

‐Cải  thiện  CLCS  thấy  được  ở  5/6  lĩnh  vực 

theo thang điểm WHQ. Tuy nhiên, chỉ lĩnh vực 

triệu  chứng  cơ  thể  (71,4  so  với  69,8)  và  triệu 

chứng vận mạch (82,0 so với 76,1) tình trạng cải 

thiện mới rõ rệt và có ý nghĩa thống kê. Các lĩnh 

vực đánh giá sức khỏe, trí nhớ/ tập trung và vấn 

đề giấc ngủ cũng có cải thiện nhưng sự khác biệt 

này không có ý nghĩa thống kê. 

‐Các  yếu  tố  ảnh  hưởng  lên  khả  năng  cải 

thiện CLCS sau 3 tháng tái khám bao gồm BMI 

và tập thể dục. Những đối tượng thừa cân có xu 

hướng  giảm  khả  năng  cải  thiện  CLCS  xuống  3 

lần so với nhóm BMI trung bình. So với nhóm đi 

bộ không tốt (điểm trung bình ≤3), nhóm đi bộ 

tốt (điểm trung bình >3) làm tăng khả năng cải 

thiện CLCS lên 2,48 lần.  

KIẾN NGHỊ 

Mở rộng chương trình tư vấn và hướng dẫn 

tập thể dục ở các cơ sở y tế cho những phụ nữ 

độ  tuổi  mãn  kinh  có  triệu  chứng  nhưng  không 

thể dùng hormone thay thế. 

Bên cạnh tư vấn và tập thể dục có thể thực 

hiện  thêm  các  nghiên  cứu  về  các  phương  pháp 

không  hormone  khác  như  các  thuốc  điều  trị 

triệu chứng, chế độ ăn, để có nhiều lựa chọn hơn 

cho  phụ  nữ  có  triệu  chứng  mãn  kinh  nhưng 

không thể sử dụng hormone thay thế. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Agil A, Abike F, Daskapan A, Alaca R, Tuzun H (2010), ʺShort‐

term  exercise  approaches  on  menopausal  symptoms, 

psychological  health,  and  quality  of  life  in  postmenopausal 

womenʺ. Obstet Gynecol Int, 10(16). 

2 American  College  of  Obstetricians  and  Gynecologists  (ACOG) 

(2010), ʺMenopauseʺ. Obstet Gynaecol, 6th, 329‐336. 

3 Daley A, MacArthur C, Stoke‐Lampard H, et al (2007), ʺExercise  participation, body mass index, and health‐related quality of life 

in women of menopausal ageʺ. Br J Gen Pract, 57(535), 130‐135. 

4 De  Lorenzi  DR,  Baracat  EC,  Saciloto  B,  Padilha  I  Jr  (2006), 

ʺFactors related to quality of life in post‐menopauseʺ. Rev Assoc 

Med Bras, 52(5), 312‐317. 

5 Duijts  S,  Oldenburg  S,  Van  Beurden  M,  Aaronson  N  (2009),  ʺCognitive  behavioral  therapy  and  physical  exercise  for  climacteric  symptoms  in  breast  cancer  patients  experiencing  treatment‐induced  menopause:  design  of  a  multicenter  trialʺ. 

BMC Womenʹs Health, 9(15). 

6 Elavsky  S,  McAuley  E  (2007),  ʺPhysical  activity  and  mental  health  outcomes  during  menopause:  a  randomized  controlled 

trialʺ. Ann Behav Med, 33(2), 132‐142. 

7 Forouhari S, Khajehei M, Moattari M, Mohit M (2010), ʺThe Effect of  Education and Awareness on the Quality‐of‐Life in Postmenopausal 

Womenʺ. Indian J Community Med, 35(1), 109‐114. 

8 Girod  I,  Abetz  L  (2004),  ʺWomenʹs  Health  Questionaire  User 

Manualʺ. MAPI. 

9 Hunter  MS  (1992),  ʺThe  Womenʹs  Health  Questionnaire:  a  measure  of  mid‐aged  womenʹs  perceptions  of  their  emotional 

and physical healthʺ. T. Psychol & Health, 7, 45‐54. 

10 Li  C,  Borgfeldt  C,  Samsioe  G,  Lidfeldt  J,  Nerbrand  C  (2005),  ʺBackground  factors  influencing  somatic  and  psychological  symptoms  in  middle‐age  women  with  different  hormonal  status.  A  population‐based  study  of  Swedish  womenʺ. 

Maturitas, 52(3‐4), 306‐318. 

11 Nuri R, Damirchi A, Rahmani‐Nia F, Emami H (2009), ʺeffect of  exercise  training  on  the  quality  of  life  in  postmenopausal 

women with breast cancerʺ. Brazilian Journal of Biomitricity, 3(4), 

351‐358. 

12 Schirin  E  (2000),  ʺGuidelines  for  Counseling  Women  on  the 

Management  of  Menopause  ʺ.  The  Journal  of  Family  Practice, 

49(11). 

13 Ueda  M  (2004),  ʺA  12‐week  structured  education  and  exercise  program  improved  climacteric  symptoms  in  middle‐aged 

womenʺ. J Physiol Anthropol Appl Human Sci, 23(5), 143‐148. 

14 Wiklund  I,  Karlberg  J,  Mattson  LA  (1993),  ʺQuality  of  life  during  transdermal  oestradiol  therapy  in  postmenopausal 

women: a double blind placebo controlled studyʺ. Am J Obstet & 

Gynaecol, 168, 824‐830. 

15 Yazdkhasti M, Keshavarz M, Khoei EM, Hosseini A, et al (2012),  ʺThe Effect of Support Group Method on Quality of Life in Post‐

menopausal Womenʺ. Iran J Public Health, 41(11), 78‐84. 

16 Zolnierczuk‐Kieliszek  D,  Kulik  TB,  Jarosz  MJ,  et  al  (2012),  ʺQuality  of  life  in  peri‐  and  post‐menopausal  Polish  women  living  in  Lublin  Province‐differences  between  urban  and  rural 

dwellersʺ. Ann Agric Environ Med, 19(1), 129‐133. 

  Ngày nhận bài báo      : 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo  : 29/11/2013  Ngày bài báo được đăng    : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w