1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá khả năng đáp ứng in vitro của cryptococcus neoformans đối với các thuốc kháng nấm

6 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 363,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá khả năng đáp ứng in vitro của các chủng C. neoformans phân lập từ bệnh nhân viêm não - màng não đối với amphotericin B (AMB), fluconazol (FLU) và flucytosine (5-FU) bằng phương pháp khuếch tán trên thạch.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG IN VITRO CỦA CRYPTOCOCCUS

NEOFORMANS ĐỐI VỚI CÁC THUỐC KHÁNG NẤM

Nhữ Thị Hoa, Phạm Quốc Trung*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá khả năng đáp ứng in vitro của các chủng C neoformans phân lập từ bệnh nhân viêm

não-màng não đối với amphotericin B (AMB), fluconazol (FLU) và flucytosine (5-FU) bằng phương pháp khuếch tán trên thạch

Phương pháp: thử nghiệm in vitro được tiến hành trên 107 loài C neoformans được phân lập từ bệnh

nhân và lưu trữ tại bộ môn Ký Sinh-Vi Nấm Học, trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch Phục hồi các loài

C neoformans trên môi trường SDA hoặc trên chuột bạch đã gây suy giảm miễn dịch và định danh kiểm tra bằng môi trường Staib-Ajello Xác định bước sóng và ngưỡng OD tương đương 10 6 CFU/ml để định lượng dịch treo nấm bằng quang phổ kế Môi trường Muller Hinton có bổ sung glucose và methylen blue được sử dụng trong đánh giá đáp ứng thuốc Đường kính vòng sạch nấm được đo sau 2 ngày Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 10.0

Kết quả: bước sóng thích hợp để định lượng nồng độ nấm C neoformans là 640nm; OD tương đương 10 6

CFU/ml là 0,06 Trong 107 mẫu được khảo sát, 8,4% thuộc var gattii, 91,6% thuộc var neoformans Tỉ lệ C neoformans nhạy với amphotericin B, fluconazol, flucytosine lần lượt là 76,6% , 71% , 0,9%; nhạy kém là 23,4%, 16,8% và 0% Không ghi nhận trường hợp kháng amphotericin B, trong khi đó, 12,2% C neoformans kháng fluconazol và 99% C neoformans kháng flucytosine Các chủng kháng tập trung ở nhóm var neoformans Chưa phát hiện mối liên quan giữa khả năng đáp ứng thuốc in vitro với chủng (variety) cũng như việc sử dụng fluconazol dự phòng

Kết luận và đề xuất: bước sóng 640nm (máy spectro SC) là bước sóng thích hợp để định lượng nồng độ

dịch treo nấm C neoformans Mức độ nhạy của C neoformans đối với amphotericin B và fluconazol có khuynh hướng giảm Cần tiến hành khảo sát MIC của các hoạt chất kháng nấm trên các chủng phân lập từ môi trường

và bệnh nhân nhằm đưa ra kết luận chính xác và cụ thể hơn

Từ khóa: C neoformans, bước sóng 640nm, amphotericin B, fluconazol, flucytosine, tỉ lệ kháng, tỉ lệ nhạy

ABSTRACT

IN VITRO SUSCEPTIBILITY OF CRYPTOCOCCUS NEOFORMANS TO ANTIFUNGALS

Nhu Thi Hoa, Pham Quoc Trung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 70 - 75

Objectives: to assess in vitro susceptibility of C neoformans isolated from meningo-encephalitic patients to

amphotericin B, fluconazol, flucytosine by disk diffusion method

Method: in vitro susceptibility to amphotericin B, fluconazol, flucytosine of 107 C neoformans isolates,

preserved in 10% glycerine solution at Pham Ngoc Thach University of Medicine, was assessed by disk diffusion method The strains were recovered by inoculating into SDA (Sabouraud dextrose agar) or intra-peritoneal injection to immunosuppressed mice and identified via Staib-Ajello culture Optimal wavelength and OD

Bộ môn Ký Sinh-Vi Nấm Hoc, trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: Ths Nhữ Thị Hoa ĐT: 0903379566 Email: drnhuhoa@yahoo.com

Trang 2

equivalent to 10 6 CFU/ml were determined for quantification of yeast cells suspension by spectrophotometry Muller-Hinton media supplemented with glucose and methylen blue was used for assessing susceptibility of the yeast to antifungi Diameter of antifungal zone was recorded after 48 hours Data were analyzed with Stata10.0

Results: the optimal wavelength to defining the density of cryptococcal suspension is 640 nm, and OD being

equivalent to 10 6 CFU/ml is 0.06 Among 107 isolates evaluated, there were 8.4% var gattii, and 91.6% var neoformans In vitro susceptibility of C neoformans to amphotericin B, fluconazol, and flucytosine are respectively: susceptible: 76.6%, 71% and 0.9%; intermediate: 23.4%, 16.8% and 0% No resistant strains to amphotericin B were observed, but 99.07% and 12.15% of isolates were readily resistant to flucytosine and fluconazol respectively Most of strains resisting to fluconazol and flucytosine belong to var neoformans No correlation between in vitro susceptibility and fungal variety, together with the prophylactic use of fluconazol were found

Conclusions and recommendations: wavelength of 640nm (Spectro SC apparatus) is optimal for

determining density of cryptococcal suspension In vitro susceptibility to fluconazol, amphotericine B tends to decline It is really necessary to conduct research on amphotericin B, fluconazol and flucytosine MICs of isolates from environment and patients

Key words: C neoformans, spectrophotometry, amphotericin B, fluconazol, flucytosine, resistance,

susceptibilty

ĐẶT VẤN ĐỀ

C neoformans là một trong những tác nhân

gây nhiễm trùng cơ hội, đặc biệt trên cơ địa

HIV/AIDS, do đó, kháng nấm dự phòng đã

được khuyến cáo áp dụng trên các đối tượng

nguy cơ cao Ngoài ra trong điều trị, sau đợt tấn

công, phác đồ kéo dài cũng được đòi hỏi để

này có thể dẫn đến nguy cơ thay đổi ngưỡng

đáp ứng của C neoformans đối với thuốc kháng

nấm(13, 15)

Thật vậy, trước thập niên 90, ngưỡng MIC

HIV/AIDS, nhiều tác giả ghi nhận tình trạng

giảm tác dụng của fluconazol trên C

neoformans(7, 8, 13) Borann phát hiện ngưỡng MIC

của fluconazol tăng dần từ năm 2000 đến năm

2002, và số trường hợp kháng fluconazol cũng

tăng 5,6 lần: 2,5% trong năm đầu so với 14% vào

hợp kháng amphotericin B cũng được khẳng

định qua đánh giá in vitro: MIC của

Amphotericin B từ 0,2µg/ml vào năm 1958 tăng

Đặc biệt hiện tượng kháng chéo giữa

amphotericin B và fluconazol đã được phát hiện

trong một số C neoformans gây bệnh trên

người(6) Tại Việt Nam, trong khảo sát về viêm

não-màng não do C neoformans năm 2004, N.Q

Trung ghi nhận 12/15 trường hợp nhập viện lần

N.L.H Anh và L.G Hiếu cũng trình bày 3

nhiên, việc sử dụng các thuốc kháng retrovirus

ở Việt Nam chưa bao phủ đều khắp các đối tượng HIV/AIDS Như vậy, hiện tượng giảm

đáp ứng của C neoformans đối với các hoạt chất

kháng nấm là thật sự hay chỉ là hậu quả của tình trạng suy giảm miễn dịch không được cải thiện của bệnh nhân? Trên cơ sở đó, khảo sát tác dụng

in vitro của thuốc kháng nấm trên C neoformans

đã được tiến hành

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp khuếch tán trên thạch được sử dụng để khảo sát khả năng đáp ứng với amphotericin B, fluconazol, flucytosine của 107

loài C neoformans được phân lập từ bệnh nhân

viêm não-màng não và lưu trữ tại bộ môn Ký Sinh Trùng – Vi Nấm Học, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Phục hồi các loài bằng canh cấy SDA (sabouraud dextrose agar) hoặc cấy

Trang 3

trên chuột suy giảm miễn dịch Định lượng

nồng độ dịch treo nấm bằng quang phổ kế ở

bước sóng 640nm Bước sóng này được xác định

thông qua việc khảo sát mức độ hấp thụ sóng

cao nhất của C neoformans (chủng quốc tế ATCC

76108, ATCC 28957) trong dãy sóng từ 600nm

đến 700nm Dịch treo nấm, sau khi đo quang,

CFU/ml vào môi trường Muller Hinton có bổ

sung glucose và methylen blue Đặt đĩa kháng

nấm (Neostabs) vào canh cấy và ủ ở nhiệt độ

phòng Đường kính vòng kháng nấm được đo

sau 2 – 3 ngày và phân loại mức độ nhạy cảm

theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất Neostabs

Phân tích số liệu bằng Stata 10.0

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Thời điểm lấy mẫu Trước năm 2000 Sau năm 2008

16

91

14,9 85,1 Suy giảm miễn dịch

Có HIV/AIDS (+) HIV/AIDS (–) Không

103

99

4

4

96,3 96,1 3,9 3,7 Uống fluconazol dự phòng

Chủng var gattii var neoformans

9

98

8,4 91,6

Đa số chủng thuộc var neoformans, được

phân lập sau năm 2008 từ cơ địa suy giảm miễn dịch, trong đó HIV/AIDS chiếm ưu thế, nhưng chỉ 5,1% có dự phòng nhiễm nấm cơ hội bằng fluconazol

Biểu đồ 1: Giá trị OD của các chủng C neoformans quốc tế và bệnh nhân theo dãy bước sóng từ 600 – 700 nm

Theo biểu đồ 1, với bước sóng 640 nm, khả

năng hấp thu sóng của C neoformans cao nhất ở

cả 2 chủng quốc tế và bệnh nhân

Bảng 2: giá trị OD tương ứng với nồng độ dịch treo

các chủng nấm C neoformans quốc tế

Nồng độ nấm OD M OD

var neoformans (ATCC

28957)

Mẫu 1

Mẫu 2

1 x 106 1,3 x 106

0,059 0,065

0,06

2

var gattii (ATCC 76108)

Mẫu 1

Mẫu 2

0,9 x 106

1 x 106`

0,058 0,062 0,06

CFU/ml dịch treo tế bào C neoformans là 0,06

Bảng 3: Tỉ lệ nhạy cảm của C neoformans đối với các

thuốc kháng nấm:

(n,%)

Kháng (n,%)

Tất cả các chủng đều nhạy với amphotericin

B trong đó 23,4% nhạy kém Ngược lại, hầu hết

C neoformans kháng với flucytosine và 12,2%

Trang 4

kháng với fluconazol

Bảng 4: phân bố khả năng đáp ứng với thuốc kháng

nấm theo chủng:

(Fisher)

neoformans 23 (23,5) 75 (76,5)

neoformans 31 (31,6) 67(68,4)

Sự đáp ứng in vitro với các thuốc kháng nấm

tương tự ở cả 2 chủng

Bảng 5: khả năng đáp ứng với AMB phân bố theo

thời gian và việc dùng FLU dự phòng

Đáp ứng * (n, %) 2

(Fisher)

Thời gian

(năm 2000)

Trước 5 (31,3) 11 (68,8) p > 0,5

Sau 20 (22,0) 71 (78,0) Dùng FLU

dự phòng

Không 23 (22,6) 79 (77,5) p > 0,3

* Không: nhạy kém và kháng; Có: nhạy

Chưa ghi nhận sự khác biệt về việc dùng

FLU dự phòng và các chủng trước hoặc sau 2008

trong đáp ứng in vitro đối với AMB của C

neoformans

Bảng 6: khả năng đáp ứng với FLU phân bố theo thời

điểm thu thập chủng và việc dùng FLU dự phòng:

Đáp ứng * ( n, %) χ 2 (Fisher)

Thời gian (năm

2008)

Trước 2 (12,5) 14 (87,5) p > 0,1 Sau 29 (31,9) 62 (68,1)

Dùng FLU dự

phòng

Không 28 (27,5) 74 (72,6) p >0,1

*Không: nhạy kém và kháng; Có: nhạy

Việc đáp ứng in vitro đối với fluconazol

không phụ thuộc thời điểm phân lập các chủng

nấm cũng như việc dùng fluconazol dự phòng

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Tổng mẫu nghiên cứu bao gồm 107 loài

Cryptococcus neoformans phân lập từ bệnh nhân,

trong đó 96,1% từ cơ địa nhiễm HIV/AIDS, chủ

yếu sau năm 2008, nhưng chỉ 5,1% trường hợp

được điều trị dự phòng với fluconazol (Bảng 1), chứng tỏ việc dự phòng nhiễm nấm cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng này có thể bị tác động bởi các lý

do như : 1) những khó khăn về kinh tế không cho phép bệnh nhân tuân thủ điều trị fluconazol

dự phòng; 2) sự tương tác giữa fluconazol với các thuốc điều trị khác, như rifampicin; 3) nhiều đối tượng nguy cơ cao chỉ được phát hiện nhiễm HIV vào thời điểm chẩn đoán viêm não-màng não do vi nấm; 4) việc dự phòng

Về phân bố chủng (variety), 91,6% C

neoformans thuộc var neoformans (Bảng 1), phù

hợp với đặc điểm sinh học của Cryptococcus

neoformans: var neoformans tấn công chủ yếu trên

trước và sau 1986, cho thấy tỉ lệ nhiễm C

neoformans var neoformans gia tăng cùng với đại

neoformans phân lập từ bệnh nhân ở các nước

Đông Nam Á nói chung cũng nghiêng về var

neoformans(10, 13), do vậy, Việt Nam, một nước trong khu vực, ít nhiều sẽ mang dáng dấp của

mô hình này

Hầu hết các chủng phân tích đều được lưu trữ từ năm 2008 (Bảng 1), các chủng trước 2008 chỉ bằng 1/6, vì vậy bản chất của sự thay đổi mức đáp ứng với thuốc kháng nấm theo thời gian, nếu tồn tại, có thể chưa được bộc lộ rõ trong khảo sát này

Xác định bước sóng và OD thích hợp trong việc định lượng nồng độ nấm thông qua phương pháp quang phổ kế

Mật độ nấm là một trong những yếu tố có

thể ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng in vitro của vi nấm đối với thuốc kháng nấm, do vậy

cần đảm bảo chính xác số lượng tế bào nấm trong dịch treo thử nghiệm Hiện nay có nhiều phương pháp xác định nồng độ dịch treo, trong

đó định lượng bằng quang phổ kế ở bước sóng thích hợp là phổ biến nhất Tuy nhiên, bước

sóng tối ưu đối với C neoformans chưa được đề

cập trong các danh mục chuẩn nên việc xác định

Trang 5

bước sóng đã được tiến hành dựa trên mức độ

hấp thu sóng ở một nồng độ nhất định của C

neoformans tại nhiều bước sóng khác nhau Biểu

đồ 1 cho thấy bước sóng 640nm cho giá trị OD

cao nhất ở cả 2 chủng quốc tế: var neoformans

ATCC 28957 và var gattii ATCC 76108 Đây là

những chủng có bao nang dày rõ rệt Ngược lại,

bao nang của C neoformans từ các bệnh nhân

được phân lập trên canh cấy SDA thường trở

nên mỏng hơn, thậm chí không thể nhìn thấy Vì

thế, C neoformans phân lập từ bệnh nhân có bao

nang mỏng được dùng để kiểm chứng và cho

kết quả bước sóng tương tự Qua đó chứng tỏ

khả năng hấp thụ sóng của các loại tế bào hạt

men Cryptococcus neoformans không bị ảnh

hưởng bởi bao nang Do vậy, bước sóng 640nm

được sử dụng để định lượng nồng độ dịch treo

tế bào C neoformans trong nghiên cứu này, khác

với bước sóng 625nm dùng cho vi nấm nói

này là tất yếu do khác biệt tùy loại máy quang

phổ, loại Cuvet, loại vi nấm được sử dụng …

Sử dụng bước sóng 640nm để xác định OD ở

2 cho thấy: OD = [0,058 – 0,065] tương ứng với

mật độ nấm dao động trong khoảng (0,9 – 1,3) x

trung bình giữa 2 var hầu như không tồn tại,

0,062 và 0,060 Vì vậy để thuận tiện cho việc tính

toán, đo đạc, OD = 0,06 được chọn làm OD

dịch treo nấm cho cả var neoformans và var

gattii

Đánh giá khả năng đáp ứng In vitro của C

neoformans đối với các thuốc kháng nấm

Theo bảng 3, 76,6% C neoformans nhạy với

Amphotericin B, thấp hơn nghiên cứu của

không thể quy cho môi trường cấy khác nhau

hoặc lượng nấm tiêm vào vì ở mỗi điều kiện đều

được quy định ngưỡng đánh giá tương ứng

Những sai sót trong đo đạc vòng kháng nấm có

thể xảy ra nhưng chỉ xuất hiện khi đường kính

vòng ức chế mập mờ tại ranh giới của 2 phân lớp: nhạy– nhạy kém hoặc nhạy kém – kháng Vì vậy, bảng 3 gợi ý một sự thay đổi về khả năng

đáp ứng của C neoformans đối với Amphotericin

B Những thử nghiệm về MIC cần được thực hiện trên các chủng phân lập trước, trong và tái phát sau điều trị để khẳng định hiện tượng này Trong thử nghiệm đối với Fluconazol, tỉ lệ nhạy, nhạy kém và kháng lần lượt là 71%, 20,5%

và 14%, khá tương đồng với nghiên cứu của

nhận khuynh hướng tăng dần đối với Fluconazol so với trước đại dịch AIDS Tuy nhiên mức độ đáp ứng thay đổi tùy thuộc vào thời gian sử dụng Fluconazol nên kết quả thay đổi theo từng báo cáo

Xét tính đáp ứng của các chủng đối với hoạt chất kháng nấm, bảng 4 chưa thể hiện sự khác

ứng với amphotericin B tốt hơn var neoformans,

nhưng không khác biệt đối với fluconazole Theo Luciana, amphotericin B tác dụng như

nhau trên cả 2 var nhưng var gattii kém nhạy

cỡ mẫu giữa 2 chủng: hoặc tập trung chủ yếu

vào var neoformans trong số liệu của George,

Gomez, T.T.H Châu và khảo sát hiện tại; hoặc

lệch về phía var gattii trong đánh giá của

Luciana Do đó, để khẳng định, cần có một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và cân đối hơn giữa hai chủng

Xét về thời điểm thu thập mẫu, không tìm

thấy sự thay đổi về khả năng đáp ứng In vitro của C neoformans theo thời gian (bảng 5, bảng 6)

Nguyên nhân có thể do mầm bệnh không phát tán vào môi trường và không lan truyền một cách tự nhiên từ người sang người qua đường không khí cũng như qua các chất tiết, chất thải,

do đó sự đột biến gây kháng thuốc của tế bào nấm, cũng ít cơ hội được “di truyền” Vì thế, hiện tượng kháng thuốc hoặc kém nhạy của một

Trang 6

chủng C neoformans nhiều khả năng được hình

thành ngay trong thời gian tồn tại trên cơ thể

của chính bệnh nhân bị nhiễm

Về việc sử dụng fluconazol dự phòng, mặc

dù hiện tượng kháng chéo thường xảy ra giữa

các hoạt chất trong cùng nhóm, nhưng từ năm

1995, Joseph-Horne đã phát hiện khả năng

kháng chéo giữa amphotericin B và fluconazole

trên một số chủng C neoformans gây bệnh trên

được mối liên hệ giữa việc dùng fluconazol dự

phòng và mức độ đáp ứng in vitro của C

neoformans đối với amphotericin B, thậm chí cả

fluconazol Có lẽ cỡ mẫu đã che dấu bản chất

của vấn đề: chỉ 5/107 trường hợp được ghi nhận

đã phòng ngừa nhiễm nấm cơ hội bằng

fluconazol Do vậy, để nhận định chính xác hơn

về vấn đề này cần một nghiên cứu khác với cỡ

mẫu phù hợp hơn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Bước sóng 640 nm thích hợp cho việc định

lượng nồng độ dịch treo nấm C neoformans trên

dòng máy spectro SC C neoformans kháng mạnh

với flucytosine và có khuynh hướng giảm đáp

ứng với fluconazol và amphotericin B Chưa tìm

thấy sự khác biệt về đáp ứng in vitro giữa var

neoformans và var gattii đối với các thuốc kháng

nấm

Khảo sát MIC của các chủng C neoformans

phân lập từ bệnh nhân và môi trường thiên

nhiên nên được tiến hành với cỡ mẫu phù hợp

để đánh giá chính xác sự thay đổi khả năng đáp

ứng, nếu có, của C neoformans đối với các hoạt

chất kháng nấm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aller AI, Lozano F (2000) Correlation of fluconazole MICs with

clinical outcome in cryptococcal Infection Antimicrob agents

Chemother, 44(6):1544 - 8

2 CDC (2009) Guidelines for prevention and treatment of

opportunistic infections in HIV-infected adults and adolescents

March 24, Vol.58: 48-50

3 Davey KG, Johnson EM , Holmes AD (1998) In vitro

susceptibility of C neoformans isolates to fluconazole and

itraconazole Antimicrob Chemother, 42:217 - 20

4 Espinel-Ingroff A, Gibbs D, and Wang A (2007) Correlation of

Neo-Sensitabs tablet diffusion assay results on three different

agar media with CLSI broth microdilution M27-A2 and disk diffusion M44-A results for testing susceptibilities of Candida

spp and C neoformans to amphotericin B, caspofungin,

fluconazole, itraconazole, and voriconazole Journal of clinical microbiology, 45(3):858 - 64

5 Gomez-Lopez A, Dos M , Martins A, Melhem MC, Rodriguez-Tudela JL, and Cuenca-Estrella M (2008) In vitro susceptibility of

Cryptococcus gattii clinical isolates J Clin Microbiol Infect, 14:727

- 30

6 Josep-Horne T, Hollomon D (1995) Cross-resistance to polyene

and azole drugs in Cryotococcus neoformans Antimicrob Agents

Chemother, 39:1526-9

7 Kimberly E, Hanson BDA, and Perfect J (2009) Drug resistance

in C neoformans In: Mayers DL Antimicrobial Drug Resistance

p 967 - 81

8 Koletar SL, Buesching WJ and Fass R.J (1995) Emerging

resistance to fluconazole among blood and CSF C neoformans

isolates Antimicrob agents Chemother, p 98

9 Kovacs JA Masur H (2000) Prophylaxis against opportunistic infections in patients with human immunodeficiency virus infection N Engl J Med., 342(19): 1416-29

10 Kwon – Chung KJ, and Bennett JE (1984) Epidemiologic

differences between the two varieties of Crytococcus neoformans

Am J Epidemiol., 120:123 - 30

11 Nguyễn LH Anh, La G Hiếu (2009) Đặc điểm dịch tễ & bệnh

học của C neoformans trên bệnh nhân viêm não-màng não điều

trị tại BV Bệnh Nhiệt Đới từ 11/08 - 06/09 2009 Luận văn Tốt nghiệp bác sĩ khóa XV (2003 – 2009) Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch TP HCM

12 Nguyễn Quang Trung (2005) VMN nấm Cryptococcus

neoformans ở bệnh nhân AIDS tại bệnh viện Nhiệt Đới

2004-2005 Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú Đại học Y Dược TP HCM

13 Sar B, Monchy D, Vann M, Keo C, Sarthou JL, and Buisson Y

(2004) Increasing in vitro resistance to fluconazole in C

neoformans Cambodian isolates: April 2000 to March 2002 J of

Antimicro Chemother, 54:563 - 5

14 Swinne D, Nkurikiyinfura JB, and Muyembe TL (1986) Clinical

isolates of Crytococcus neoformans from Zaire Eur J Clin

Microbial, 5:50 -1

15 Thompson GR, Wiederhold NP, Fothergill AW, Vallor AC, Wickes BL, and Patterson TF (2009) Antifungal susceptibilities

among different serotypes of C gattii and C neoformans

Antimicrob agents Chemother, 53(1):309 –11

16 Thornsberry C (1991) Antimicrobial susceptibility testing In: Balows A et al Manual of clinical Microbiology, 5th ed, pp

1059-1201 American Society for Microbiology, Washington DC

17 Tran T H Chau, Ho D Nghia, Ly V Chuong, Dinh X Sinh, Van

A Duong, Pham T Diep, Campbell JI, Baker S (2010) A prospective descriptive study of cryptococcal meningitis in HIV

uninfected patients in Vietnam - high prevalence of C

neoformans var grubii in the absence of underlying disease BMC

Infectious Diseases, 10:199

18 Trilles L, Torres BF, Lazéra MS, Wanke B, and Guarro J (2004)

In vitro antifungal susceptibility of C gattii Journal of clinical

microbiology, 42(10): 4815 - 7

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w