Nghiên cứu được thiết kế nhằm tìm hiểu tỷ lệ có hội chứng chuyển hóa, nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước và sau khi can thiệp vào các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.
Trang 1CỦA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở ĐỐI TƯỢNG CÁN BỘ
Nguyễn Đức Công*, Trương Thiện Niềm**, Lê Sỹ Sâm*, Lê Đình Thanh*, Hoàng Mạnh*
TÓM TẮT
Hội chứng chuyển hoá (HCCH: metabolic syndrome) đang có xu hướng tăng nhanh ở nhiều quốc gia. HCCH có mối liên quan chặt chẽ đến sự xuất hiện một số bệnh: tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ), vữa xơ động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ,
Mục tiêu: Tìm hiểu tỷ lệ có HCCH, nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước và sau khi can thiệp vào các
YTNC của HCCH.
Phương pháp: là nghiên cứu dịch tễ học quan sát, mô tả, cắt ngang. Gồm 1183 đối tượng chia thành hai
nhóm, nhóm trước can thiệp có 500 đối tượng và nhóm sau can thiệp 683 đối tượng. Các đối tượng được phỏng vấn trực tiếp và khám lâm sàng và cận lâm sàng theo các tiêu chí chuẩn bị trước. Nhóm sau can thiệp được giải thích, tác động vào các yếu tố nguy cơ của HCCH.
Kết quả: Theo tiêu chuẩn NCEP‐ATPIII, nhóm trước can thiệp tỷ lệ có HCCH là 55,8%, trong đó nam
43,6%, nữ 12,2%. Nhóm sau can thiệp tỷ lệ có HCCH là 35,5%, trong đó nam 28,4%, nữ 6,9%. Giá trị trung bình cũng như tỷ lệ phần trăm của các yếu tố nguy cơ như vòng bụng, glucose máu, triglyceride máu và HDL‐C
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm trước và nhóm sau can thiệp vào các yếu tố nguy cơ.
Kết luận: Tác động của sự can thiệp vào các yếu tố nguy cơ đã giúp làm giảm tỷ lệ HCCH.
Từ khóa: hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid
ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF THE INTERVENTION ON RISK FACTORS OF METABOLIC SYNDROME
ON STATE OFFICIALS OBJECT
Nguyen Đuc Cong, Truong Thien Niem, Le Sy Sam, Le Đinh Thanh, Hoang Manh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 16 ‐ 24
Background: Metabolic syndrome tends to increase in many countries. Metabolic syndrome is related
closely to a number of diseases: hypertension, diabetes mellitus, atherosclerosis, ischemic heart disease.
Purposes: Learn with metabolic syndrome rate, comment some clinical characteristics before and after the
intervention in Risk factors of metabolic syndrom.
Method: epidemiological study is to observe, describe, interrupted. Total 1183 objects divided into two
groups, pre‐intervention group have 500 objects and 683 objects of post‐intervention group. The objects were directly interviewed and do a physical examination and the criteria to prepare. Post‐intervention groups are explained and impacted on factors risk of Metabolic syndrome.
Results: According to the NCEP‐ATPIII standard, pre‐intervention group with metabolic syndrome rate
was 55.8%, of which 43.6% male, 12.2% female. Post‐intervention group rate was 35.5% with metabolic syndrome, in which males 28.4%, women 6.9%. Average values as well as percentage of risk factors such as waist circumference, serum glucose, serum triglyceride and HDL‐C with differences statistically significant between the two groups before and after the intervention on the requirements risk factor.
* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh ** Bệnh Viện Đa Khoa Bạc Liêu – Sài Gòn
Tác giả liên lạc: PGS.TS.Nguyễn Đức Công, ĐT: 0982160860, Email: cong1608@gmail.com
Trang 2Conclusion: The impact of the intervention on these risk factors have helped reduce the incidence of
metabolic syndrome.
Key words: metabolic syndrome, diabetes mellitus, hypertension, lipid metabolic disorders
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hoá (HCCH: metabolic
syndrome) đang có xu hướng tăng nhanh ở
nhiều quốc gia nhất là ở các nước phát triển và
đang phát triển(1). HCCH đã và đang trở thành
yếu tố nguy cơ (YTNC) cho sự xuất hiện một số
bệnh nguy hiểm: tăng huyết áp (THA), đái tháo
đường (ĐTĐ), vữa xơ động mạch, bệnh tim
thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch vành, đột
quỵ não Nhiều nghiên cứu cho thấy HCCH có
mối liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch
(BTM), là một YTNC cao liên quan đến tử vong
và tàn phế lâu dài, tăng ngày nằm viện, tăng chi
phí điều trị và là một gánh nặng lớn cho gia
đình người bị bệnh cũng như cho xã hội(9). Việt
Nam đang bước vào thời kỳ hiện đại hóa, công
nghiệp hóa, kinh tế đang có bước tăng trưởng
nhanh, đời sống xã hội và kinh tế gia đình của
cán bộ công chức đã được cải thiện và tăng lên,
đây là điều kiện thuận lợi để HCCH tăng lên
trong đối tượng cán bộ công chức.
Trong các năm gần đây, qua công tác khám
kiểm tra sức khỏe định kỳ cho cán bộ diện Tỉnh
ủy quản lý, Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh
Bạc Liêu nhận thấy tình hình THA, bệnh ĐTĐ
và rối loạn lipid (RLLP) máu ngày càng tăng lên
kèm theo tình trạng thừa cân và béo của cán bộ
cũng xuất hiện khá cao liên quan chặt chẽ đến
HCCH. Từ đó, Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe
tỉnh Bạc Liêu đã có nhiều biện pháp khuyến cáo
về các biện pháp dự phòng HCCH và quản lý
sức khỏe cho cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý từ
năm 2005 – 2011. Để đánh giá tình hình HCCH
và đặc điểm của HCCH trong đối tượng cán bộ
chủ chốt của tỉnh sau can thiệp các YTNC của
HCCH để đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù
hợp và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức
khỏe cán bộ Tỉnh. Mục tiêu nghiên cứu của đề
tài này là:
‐ Tìm hiểu tỷ lệ có HCCH ở những đối
tượng trước và sau khi can thiệp vào các YTNC của HCCH.
‐ Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước
và sau khi can thiệp vào các YTNC của HCCH. Đồng thời tìm hiểu mối liên quan giữa HCCH với các YTNC đó.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn vào
Là các cán bộ được quản lý sức khỏe tại Ban
bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Tỉnh ủy Bạc Liêu. Nhóm trước can thiệp vào các YTNC của HCCH gồm 500 cán bộ được kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm từ trước cho đến năm 2005 và nhóm sau can thiệp gồm 683 người từ 2005 đến
2011 kể cả người đã được chẩn đoán, điều trị bệnh THA, ĐTĐ, RLLP máu
Tiêu chuẩn loại trừ
Những người mắc bệnh hiểm nghèo, các bệnh cấp tính đang điều trị. Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu dịch tễ học
quan sát, mô tả, cắt ngang.
Nội dung nghiên cứu
Các bước tiến hành
Lập mẫu phiếu điều tra cho đối tượng nghiên cứu. Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu theo nội dung phiếu điều tra. Khám lâm sàng và lấy máu làm các xét nghiệm sinh hóa. Tổng hợp số liệu, phân tích và đánh giá kết quả.
Nội dung nghiên cứu
Phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi chuẩn của WHO về tuổi, công việc, các YTNC, các thói quen xấu trong lối sống, chế độ ăn, uống bia và
Trang 3(THA, ĐTĐ ).
Đo một số chỉ số nhân trắc: như chiều cao,
cân nặng, vòng bụng (VB) và vòng mông bằng
dụng cụ đo nhân trắc học và được tiến hành
theo phương pháp đo nhân trắc học thông
thường. Tính chỉ số BMI theo công thức:
BMI (kg/m2) = Trọng lượng cơ thể (kg) [chiều cao cơ thể (m)]2
Theo tiêu chuẩn WHO áp dụng cho khu vực
châu Á ‐ Thái Bình Dương (2000): BMI ≥ 23
kg/m2 được gọi là thừa cân và béo; VB tăng khi ≥
90 cm ở nam giới, ≥ 80 cm ở nữ giới được gọi là
béo bụng.
Đo huyết áp: Đo HA bằng máy HA kế đồng
hồ được kiểm chuẩn theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam (2008). Bệnh nhân được gọi là THA khi HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mHg.
Xét nghiệm sinh hóa: Định lượng nồng độ glucose, HDL‐C và triglyceride máu lúc đói được tiến hành bằng phương pháp enzyme trên máy hoá sinh ADVIA 1200 tự động tại khoa xét nghiệm Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu.
Chẩn đoán HCCH: Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của NCEP‐ATP III năm 2001 và Tiêu chuẩn của IDF (khu vực châu Á‐Thái Bình Dương).
Các biện pháp can thiệp vào các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa
Bảng 1. Các biện pháp làm giảm các YTNC của HCCH:
Béo (béo bụng) Giảm cân; tăng hoạt động cơ thể Giảm 10% trọng lượng cơ thể trong năm đầu, sau đó giảm cân tiếp để có
BMI và VB lý tưởng, giảm khẩu phần ăn nhiều năng lượng, Tăng cường
các bài tập thể dục thông thường từ 30 - 60 phút/ngày
Tăng triglyceride Giảm cân; tăng hoạt động cơ thể;
tn ít chất béo Ăn nhiều rau và hoa quả; thực hiện chế độ ăn nhạt; hạn chế uống rượu, bia
Tập thể dục từ 30 - 60 phút/ngày; Ăn nhiều rau, hoa quả và dầu thực vật,
ăn cá ít nhất 1lần/tuần, ăn ít chất béo và ngọt; Giảm uống rượu, không HTL và gia nhập hội những người không HTL và không uống rượu; Triglyceride < 1,7 mmol/L, HDL-C > 1,03 mmol/L ở giới nam và > 1,29
mmol/L ở nữ
THA Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể
Ăn nhiều carbonhydrate Hạn chế uống rượu và thuốc lá
Huyết áp < 130/85 mmHg Tập thể dục hàng ngày từ 30 - 60 phút Ăn nhiều rau, hoa quả, ít chất béo Ăn muối < 2,4 gam Na + /ngày, NaCl 6
g/ngày; giảm uống rượu Tăng glucose
máu
Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể;
giảm khẩu phần ăn nhiều carbonhydrate
Tập hể dục hàng ngày từ 30 - 60 phút; ăn nhiều rau, hoa quả, nhiều chất xơ; ăn ít chất béo và ngọt; chọn sản phẩm tinh chế từ ngũ cốc: đậu nành,
khoai
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phần mềm SPSS 16.0.
Kiểm định student (t‐test) và không ghép cặp.
So sánh hai tỷ lệ bằng kiểm định Chi bình
phương (χ2‐test). Tính tỷ suất chênh OR. Khi giá
trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa
Nhóm trước can thiệp vào các yếu tố nguy
cơ của HCCH là nhóm gồm những đối tượng
không dùng các giải pháp để can thiệp vào các
yếu tố nguy cơ của HCCH, kết quả có 500 đối
tượng. Nhóm sau can thiệp là nhóm được tác
động bằng các giải pháp làm giảm các yếu tố
nguy cơ của HCCH, kết quả có 683 đối tượng.
Bảng 2. Tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn NCEP‐ATPIII
Nam Nữ Toàn bộ nhóm
SL % SL % SL (%)
Nhóm trước can thiệp
402 80,4 98 19,6 500 100%
Có HCCH 218 43,6 61 12,2 279 55,8% Không có HCCH 184 36,8 37 7,4% 221 44,2% Nhóm trước can
thiệp
536 78,5 147 21,5 683 100%
Có HCCH 194 28,4 47 6,9 241 35,3% Không có HCCH 342 50,1 100 14,6 442 64,7%
Tỷ lệ có HCCH ở nhóm sau can thiệp theo tiêu chuẩn của IDF. Theo IDF thì yếu tố vòng bụng là yếu tố bắt buộc phải có để chẩn đoán HCCH. Có 164 đối tượng có HCCH chiếm tỷ
lệ 24%.
Trang 4Tuổi và giới tính
Tuổi trung bình của nhóm là: 65 ± 12
Tuổi trung bình ở nữ 68 ± 12; Tuổi trung
bình nam 64 ± 12, thấp hơn so với nữ.
Nam chiếm 536 đối tượng, tương đương
78,5% của nhóm sau can thiệp.
Nữ chiếm 147 đối tượng, tương đương
21,5%. Tỷ lệ nam/nữ = 4/1.
315(46,1%) 221(32,4%)
27(4%)
120(17,5%)
0
50
100
150
200
250
300
350
< 60 tuổi ≥ 60 tuổi
Biểu đồ 1. Phân bố tuổi và giới của nhóm sau can
thiệp vào HCCH
Ở nhóm < 60 tuổi: gồm có 248 đối tượng
chiếm 36,3%, trong đó: Nam 32,4%
Ở nhóm ≥ 60 tuổi: có 435 đối tượng chiếm
63,7%, trong đó: Nam 46,1%
Chỉ số BMI ở nhóm sau can thiệp vào HCCH
Bảng 3. Tỷ lệ thừa cân và béo ở sau can thiệp HCCH
BMI (Kg/m 2 )
< 60 tuổi ≥ 60 tuổi Tổng số
p
n =
248 %
n =
435 %
n =
683 %
Thừa cân:
BMI ≥ 23 kg/m2 175 70,6 195 44,8 370 54,2 < 0,001
Béo:
(BMI ≥ 25) Béo 116 46,8 101 23,2 217 31,8 < 0,001
Tỷ lệ có chỉ số BMI ≥ 23 kg/m2 chiếm 54,2%,
trong đó BMI ≥ 25 kg/m2 là: 31,8%.
Giá trị trung bình của các yếu tố nguy cơ
trong HCCH:
Bảng 4. Các giá trị trung bình của các YTNC trong
HCCH
Các yếu tố
nguy cơ
Giá trị trung bình
P Trước can thiệp
(n = 500)
Sau can thiệp (n = 683)
Vòng bụng (cm) 82,8 ± 10,1 81,8 ± 9,0 < 0,01
Glucose 5,84 ± 0,96 6,16 ± 1,49 <
(mmol/L) 0,001 HDL-C (mmol/L) 1,18 ± 0,23 1,07 ± 0,23 > 0,05 Triglyceride
(mmol/L) 2,61 ± 0,99 2,71 ± 1,70 > 0,05
Chỉ số vòng bụng ở nhóm sau can thiệp là 81,8 ± 9,0 cm, thấp hơn so với nhóm trước can thiệp các YTNC là 82,8 ± 10,1 cm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với p <0,01.
Nồng độ glucose máu ở nhóm sau can thiệp 6,16 ± 1,49 mmol/L, cao hơn so với nhóm trước can thiệp 5,84 ± 0,96 mmol/L, khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,001.
Nồng độ HDL‐C và triglyceride máu của nhóm trước và nhóm sau can thiệp gần tương đương nhau, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
Tỷ lệ của các yếu tố nguy cơ trong HCCH Bảng 5. Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ của HCCH
Yếu tố nguy
cơ
Trước can thiệp
Sau can thiệp
OR p
n =
500 %
n =
683 %
Tăng VB 413 82,6% 194 28,4% 11,97 0,0005 Tăng HA 277 55,4% 256 37,5% 2,07 0,0005 Giảm HDL-C 247 49,9% 161 23,6% 0,32 0,0005 Tăng
Triglyceride 409 81,8% 334 48,9% 0,21 0,0005 Tăng glucose
máu
235 47% 350 51,3% 1,19 0,15
Tỷ lệ tăng VB ở nhóm sau can thiệp là 28,4%, thấp hơn so với trước CT là 82,6%.
Tỷ lệ THA ở nhóm sau can thiệp là 37,5%, thấp hơn so với trước CT là 55,4%
Tỷ lệ giảm HDL‐C ở nhóm sau can thiệp là 23,6%, giảm nhiều so với trước CT là 49,9%.
Tỷ lệ tăng triglyceride ở nhóm sau can thiệp
là 48,9%, giảm nhiều so với trước CT là 81,8%.
Tỷ lệ tăng glucose máu ở nhóm sau can thiệp là 51,3%, nhóm trước can thiệp là 47%. Kiểm định χ2 cho thấy sự khác biệt của hai nhóm ý nghĩa thống kê, p < 0,05.
Mối liên quan của các yếu tố nguy cơ với HCCH theo IDF
Bảng 6. Mối liên quan giữa HCCH với các yếu tố
nguy cơ
Trang 5Yếu tố vòng
bụng (VB)
Có HCCH Không có HCCH
pvalue
SL % SL %
Tăng VB 164 100% 30 5,8% P <
0,0005 Tăng HA 102 62,2% 229 44,1% P < 0,001
Tăng glucose 136 82,9% 315 60,7% P <
0,0005 Tăng triglyceride 155 94,5% 376 72,4% P < 0,001
Giảm HDL-C 101 61,6% 421 81,1% P <
0,0005
Tỷ lệ tăng VB ở nhóm có HCCH là 100%,
nhóm không có HCCH 30/519= 5,8%.
Tỷ lệ tăng HA ở nhóm có HCCH là 62,2%,
nhóm không có HCCH là 44,1%.
Tỷ lệ glucose máu ở nhóm có HCCH là
82,9%, nhóm không có HCCH là 60,7%.
Tỷ lệ tăng triglyceide ở nhóm có HCCH là
94,5%, nhóm không có HCCH là 72,4%.
Tỷ lệ giảm HDL‐C máu ở nhóm có HCCH là
61,6%, nhóm không có HCCH là 81,1%.
BÀN LUẬN
Về tỷ lệ HCCH của nhóm nghiên cứu
HCCH là tập hợp của nhiều triệu chứng liên
quan đến BTM như: kháng insulin, béo bụng,
RLLP máu, tăng glucose máu, THA làm gia
tăng quá trình vữa xơ động mạch. Các nghiên
cứu gần đây cho thấy có mối liên quan mật thiết
giữa HCCH và BTM. Gần đây tỷ lệ BTM đang
có xu hướng gia tăng ở Việt Nam. Phạm Gia
Khải và CS (2000) quan sát thấy tỷ lệ bệnh nhân
mắc bệnh ĐMV điều trị tại viện Tim mạch quốc
gia tăng lên qua từng năm từ 1994‐1996 lần lượt
là: 3,4%; 5,0% và 6,1%.
Do HCCH liên quan chặt chẽ đến BTM,
bệnh ĐMV và tử vong nên trong những năm
qua, công tác chăm sóc và quản lý sức khỏe của
Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy
Bạc Liêu quản lý đã chú trọng trong khám sức
khỏe định kỳ cho các cán bộ với nhiều nội dung
phỏng vấn và khám bệnh, làm các xét nghiệm
thường quy liên quan đến BTM. Đồng thời, sau
khám sức khỏe định kỳ các cán bộ được phân
nhóm ra các nhóm bệnh có liên quan đến BTM
như: nhóm THA, nhóm ĐTĐ, nhóm RLLP máu,
nhóm có HCCH từ đó có những lời khuyên và
kế hoạch điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ HCCH cho các cán bộ đang giữ chức vụ hoặc nguyên là cán bộ của Tỉnh ủy quản lý.
Trong 2005, chúng tôi khảo sát được 500 đồng chí và tỷ lệ HCCH là: 55,8% (trong đó tỷ lệ HCCH ở nam: 43,6%; nữ: 12,2%). Kết quả nghiên cứu này tương tự với nhiều nghiên cứu trước đây về tỷ lệ HCCH ở người có độ tuổi >
40 như: Lê Hoài Nam (2005) nghiên cứu 952 bệnh nhân THA nguyên phát (độ tuổi từ 40 ‐ 70) theo tiêu chuẩn của NCEP áp dụng cho khu vực châu Á ‐ Thái Bình Dương thì tỷ lệ có HCCH ở đối tượng này là 51,4%. Trần Hữu Dàng (2005) nghiên cứu trên 152 bệnh nhân THA nguyên phát theo tiêu chuẩn của NCEP thì tỷ lệ có HCCH là 53,3%(5). Nguyễn Cảnh Toàn và CS (2007) nghiên cứu 509 người có độ tuổi ≥ 40 (năm) thấy tỷ lệ HCCH là: 46,2%. Trong thời gian từ 2005‐2011, Ban bảo vệ sức khỏe của Tỉnh ủy đã nhận thức nguy cơ BTM trong đội ngũ cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý nếu không có những biện pháp phòng ngừa, chính vì vậy chúng tôi luôn động viên cán bộ bớt chút thời gian khám định kỳ cho đủ hoặc khám bổ sung, bám sát theo dõi các đối tượng có YTNC cao như: THA, ĐTĐ, HCCH kết hợp với tuyên truyền vận động các cán bộ có ý thức trong điều chỉnh hành vi lối sống của mình để thoát ra khỏi HCCH như: chế độ ăn tăng nhiều chất xơ, giảm ăn đạm, chất béo, hạn chế rượu bia, từ bỏ HTL, tăng cường phong trào thể dục thể thao tại các cơ quan và tại nhà, các đối tượng
có bệnh THA được theo dõi huyết áp hàng tháng, hàng quý; đối tượng có ĐTĐ týp 2 được kiểm soát glucose và HbA1c hàng quý, đối tượng béo được khuyến cáo giảm cân và giảm vòng bụng
Sau nhiều năm thực hiện kết quả nghiên cứu
về HCCH cho thấy ở 683 cán bộ được khám định kỳ năm 2011 cho thấy tỷ lệ HCCH đã giảm đáng kể biểu hiện: tỷ lệ HCCH chung chỉ còn 35,3% thấp hơn so với năm 2005 (55,8%) có ý nghĩa thống kê p < 0,001 với OR = 0,43; nghĩa là
Trang 6giới nam và nữ tỷ lệ HCCH đều giảm lần lượt là:
28,4% và 6,9% so với năm 2005 lần lượt là: 43,6%
và 12,2%.
Trong nghiên cứu, khi so sánh mối liên quan
giữa 2 nhóm tuổi < 60 v ≥ 60 thì theo tiêu chuẩn
NCEP‐ATP III trước can thiệp với các YTNC của
HCCH thì tỉ lệ HCCH ở nhóm tuổi ≥ 60 tuổi l
58,6% cao hơn nhóm < 60 tuổi l 43,5% với p <
0,001. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với nhận
định của nhiều tác giả tuổi là một yếu tố nguy cơ
liên quan đến HCCH được nhiều tác giả nhận
thấy trong nghiên cứu của họ.
Về các đặc điểm của HCCH
Tuổi và giới
500 người thuộc diện cán bộ tỉnh ủy quản
lý tại tỉnh Bạc Liêu (năm 2005) và theo dõi dọc
từ năm 2006‐2011 với 683 cán bộ được chọn
gồm ở các huyện, thành phố và các ngành
trong toàn tỉnh thuộc diện Tỉnh ủy quản lý.
Tuổi trung bình là: 65 ± 12. Ở nam nhóm tuổi
từ 50‐59 chiếm tỷ lệ cao nhất (29,3%); ở nữ thì
nhóm tuổi từ 60‐69 (37,4%). Trong 683 cán bộ
được can thiệp HCCH thì tỉ lệ nam và nữ lần
lượt là 78,5% và 21,5%. Đối tượng nghiên cứu
là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các ngành, các
huyện, thành phố trong tỉnh nên áp lực về
công việc rất lớn, môi trường làm việc chủ yếu
trong văn phòng, chế độ làm việc tĩnh tại,
thêm vào đó chế độ ăn nhiều đạm, mỡ, đường,
rượu bia, HTL Đó là những yếu tố thúc đẩy
xuất hiện HCCH và các YTNC của BTM.
Thừa cân và béo
Ngày nay, tỷ lệ thừa cân và béo đang gia
tăng đến mức báo động ở các nước phát triển
cũng như các nước đang phát triển, ở thành
phố cũng như ở những vùng nông thôn. Theo
Tổ chức Béo phì Quốc tế (IOTF: International
Obesity Task Force) tính đến năm 2003, trên
thế giới có 300 triệu người béo phì và 1,7 tỷ
người thừa cân. Ở Việt Nam, tỷ lệ béo phì
đang gia tăng nhanh, nhất là ở các vùng đô
thị(4). Theo tiêu chuẩn của WHO áp dụng cho
khu vực châu Á‐Thái Bình Dương (2000) khi đối tượng có BMI ≥ 23kg/m2 được gọi là thừa cân và béo; béo phì khi BMI ≥ 25kg/m2(4). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thừa cân và béo chiếm khá cao 54,2%, trong đó béo phì chiếm 31,8%. Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Toàn và CS (2006‐2007) thấy tỷ
lệ thừa cân và béo chiếm 42,5%.
Béo bụng
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh được béo bụng là một trong những cơ chế bệnh sinh quan trọng của HCCH, bởi béo bụng sẽ sản xuất ra nhiều yếu tố như: TNFα, interleukin, PAI ‐1, adiponectin, acid béo tự do làm rối loạn chuyển hóa và liên quan chặt chẽ đến BTM. VB luôn là một trong những tiêu chí chính để chẩn đoán HCCH, bởi nếu dựa vào chỉ số BMI thì liên quan đến khối lượng cơ do vậy ở người khỏe mạnh có cơ bắp thì tăng BMI nhưng chưa chắc
họ đã béo. Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy nhóm sau khi được can thiệp các YTNC thì số
đo VB là 81,8 ± 9,0 cm thấp hơn so với trước can thiệp: 82,8 ± 10,1 cm. Đặc biệt, sau can thiệp các YTNC của HCCH tỷ lệ tăng VB chỉ còn 28,4% thấp hơn so với trước can thiệp HCCH 82,6% với p < 0,0005. Kết quả trên cho thấy những cố gắng trong công tác phòng bệnh HCCH và BTM của Ban bảo vệ sức khỏe của Tỉnh trong 5 năm qua đã có những tiến triển thuận lợi, giảm đáng
kể một tiêu chí chính trong HCCH, làm giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2 và BTM.
Rối loạn lipid máu
RLLP máu có mối liên quan chặt chẽ đến HCCH. Ở người có HCCH thường gây tăng insulin, làm tăng giải phóng các acid béo tự do trong tuần hoàn, làm tăng vữa xơ động mạch gây ra BTM(5). Chính vì vậy, trong các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH như: WHO, NCEP, IDF các tiêu chí thành phần RLLP máu không thể thiếu trong các tiêu chuẩn. Trong đó, triglyceride và HDL‐C là hai tiêu chuẩn được các nghiên cứu thường sử dụng. Stroup TS (2004) thấy tỷ lệ có HCCH chiếm 64% ở người có RLLP máu. Giảm HDL‐C và triglyceride nói riêng có vai trò quan
Trang 7HCCH. Giray K và CS (2007) nghiên cứu
ICEBERG thấy ở nhóm được điều trị giảm HDL‐
C thì tỷ lệ HCCH giảm đáng kể và cải thiện
nguy cơ bị BTM. Nghiên cứu cho thấy nồng độ
HDL‐C(7) và triglyceride trước và sau can thiệp
các YTNC của HCCH không có sự khác biệt (p >
0,0005). Tuy nhiên, tỷ lệ tăng triglyceride ở
nhóm sau can thiệp chỉ còn 48,9% so với trước
can thiệp 81,8%, với p < 0,0005.
Tăng huyết áp
THA nguyên phát đang ngày càng phổ biến
trong cộng đồng và chiếm tỷ lệ cao ở nhiều
nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo
WHO dự báo đến năm 2025 thế giới có khoảng
1,56 tỷ người bị THA, trong đó khu vực Đông
Nam Á hàng năm có khoảng 1,5 triệu người
chết do THA, ở Việt Nam theo thống kê của
WHO năm 2008 thì tỷ lệ THA nguyên phát
chiếm 26,1%. THA nguyên phát đã trở thành
một vấn đề về sức khoẻ cộng đồng được quan
tâm trong những năm gần đây, bởi THA
thường gây ra những biến chứng như: đột quỵ
não, bệnh động mạch vành… làm tàn phế hoặc
tử vong cho người bị bệnh.
Về mối liên quan của một số yếu tố nguy
cơ với HCCH
Mối liên quan giữa số đo vòng bụng với
HCCH theo IDF
Nhiều nghiên cứu cho thấy béo bụng là
nguyên nhân chính liên quan đến HCCH, chính
vì vậy IDF đã chọn số đo VB là tiêu chuẩn chính
để chẩn đoán HCCH.
Mối liên quan giữa trị số huyết áp với
HCCH
THA nguyên phát đang là một bệnh phổ
biến ở nhiều quốc gia và tỷ lệ có HCCH ở đối
tượng này có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng
nhiều đến sức khoẻ, nhất là tiến triển thành
ĐTĐ týp 2, bệnh ĐMV và làm tăng tỷ lệ tử vong cho người bệnh(8,9). Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy tỷ lệ có chỉ số HA là ≥ 130/85mmHg trong nhóm có HCCH là 62,2% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có HCCH 44,1%. Do vậy, trong công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và cán bộ nói riêng cần đặc biệt quan tâm đến chỉ số HA và tỷ
lệ này, từ đó chúng ta có kế hoạch dự phòng và điều trị bệnh THA, góp phần hạn chế biến chứng của bệnh và tỷ lệ tử vong. Bởi các biến chứng của THA có liên quan chặt chẽ trị số HATT va HATTr.
Mối liên quan giữa glucose máu với HCCH
Ngày nay, tăng glucose máu và ĐTĐ đang là vấn đề quan trọng được cộng đồng quan tâm, bởi sự tăng glucose máu được ví như kẻ giết người thầm lặng (silent killer)(4,1). Theo IDF tính đến năm 2012, thế giới có khoảng 371 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (4,8 triệu người chết; 50% bệnh nhân ĐTĐ không được chẩn đoán) và dự báo con số này sẽ tăng lên gấp 2,3 lần vào năm
2030, tử vong do ĐTĐ chiếm 80% ở các nước chậm phát triển. Trong đó, ở Việt Nam cũng gia tăng trong những năm gần đây từ là 4,0% (2001) lên khoảng 5,78% (2012)(4). Bệnh ĐTĐ týp 2 tiến triển âm thầm, từ từ, nếu không được phát hiện
và kiểm soát tốt sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, để lại di chứng nặng nề như: tổn thương mắt, thần kinh ngoại vị, mạch máu, hoại
tử chi, suy thận, nhất là BTM (BTM)… làm tăng nguy cơ tử vong và tàn phế cho người bị bệnh, đồng thời làm tăng gánh nặng về y tế của gia đình người bệnh và cộng đồng(4). Kết quả của nghiên cứu tương tự nghiên cứu của Su C.H (2011) thấy tỉ lệ tăng glucose máu 5,6 mmol/L.
Mối liên quan giữa triglyceride và HDL‐C với HCCH
Trang 8RLLP là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến
vữa xơ động mạch, BTM. Chính vì vậy, trong
các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH như: WHO,
NCEP, IDF các tiêu chí thành phần RLLP máu
không thể thiếu trong các tiêu chuẩn. Trong đó,
triglyceride và HDL‐C là hai tiêu chuẩn được các
nghiên cứu thường sử dụng(4). RLLP trong
HCCH làm tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hình thành xơ vữa động mạch, bởi trong HCCH
làm tăng tạo các chất trung gian gây viêm, rối
loạn quá trình đông máu như: Interleukin‐6,
PAI‐1, protein C phản ứng Sự gia tăng của
triglyceride, LDL‐C và giảm HDL‐C đi riêng lẻ
hoặc đi kết hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ
mắc bệnh ĐMV nhiều hơn(2). Rối loạn lipid do
đề kháng insulin là khía cạnh rất quan trọng của
HCCH, có thay đổi về số lượng cũng như chất
lượng trong thành phần lipoprotein, với tự hình
thành LDL‐C và tăng triglyceride và giảm HDL‐
C. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tăng triglyceride
vẫn còn cao 77,7%. Nhất là, ở nhóm có HCCH tỉ
lệ này là 94,5% cao hơn so với nhóm không có
HCCH 72,4%.
Quản lý chăm sóc sức khỏe cho cán bộ Tỉnh
ủy quản lý là một nhiệm vụ quan trọng của Ban
bảo vệ sức khỏe Tỉnh. Trong những năm qua,
chúng tôi đã tích cực làm giảm các YTNC của
HCCH và tỷ lệ HCCH nhằm giảm nguy cơ BTM
và tử vong cho cán bộ trong toàn tỉnh (kể cả
đương chức và nghỉ hưu). Thành quả bước đầu
cho thấy nếu thay đổi lối sống xấu liên quan đến
HCCH như: ăn nhiều đạm, ít vận động, HTL,
uống nhiều rượu bia và tăng cường thể dục thể
thao, đồng thời kết hợp với điều trị bằng thuốc
cho những trường hợp THA, ĐTĐ, RLLP máu
có HCCH thì sẽ làm giảm tỷ lệ HCCH và nguy
cơ BTM ngay cả ở những người bị THA,
ĐTĐ Trong những năm tới, chúng ta cần đưa
các xét nghiệm mới vào trong khám sức khỏe
định kỳ cho cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý
như: insulin, nghiệm pháp dung nạp glucose
cho người tăng glucose máu, siêu âm động
mạch cảnh nhằm dự báo và ngăn chặn nguy
cơ BTM, đảm bảo cho Tỉnh nhà có được các cán
bộ vừa có chuyên môn, có kinh nghiệm trong
công tác quản lý và có sức khỏe tốt trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước giao cho trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
KẾT LUẬN
Tỷ lệ có HCCH theo NCEP ATP III ở nhóm trước can thiệp là 55,8%, ở nhóm sau can thiệp là 35,3%. Tác động của sự can thiệp đã giúp làm giảm tỷ lệ HCCH.
Đặc điểm lâm sàng ở nhóm sau can thiệp: Tuổi > 60 tuổi chiếm 63,7%. Tỷ lệ tăng VB là 28,4%; tăng HA là 37,5%; tăng triglyceride là 48,9%; giảm HDL‐C là 23,6%. Tất cả đều có cải thiện khả quan so với nhóm trước can thiệp vào các YTNC của HCCH.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bruno G, Merletti, Biggeri A, et al (2004), “Metabolic syndrome as a predictor of al cause and cardiovascular mortality in týpe 2 diabetes. The Casale Monferrato Study”,
Diabetes Care, 27, pp. 2689‐94.
2 Đỗ Kim Hoa (2008), “Nghiên cứu tỷ lệ và đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn IDF‐2005 ở cán bộ quân đội tại
Quân khu X”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ CKII, Học viện Quân
y, Hà Nội.
3 Lê Văn Bàng (2006), “Hội chứng chuyển hóa”, Tạp chí y học
thực hành, 548, tr. 347‐57.
4 Tạ Văn Bình (2006), “Hội chứng chuyển hóa, Bệnh đái tháo đường – tăng glucose máu”, Nh xuất bản Y học H Nội, tr.597‐610.
5 Trần Hữu Dàng (2005), “Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học ‐ Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên
ngành nội tiết và chuyển hóa lần thứ 3, Tạp chí Y học thực hành, 507‐508, tr. 53‐57.
6 Trương Quang Bình (2001), “Nghiên cứu rối loạn lipid,
liproprotein ở bệnh nhân động mạch vành”, Luận án Tiến sỹ y học,Đại học Y‐Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
7 Varagas ER, Vinas MRA, Delisle H (2007), “Prevalence of the metabolic syndrome and associated lifestyles in adult males
from Oaxaca, Mexico”, Salud Publica Mex, 49, pp. 94‐102.
8 Volek JS, Sharman MJ, Gómez AL, DiPasquale C, Roti
M, Pumerantz A (2004), “Comparison of a very low‐ carbohydrate and low‐fat diet on fasting lipids, LDL subclasses, insulin resistance, and postprandial lipemic responses in overweight women”, J Am Coll Nutr, 23(2), pp. 177‐84.
9 Wanamethee SG, Shaper AG, Lennon L, Morris RW (2005),
“Metabolic syndrome vs Framingham Risk Score for prediction coronary heart disease, stroke and týpe 2 diabetes
mellitus”, Arch Intern Med, 165, pp. 2644‐50.
Ngày nhận bài báo 01‐07‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08‐07‐2013 Ngày bài báo được đăng: 01–08‐2013
Trang 9