1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của sự can thiệp vào các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa ở đối tượng cán bộ

9 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 473,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thiết kế nhằm tìm hiểu tỷ lệ có hội chứng chuyển hóa, nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước và sau khi can thiệp vào các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

CỦA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở ĐỐI TƯỢNG CÁN BỘ 

Nguyễn Đức Công*, Trương Thiện Niềm**, Lê Sỹ Sâm*, Lê Đình Thanh*, Hoàng Mạnh* 

TÓM TẮT 

Hội  chứng  chuyển  hoá  (HCCH:  metabolic  syndrome)  đang  có  xu  hướng  tăng  nhanh  ở  nhiều  quốc  gia.  HCCH có mối liên quan chặt chẽ đến sự xuất hiện một số bệnh: tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ),  vữa xơ động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ,  

Mục tiêu: Tìm hiểu tỷ lệ có HCCH, nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước và sau khi can thiệp vào các 

YTNC của HCCH. 

Phương pháp: là nghiên cứu dịch tễ học quan sát, mô tả, cắt ngang. Gồm 1183 đối tượng chia thành hai 

nhóm, nhóm trước can thiệp có 500 đối tượng và nhóm sau can thiệp 683 đối tượng. Các đối tượng được phỏng  vấn trực tiếp và khám lâm sàng và cận lâm sàng theo các tiêu chí chuẩn bị trước. Nhóm sau can thiệp được giải  thích, tác động vào các yếu tố nguy cơ của HCCH. 

Kết  quả: Theo tiêu chuẩn NCEP‐ATPIII, nhóm trước can thiệp tỷ lệ có HCCH là 55,8%, trong đó nam 

43,6%, nữ 12,2%. Nhóm sau can thiệp tỷ lệ có HCCH là 35,5%, trong đó nam 28,4%, nữ 6,9%. Giá trị trung  bình cũng như tỷ lệ phần trăm của các yếu tố nguy cơ như vòng bụng, glucose máu, triglyceride máu và HDL‐C 

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm trước và nhóm sau can thiệp vào các yếu tố nguy cơ. 

Kết luận: Tác động của sự can thiệp vào các yếu tố nguy cơ đã giúp làm giảm tỷ lệ HCCH. 

Từ khóa: hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid 

ABSTRACT 

EFFECTIVENESS OF THE INTERVENTION ON RISK FACTORS OF METABOLIC SYNDROME  

ON STATE OFFICIALS OBJECT  

Nguyen Đuc Cong, Truong Thien Niem, Le Sy Sam, Le Đinh Thanh, Hoang Manh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 16 ‐ 24 

Background:  Metabolic  syndrome  tends  to  increase  in  many  countries.  Metabolic  syndrome  is  related 

closely to a number of diseases: hypertension, diabetes mellitus, atherosclerosis, ischemic heart disease. 

 Purposes: Learn with metabolic syndrome rate, comment some clinical characteristics before and after the 

intervention in Risk factors of metabolic syndrom. 

Method:  epidemiological  study  is  to  observe,  describe,  interrupted.  Total  1183  objects  divided  into  two 

groups,  pre‐intervention  group  have  500  objects  and  683  objects  of  post‐intervention  group.  The  objects  were  directly  interviewed  and  do  a  physical  examination  and  the  criteria  to  prepare.  Post‐intervention  groups  are  explained and impacted on factors risk of Metabolic syndrome. 

Results: According to the NCEP‐ATPIII standard, pre‐intervention group with metabolic syndrome rate 

was  55.8%,  of  which  43.6%  male,  12.2%  female.  Post‐intervention  group  rate  was  35.5%  with  metabolic  syndrome, in which males 28.4%, women 6.9%. Average values as well as percentage of risk factors such as waist  circumference, serum glucose, serum triglyceride and  HDL‐C  with  differences  statistically  significant  between  the two groups before and after the intervention on the requirements risk factor. 

* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh ** Bệnh Viện Đa Khoa Bạc Liêu – Sài Gòn 

Tác giả liên lạc: PGS.TS.Nguyễn Đức Công, ĐT: 0982160860, Email: cong1608@gmail.com  

Trang 2

Conclusion:  The  impact  of  the  intervention  on  these  risk  factors  have  helped  reduce  the  incidence  of 

metabolic syndrome. 

Key words: metabolic syndrome, diabetes mellitus, hypertension, lipid metabolic disorders 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hội  chứng  chuyển  hoá  (HCCH:  metabolic 

syndrome)  đang  có  xu  hướng  tăng  nhanh  ở 

nhiều quốc gia nhất là ở các nước phát triển và 

đang phát triển(1). HCCH  đã  và  đang  trở  thành 

yếu tố nguy cơ (YTNC) cho sự xuất hiện một số 

bệnh nguy hiểm: tăng huyết áp (THA), đái tháo 

đường  (ĐTĐ),  vữa  xơ  động  mạch,  bệnh  tim 

thiếu  máu  cục  bộ,  bệnh  động  mạch  vành,  đột 

quỵ não  Nhiều nghiên cứu cho thấy HCCH có 

mối  liên  quan  chặt  chẽ  đến  bệnh  tim  mạch 

(BTM), là một YTNC cao liên quan đến tử vong 

và tàn phế lâu dài, tăng ngày nằm viện, tăng chi 

phí  điều  trị  và  là  một  gánh  nặng  lớn  cho  gia 

đình người bị bệnh cũng như cho xã hội(9). Việt 

Nam đang bước vào thời kỳ hiện đại hóa, công 

nghiệp  hóa,  kinh  tế  đang  có  bước  tăng  trưởng 

nhanh, đời sống xã hội và kinh  tế  gia  đình  của 

cán bộ công chức đã được cải thiện và tăng lên, 

đây  là  điều  kiện  thuận  lợi  để  HCCH  tăng  lên 

trong đối tượng cán bộ công chức. 

Trong các năm gần đây, qua công tác khám 

kiểm tra sức khỏe định kỳ cho cán bộ diện Tỉnh 

ủy quản lý, Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh 

Bạc  Liêu  nhận  thấy  tình  hình  THA,  bệnh  ĐTĐ 

và rối loạn lipid (RLLP) máu ngày càng tăng lên 

kèm theo tình trạng thừa cân và béo của cán bộ 

cũng  xuất  hiện  khá  cao  liên  quan  chặt  chẽ  đến 

HCCH.  Từ  đó,  Ban  bảo  vệ  chăm  sóc  sức  khỏe 

tỉnh Bạc Liêu đã có nhiều biện pháp khuyến cáo 

về  các  biện  pháp  dự  phòng  HCCH  và  quản  lý 

sức  khỏe  cho  cán  bộ  diện  Tỉnh  ủy  quản  lý  từ 

năm 2005 – 2011. Để đánh giá tình hình HCCH 

và đặc điểm của HCCH trong đối tượng cán bộ 

chủ  chốt  của  tỉnh  sau  can  thiệp  các  YTNC  của 

HCCH  để  đưa  ra  các  giải  pháp,  kiến  nghị  phù 

hợp  và  hiệu  quả  trong  công  tác  chăm  sóc  sức 

khỏe  cán  bộ  Tỉnh.  Mục  tiêu  nghiên  cứu  của  đề 

tài này là: 

‐  Tìm  hiểu  tỷ  lệ  có  HCCH  ở  những  đối 

tượng trước và sau khi can thiệp vào các YTNC  của HCCH. 

‐ Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng trước 

và sau khi can thiệp vào các YTNC của HCCH.  Đồng  thời  tìm  hiểu  mối  liên  quan  giữa  HCCH  với các YTNC đó. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn vào 

Là các cán bộ được quản lý sức khỏe tại Ban 

bảo  vệ  chăm  sóc  sức  khỏe  cán  bộ  Tỉnh  ủy  Bạc  Liêu.  Nhóm  trước  can  thiệp  vào  các  YTNC  của  HCCH gồm 500 cán bộ được kiểm tra sức khỏe  định kỳ hàng năm từ trước cho đến năm 2005 và  nhóm sau can thiệp gồm 683 người từ 2005 đến 

2011  kể  cả  người  đã  được  chẩn  đoán,  điều  trị  bệnh THA, ĐTĐ, RLLP máu  

Tiêu chuẩn loại trừ 

Những  người  mắc  bệnh  hiểm  nghèo,  các  bệnh  cấp  tính  đang  điều  trị.  Những  người  không đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu dịch tễ học 

quan sát, mô tả, cắt ngang. 

Nội dung nghiên cứu 

Các bước tiến hành 

Lập  mẫu  phiếu  điều  tra  cho  đối  tượng  nghiên  cứu.  Phỏng  vấn  trực  tiếp  đối  tượng  nghiên  cứu  theo  nội  dung  phiếu  điều  tra.  Khám lâm sàng và lấy máu làm các xét nghiệm  sinh hóa. Tổng hợp số liệu, phân tích và đánh  giá kết quả. 

Nội dung nghiên cứu 

Phỏng  vấn  trực  tiếp  theo  bộ  câu  hỏi  chuẩn  của WHO về tuổi, công việc, các YTNC, các thói  quen xấu trong lối sống, chế độ ăn, uống bia và 

Trang 3

(THA, ĐTĐ ). 

Đo  một  số  chỉ  số  nhân  trắc:  như  chiều  cao, 

cân nặng, vòng bụng (VB)  và  vòng  mông  bằng 

dụng  cụ  đo  nhân  trắc  học  và  được  tiến  hành 

theo  phương  pháp  đo  nhân  trắc  học  thông 

thường. Tính chỉ số BMI theo công thức: 

BMI (kg/m2) = Trọng lượng cơ thể (kg) [chiều cao cơ thể (m)]2  

Theo tiêu chuẩn WHO áp dụng cho khu vực 

châu  Á  ‐  Thái  Bình  Dương  (2000):  BMI  ≥  23 

kg/m2 được gọi là thừa cân và béo; VB tăng khi ≥ 

90 cm ở nam giới, ≥ 80 cm ở nữ giới được gọi là 

béo bụng. 

Đo huyết áp: Đo HA bằng máy HA kế đồng 

hồ  được  kiểm  chuẩn  theo  khuyến  cáo  của  Hội  tim mạch học Việt Nam (2008). Bệnh nhân được  gọi  là  THA  khi  HATT  ≥  140  mmHg  và/hoặc  HATTr ≥ 90mHg. 

Xét  nghiệm  sinh  hóa:  Định  lượng  nồng  độ  glucose,  HDL‐C  và  triglyceride  máu  lúc  đói  được tiến hành bằng phương pháp enzyme trên  máy hoá sinh ADVIA 1200 tự động tại khoa xét  nghiệm Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu. 

Chẩn  đoán  HCCH:  Tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  HCCH  của  NCEP‐ATP  III  năm  2001  và  Tiêu  chuẩn  của  IDF  (khu  vực  châu  Á‐Thái  Bình  Dương). 

Các biện pháp can thiệp vào các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa 

Bảng 1. Các biện pháp làm giảm các YTNC của HCCH: 

Béo (béo bụng) Giảm cân; tăng hoạt động cơ thể Giảm 10% trọng lượng cơ thể trong năm đầu, sau đó giảm cân tiếp để có

BMI và VB lý tưởng, giảm khẩu phần ăn nhiều năng lượng, Tăng cường

các bài tập thể dục thông thường từ 30 - 60 phút/ngày

Tăng triglyceride Giảm cân; tăng hoạt động cơ thể;

tn ít chất béo Ăn nhiều rau và hoa quả; thực hiện chế độ ăn nhạt; hạn chế uống rượu, bia

Tập thể dục từ 30 - 60 phút/ngày; Ăn nhiều rau, hoa quả và dầu thực vật,

ăn cá ít nhất 1lần/tuần, ăn ít chất béo và ngọt; Giảm uống rượu, không HTL và gia nhập hội những người không HTL và không uống rượu; Triglyceride < 1,7 mmol/L, HDL-C > 1,03 mmol/L ở giới nam và > 1,29

mmol/L ở nữ

THA Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể

Ăn nhiều carbonhydrate Hạn chế uống rượu và thuốc lá

Huyết áp < 130/85 mmHg Tập thể dục hàng ngày từ 30 - 60 phút Ăn nhiều rau, hoa quả, ít chất béo Ăn muối < 2,4 gam Na + /ngày, NaCl 6

g/ngày; giảm uống rượu Tăng glucose

máu

Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể;

giảm khẩu phần ăn nhiều carbonhydrate

Tập hể dục hàng ngày từ 30 - 60 phút; ăn nhiều rau, hoa quả, nhiều chất xơ; ăn ít chất béo và ngọt; chọn sản phẩm tinh chế từ ngũ cốc: đậu nành,

khoai

Phương pháp xử lý số liệu 

Số liệu được xử lý theo phần mềm SPSS 16.0. 

Kiểm  định  student  (t‐test)  và  không  ghép  cặp. 

So  sánh  hai  tỷ  lệ  bằng  kiểm  định  Chi  bình 

phương (χ2‐test). Tính tỷ suất chênh OR. Khi giá 

trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa  

Nhóm  trước  can  thiệp  vào  các  yếu  tố  nguy 

cơ  của  HCCH  là  nhóm  gồm  những  đối  tượng 

không dùng các giải pháp để can thiệp vào các 

yếu  tố  nguy  cơ  của  HCCH,  kết  quả  có  500  đối 

tượng.  Nhóm  sau  can  thiệp  là  nhóm  được  tác 

động  bằng  các  giải  pháp  làm  giảm  các  yếu  tố 

nguy cơ của HCCH, kết quả có 683 đối tượng. 

Bảng 2. Tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn NCEP‐ATPIII 

Nam Nữ Toàn bộ nhóm

SL % SL % SL (%)

Nhóm trước can thiệp

402 80,4 98 19,6 500 100%

Có HCCH 218 43,6 61 12,2 279 55,8% Không có HCCH 184 36,8 37 7,4% 221 44,2% Nhóm trước can

thiệp

536 78,5 147 21,5 683 100%

Có HCCH 194 28,4 47 6,9 241 35,3% Không có HCCH 342 50,1 100 14,6 442 64,7%

Tỷ lệ có HCCH ở nhóm sau can thiệp theo  tiêu chuẩn của IDF. Theo IDF thì yếu tố vòng  bụng là yếu tố bắt buộc phải có để chẩn đoán  HCCH. Có 164 đối tượng có HCCH chiếm tỷ 

lệ 24%. 

Trang 4

Tuổi và giới tính 

Tuổi trung bình của nhóm là: 65 ± 12 

Tuổi  trung  bình  ở  nữ  68  ±  12;  Tuổi  trung 

bình nam 64 ± 12, thấp hơn so với nữ. 

Nam  chiếm  536  đối  tượng,  tương  đương 

78,5% của nhóm sau can thiệp. 

Nữ  chiếm  147  đối  tượng,  tương  đương 

21,5%. Tỷ lệ nam/nữ = 4/1. 

315(46,1%) 221(32,4%)

27(4%)

120(17,5%)

0

50

100

150

200

250

300

350

< 60 tuổi ≥ 60 tuổi

Biểu đồ 1. Phân bố tuổi và giới của nhóm sau can 

thiệp vào HCCH 

Ở  nhóm  <  60  tuổi:  gồm  có  248  đối  tượng 

chiếm 36,3%, trong đó: Nam 32,4% 

Ở  nhóm  ≥  60  tuổi:  có  435  đối  tượng  chiếm 

63,7%, trong đó: Nam 46,1% 

Chỉ số BMI ở nhóm sau can thiệp vào HCCH 

Bảng 3. Tỷ lệ thừa cân và béo ở sau can thiệp HCCH 

BMI (Kg/m 2 )

< 60 tuổi ≥ 60 tuổi Tổng số

p

n =

248 %

n =

435 %

n =

683 %

Thừa cân:

BMI ≥ 23 kg/m2 175 70,6 195 44,8 370 54,2 < 0,001

Béo:

(BMI ≥ 25) Béo 116 46,8 101 23,2 217 31,8 < 0,001

Tỷ lệ có chỉ số BMI ≥ 23 kg/m2 chiếm 54,2%, 

trong đó BMI ≥ 25 kg/m2 là: 31,8%. 

Giá  trị  trung  bình  của  các  yếu  tố  nguy  cơ 

trong HCCH: 

Bảng 4. Các giá trị trung bình của các YTNC trong 

HCCH 

Các yếu tố

nguy cơ

Giá trị trung bình

P Trước can thiệp

(n = 500)

Sau can thiệp (n = 683)

Vòng bụng (cm) 82,8 ± 10,1 81,8 ± 9,0 < 0,01

Glucose 5,84 ± 0,96 6,16 ± 1,49 <

(mmol/L) 0,001 HDL-C (mmol/L) 1,18 ± 0,23 1,07 ± 0,23 > 0,05 Triglyceride

(mmol/L) 2,61 ± 0,99 2,71 ± 1,70 > 0,05

Chỉ  số  vòng  bụng  ở  nhóm  sau  can  thiệp  là  81,8  ±  9,0  cm,  thấp  hơn  so  với  nhóm  trước  can  thiệp  các  YTNC  là  82,8  ±  10,1  cm,  sự  khác  biệt  này có ý nghĩa thống kê, với p <0,01. 

Nồng độ glucose máu ở nhóm sau can thiệp  6,16 ± 1,49 mmol/L, cao hơn so với nhóm trước  can  thiệp  5,84  ±  0,96  mmol/L,  khác  biệt  có  ý  nghĩa thống kê, p<0,001. 

Nồng  độ  HDL‐C  và  triglyceride  máu  của  nhóm  trước  và  nhóm  sau  can  thiệp  gần  tương  đương  nhau,  sự  khác  biệt  này  chưa  có  ý  nghĩa  thống kê, với p > 0,05. 

Tỷ lệ của các yếu tố nguy cơ trong HCCH  Bảng 5. Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ của HCCH 

Yếu tố nguy

Trước can thiệp

Sau can thiệp

OR p

n =

500 %

n =

683 %

Tăng VB 413 82,6% 194 28,4% 11,97 0,0005 Tăng HA 277 55,4% 256 37,5% 2,07 0,0005 Giảm HDL-C 247 49,9% 161 23,6% 0,32 0,0005 Tăng

Triglyceride 409 81,8% 334 48,9% 0,21 0,0005 Tăng glucose

máu

235 47% 350 51,3% 1,19 0,15

Tỷ lệ tăng VB ở nhóm sau can thiệp là 28,4%,  thấp hơn so với trước CT là 82,6%. 

Tỷ  lệ  THA  ở  nhóm  sau  can  thiệp  là  37,5%,  thấp hơn so với trước CT là 55,4% 

Tỷ lệ giảm HDL‐C ở nhóm sau can thiệp là  23,6%, giảm nhiều so với trước CT là 49,9%. 

Tỷ lệ tăng triglyceride ở nhóm sau can thiệp 

là 48,9%, giảm nhiều so với trước CT là 81,8%. 

Tỷ  lệ  tăng  glucose  máu  ở  nhóm  sau  can  thiệp là 51,3%, nhóm trước can thiệp là 47%.  Kiểm  định  χ2  cho  thấy  sự  khác  biệt  của  hai  nhóm ý nghĩa thống kê, p < 0,05. 

Mối  liên  quan  của  các  yếu  tố  nguy  cơ  với  HCCH theo IDF 

Bảng 6. Mối liên quan giữa HCCH với các yếu tố 

nguy cơ 

Trang 5

Yếu tố vòng

bụng (VB)

Có HCCH Không có HCCH

pvalue

SL % SL %

Tăng VB 164 100% 30 5,8% P <

0,0005 Tăng HA 102 62,2% 229 44,1% P < 0,001

Tăng glucose 136 82,9% 315 60,7% P <

0,0005 Tăng triglyceride 155 94,5% 376 72,4% P < 0,001

Giảm HDL-C 101 61,6% 421 81,1% P <

0,0005

Tỷ  lệ  tăng  VB  ở  nhóm  có  HCCH  là  100%, 

nhóm không có HCCH 30/519= 5,8%. 

Tỷ  lệ  tăng  HA  ở  nhóm  có  HCCH  là  62,2%, 

nhóm không có HCCH là 44,1%. 

Tỷ  lệ  glucose  máu  ở  nhóm  có  HCCH  là 

82,9%, nhóm không có HCCH là 60,7%. 

Tỷ  lệ  tăng  triglyceide  ở  nhóm  có  HCCH  là 

94,5%, nhóm không có HCCH là 72,4%. 

Tỷ lệ giảm HDL‐C máu ở nhóm có HCCH là 

61,6%, nhóm không có HCCH là 81,1%. 

BÀN LUẬN 

Về tỷ lệ HCCH của nhóm nghiên cứu 

HCCH là tập hợp của nhiều triệu chứng liên 

quan  đến  BTM  như:  kháng  insulin,  béo  bụng, 

RLLP  máu,  tăng  glucose  máu,  THA   làm  gia 

tăng  quá  trình  vữa  xơ  động  mạch.  Các  nghiên 

cứu gần đây cho thấy có mối liên quan mật thiết 

giữa  HCCH  và  BTM.  Gần  đây  tỷ  lệ  BTM  đang 

có  xu  hướng  gia  tăng  ở  Việt  Nam.  Phạm  Gia 

Khải và CS (2000) quan sát thấy tỷ lệ bệnh nhân 

mắc bệnh ĐMV điều trị tại viện Tim mạch quốc 

gia tăng lên qua từng năm từ 1994‐1996 lần lượt 

là: 3,4%; 5,0% và 6,1%. 

Do  HCCH  liên  quan  chặt  chẽ  đến  BTM, 

bệnh  ĐMV  và  tử  vong  nên  trong  những  năm 

qua, công tác chăm sóc và quản lý sức khỏe của 

Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy 

Bạc  Liêu  quản  lý  đã  chú  trọng  trong  khám  sức 

khỏe định kỳ cho các cán bộ với nhiều nội dung 

phỏng  vấn  và  khám  bệnh,  làm  các  xét  nghiệm 

thường quy liên quan đến BTM. Đồng thời, sau 

khám  sức  khỏe  định  kỳ  các  cán  bộ  được  phân 

nhóm ra các nhóm bệnh có liên quan đến BTM 

như: nhóm THA, nhóm ĐTĐ, nhóm RLLP máu, 

nhóm có HCCH  từ đó có những lời khuyên và 

kế  hoạch  điều  trị  kịp  thời  nhằm  giảm  tỷ  lệ  HCCH  cho  các  cán  bộ  đang  giữ  chức  vụ  hoặc  nguyên là cán bộ của Tỉnh ủy quản lý. 

Trong  2005,  chúng  tôi  khảo  sát  được  500  đồng chí và tỷ lệ HCCH là: 55,8% (trong đó tỷ lệ  HCCH  ở  nam:  43,6%;  nữ:  12,2%).  Kết  quả  nghiên cứu này tương tự với nhiều nghiên cứu  trước đây về tỷ lệ HCCH ở người có độ  tuổi > 

40  như:  Lê  Hoài  Nam  (2005)  nghiên  cứu  952  bệnh  nhân  THA  nguyên  phát  (độ  tuổi  từ  40  ‐  70) theo tiêu chuẩn của NCEP áp dụng cho khu  vực  châu  Á  ‐  Thái  Bình  Dương  thì  tỷ  lệ  có  HCCH  ở  đối  tượng  này  là  51,4%.  Trần  Hữu  Dàng  (2005)  nghiên  cứu  trên  152  bệnh  nhân  THA  nguyên  phát  theo  tiêu  chuẩn  của  NCEP  thì  tỷ  lệ  có  HCCH  là  53,3%(5).  Nguyễn  Cảnh  Toàn và CS (2007) nghiên cứu 509 người có độ  tuổi ≥ 40 (năm) thấy tỷ lệ HCCH là: 46,2%.  Trong thời gian từ 2005‐2011, Ban bảo vệ sức  khỏe  của  Tỉnh  ủy  đã  nhận  thức  nguy  cơ  BTM  trong đội ngũ cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý  nếu  không  có  những  biện  pháp  phòng  ngừa,  chính  vì  vậy  chúng  tôi  luôn  động  viên  cán  bộ  bớt  chút  thời  gian  khám  định  kỳ  cho  đủ  hoặc  khám bổ sung, bám sát theo dõi các đối tượng có  YTNC  cao  như:  THA,  ĐTĐ,  HCCH   kết  hợp  với tuyên truyền vận động các cán bộ có ý thức  trong  điều  chỉnh  hành  vi  lối  sống  của  mình  để  thoát ra khỏi HCCH như: chế độ ăn tăng nhiều  chất  xơ,  giảm  ăn  đạm,  chất  béo,  hạn  chế  rượu  bia, từ bỏ HTL, tăng cường phong trào thể dục  thể thao tại các cơ quan và tại nhà, các đối tượng 

có  bệnh  THA  được  theo  dõi  huyết  áp  hàng  tháng, hàng quý; đối tượng có ĐTĐ týp 2 được  kiểm  soát  glucose  và  HbA1c  hàng  quý,  đối  tượng  béo  được  khuyến  cáo  giảm  cân  và  giảm  vòng bụng   

Sau nhiều năm thực hiện kết quả nghiên cứu 

về  HCCH  cho  thấy  ở  683  cán  bộ  được  khám  định kỳ năm 2011 cho thấy tỷ lệ HCCH đã giảm  đáng  kể  biểu  hiện:  tỷ  lệ  HCCH  chung  chỉ  còn  35,3%  thấp  hơn  so  với  năm  2005  (55,8%)  có  ý  nghĩa thống kê p < 0,001 với OR = 0,43; nghĩa là 

Trang 6

giới nam và nữ tỷ lệ HCCH đều giảm lần lượt là: 

28,4% và 6,9% so với năm 2005 lần lượt là: 43,6% 

và 12,2%. 

Trong nghiên cứu, khi so sánh mối liên quan 

giữa 2 nhóm tuổi < 60 v ≥ 60 thì theo tiêu chuẩn 

NCEP‐ATP III trước can thiệp với các YTNC của 

HCCH  thì  tỉ  lệ  HCCH  ở  nhóm  tuổi  ≥  60  tuổi  l 

58,6%  cao  hơn  nhóm  <  60  tuổi  l  43,5%  với  p  < 

0,001. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với nhận 

định của nhiều tác giả tuổi là một yếu tố nguy cơ 

liên  quan  đến  HCCH  được  nhiều  tác  giả  nhận 

thấy trong nghiên cứu của họ. 

Về các đặc điểm của HCCH 

Tuổi và giới 

500 người  thuộc  diện  cán  bộ  tỉnh  ủy  quản 

lý tại tỉnh Bạc Liêu (năm 2005) và theo dõi dọc 

từ  năm  2006‐2011  với  683  cán  bộ  được  chọn 

gồm  ở  các  huyện,  thành  phố  và  các  ngành 

trong  toàn  tỉnh  thuộc  diện  Tỉnh  ủy  quản  lý. 

Tuổi trung bình là: 65 ± 12. Ở nam nhóm tuổi 

từ 50‐59 chiếm tỷ lệ cao nhất (29,3%); ở nữ thì 

nhóm  tuổi  từ  60‐69  (37,4%).  Trong  683  cán  bộ 

được can thiệp HCCH thì tỉ lệ nam  và  nữ  lần 

lượt là 78,5% và 21,5%. Đối tượng nghiên cứu 

là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các ngành, các 

huyện,  thành  phố  trong  tỉnh  nên  áp  lực  về 

công việc rất lớn, môi trường làm việc chủ yếu 

trong  văn  phòng,  chế  độ  làm  việc  tĩnh  tại, 

thêm vào đó chế độ ăn nhiều đạm, mỡ, đường, 

rượu bia, HTL  Đó là những yếu tố thúc đẩy 

xuất hiện HCCH và các YTNC của BTM. 

Thừa cân và béo 

Ngày  nay,  tỷ  lệ  thừa  cân  và  béo  đang  gia 

tăng đến mức báo động ở các nước phát triển 

cũng  như  các  nước  đang  phát  triển,  ở  thành 

phố cũng như ở những vùng nông thôn. Theo 

Tổ  chức  Béo  phì  Quốc  tế  (IOTF:  International 

Obesity  Task  Force)  tính  đến  năm  2003,  trên 

thế  giới  có  300  triệu  người  béo  phì  và  1,7  tỷ 

người  thừa  cân.  Ở  Việt  Nam,  tỷ  lệ  béo  phì 

đang  gia  tăng  nhanh,  nhất  là  ở  các  vùng  đô 

thị(4).  Theo  tiêu  chuẩn  của  WHO  áp  dụng  cho 

khu  vực  châu  Á‐Thái  Bình  Dương  (2000)  khi  đối  tượng  có  BMI  ≥  23kg/m2  được  gọi  là  thừa  cân và béo; béo phì khi BMI ≥ 25kg/m2(4). Trong  nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thừa cân và béo  chiếm  khá  cao  54,2%,  trong  đó  béo  phì  chiếm  31,8%.  Kết  quả  phù  hợp  với  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Cảnh  Toàn  và  CS  (2006‐2007)  thấy  tỷ 

lệ thừa cân và béo chiếm 42,5%. 

Béo bụng 

Các  nghiên  cứu  trước  đây  đã  chứng  minh  được béo bụng là một trong những cơ chế bệnh  sinh quan trọng của HCCH, bởi béo bụng sẽ sản  xuất  ra  nhiều  yếu  tố  như:  TNFα,  interleukin,  PAI ‐1, adiponectin, acid béo tự do làm rối loạn  chuyển hóa và liên quan chặt chẽ đến BTM. VB  luôn là một trong những tiêu chí chính để chẩn  đoán HCCH, bởi nếu dựa vào chỉ số BMI thì liên  quan  đến  khối  lượng  cơ  do  vậy  ở  người  khỏe  mạnh có cơ bắp thì tăng BMI nhưng chưa chắc 

họ đã béo. Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy  nhóm  sau  khi  được  can  thiệp  các  YTNC  thì  số 

đo VB là 81,8 ± 9,0 cm thấp hơn so với trước can  thiệp: 82,8 ± 10,1 cm. Đặc biệt, sau can thiệp các  YTNC  của  HCCH  tỷ  lệ  tăng  VB  chỉ  còn  28,4%  thấp  hơn  so  với  trước  can  thiệp  HCCH  82,6%  với p < 0,0005. Kết quả trên cho thấy những cố  gắng trong công tác phòng bệnh HCCH và BTM  của Ban bảo vệ sức khỏe của Tỉnh trong 5 năm  qua đã có những tiến triển thuận lợi, giảm đáng 

kể  một  tiêu  chí  chính  trong  HCCH,  làm  giảm  nguy cơ ĐTĐ týp 2 và BTM. 

Rối loạn lipid máu 

RLLP  máu  có  mối  liên  quan  chặt  chẽ  đến  HCCH.  Ở  người  có  HCCH  thường  gây  tăng  insulin, làm tăng giải phóng các acid béo tự do  trong  tuần  hoàn,  làm  tăng  vữa  xơ  động  mạch  gây ra BTM(5). Chính vì vậy, trong các tiêu chuẩn  chẩn đoán HCCH như: WHO, NCEP, IDF  các  tiêu chí thành phần RLLP máu không thể thiếu  trong  các  tiêu  chuẩn.  Trong  đó,  triglyceride  và  HDL‐C  là  hai  tiêu  chuẩn  được  các  nghiên  cứu  thường sử dụng. Stroup TS (2004) thấy tỷ lệ có  HCCH chiếm 64% ở người có RLLP máu. Giảm  HDL‐C và triglyceride nói riêng có vai trò quan 

Trang 7

HCCH.  Giray  K  và  CS  (2007)  nghiên  cứu 

ICEBERG thấy ở nhóm được điều trị giảm HDL‐

C  thì  tỷ  lệ  HCCH  giảm  đáng  kể  và  cải  thiện 

nguy cơ bị BTM. Nghiên cứu cho thấy nồng độ 

HDL‐C(7)  và  triglyceride  trước  và  sau  can  thiệp 

các YTNC của HCCH không có sự khác biệt (p > 

0,0005).  Tuy  nhiên,  tỷ  lệ  tăng  triglyceride  ở 

nhóm  sau  can  thiệp  chỉ  còn  48,9%  so  với  trước 

can thiệp 81,8%, với p < 0,0005. 

Tăng huyết áp 

THA nguyên phát đang ngày càng phổ biến 

trong  cộng  đồng  và  chiếm  tỷ  lệ  cao  ở  nhiều 

nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo 

WHO dự báo đến năm 2025 thế giới có khoảng 

1,56  tỷ  người  bị  THA,  trong  đó  khu  vực  Đông 

Nam  Á  hàng  năm  có  khoảng  1,5  triệu  người 

chết  do  THA,  ở  Việt  Nam  theo  thống  kê  của 

WHO  năm  2008  thì  tỷ  lệ  THA  nguyên  phát 

chiếm  26,1%.  THA  nguyên  phát  đã  trở  thành 

một vấn đề về sức khoẻ cộng đồng được quan 

tâm  trong  những  năm  gần  đây,  bởi  THA 

thường gây ra những biến chứng như: đột quỵ 

não, bệnh động mạch vành… làm tàn phế hoặc 

tử vong cho người bị bệnh. 

Về mối  liên  quan  của  một  số  yếu  tố  nguy 

cơ với HCCH 

Mối  liên  quan  giữa  số  đo  vòng  bụng  với 

HCCH theo IDF 

Nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  béo  bụng  là 

nguyên nhân chính liên quan đến HCCH, chính 

vì vậy IDF đã chọn số đo VB là tiêu chuẩn chính 

để chẩn đoán HCCH. 

Mối  liên  quan  giữa  trị  số  huyết  áp  với 

HCCH 

THA  nguyên  phát  đang  là  một  bệnh  phổ 

biến  ở  nhiều  quốc  gia  và  tỷ  lệ  có  HCCH  ở  đối 

tượng này có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng 

nhiều  đến  sức  khoẻ,  nhất  là  tiến  triển  thành 

ĐTĐ týp 2, bệnh ĐMV và làm tăng tỷ lệ tử vong  cho người bệnh(8,9). Trong nghiên cứu của chúng  tôi  thấy  tỷ  lệ  có  chỉ  số  HA  là  ≥  130/85mmHg  trong  nhóm  có  HCCH  là  62,2%  cao  hơn  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  nhóm  không  có  HCCH  44,1%. Do vậy, trong công tác bảo vệ  chăm  sóc  sức  khỏe  nhân  dân  nói  chung  và  cán  bộ  nói  riêng cần đặc biệt quan tâm đến chỉ số HA và tỷ 

lệ này, từ đó chúng ta có kế hoạch dự phòng và  điều  trị  bệnh  THA,  góp  phần  hạn  chế  biến  chứng  của  bệnh  và  tỷ  lệ  tử  vong.  Bởi  các  biến  chứng  của  THA  có  liên  quan  chặt  chẽ  trị  số  HATT va HATTr. 

Mối liên quan giữa glucose máu với HCCH 

Ngày nay, tăng glucose máu và ĐTĐ đang là  vấn  đề  quan  trọng  được  cộng  đồng  quan  tâm,  bởi  sự  tăng  glucose  máu  được  ví  như  kẻ  giết  người thầm lặng (silent killer)(4,1). Theo IDF tính  đến  năm  2012,  thế  giới  có  khoảng  371  triệu  người mắc bệnh ĐTĐ (4,8 triệu người chết; 50%  bệnh nhân ĐTĐ không được chẩn đoán) và dự  báo con số này sẽ tăng lên gấp 2,3 lần vào năm 

2030,  tử  vong  do  ĐTĐ  chiếm  80%  ở  các  nước  chậm phát triển. Trong đó, ở Việt Nam cũng gia  tăng trong những năm gần đây từ là 4,0% (2001)  lên khoảng 5,78% (2012)(4). Bệnh ĐTĐ týp 2 tiến  triển âm thầm, từ từ, nếu không được phát hiện 

và  kiểm  soát  tốt  sẽ  gây  ra  nhiều  biến  chứng  nguy  hiểm,  để  lại  di  chứng  nặng  nề  như:  tổn  thương mắt, thần kinh ngoại vị, mạch máu, hoại 

tử chi, suy thận, nhất là BTM (BTM)… làm tăng  nguy cơ tử vong và tàn phế cho người bị bệnh,  đồng  thời  làm  tăng  gánh  nặng  về  y  tế  của  gia  đình  người  bệnh  và  cộng  đồng(4).  Kết  quả  của  nghiên  cứu  tương  tự  nghiên  cứu  của  Su  C.H  (2011) thấy tỉ lệ tăng glucose máu 5,6 mmol/L. 

Mối liên quan giữa triglyceride và HDL‐C với  HCCH 

Trang 8

RLLP  là  nguyên  nhân  hàng  đầu  dẫn  đến 

vữa  xơ  động  mạch,  BTM.  Chính  vì  vậy,  trong 

các  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  HCCH  như:  WHO, 

NCEP, IDF  các tiêu chí thành phần RLLP máu 

không thể thiếu trong các tiêu chuẩn. Trong đó, 

triglyceride và HDL‐C là hai tiêu chuẩn được các 

nghiên  cứu  thường  sử  dụng(4).  RLLP  trong 

HCCH làm tăng tạo điều kiện thuận lợi cho việc 

hình thành xơ vữa động mạch, bởi trong HCCH 

làm  tăng  tạo  các  chất  trung  gian  gây  viêm,  rối 

loạn  quá  trình  đông  máu  như:  Interleukin‐6, 

PAI‐1,  protein  C  phản  ứng   Sự  gia  tăng  của 

triglyceride,  LDL‐C  và  giảm  HDL‐C  đi  riêng  lẻ 

hoặc  đi  kết  hợp  với  nhau  sẽ  làm  tăng  nguy  cơ 

mắc  bệnh  ĐMV  nhiều  hơn(2).  Rối  loạn  lipid  do 

đề kháng insulin là khía cạnh rất quan trọng của 

HCCH,  có  thay  đổi  về  số  lượng  cũng  như  chất 

lượng trong thành phần lipoprotein, với tự hình 

thành LDL‐C và tăng triglyceride và giảm HDL‐

C.  Nghiên  cứu  cho  thấy  tỉ  lệ  tăng  triglyceride 

vẫn còn cao 77,7%. Nhất là, ở nhóm có HCCH tỉ 

lệ  này  là  94,5%  cao  hơn  so  với  nhóm  không  có 

HCCH 72,4%. 

Quản lý chăm sóc sức khỏe cho cán bộ Tỉnh 

ủy quản lý là một nhiệm vụ quan trọng của Ban 

bảo  vệ  sức  khỏe  Tỉnh.  Trong  những  năm  qua, 

chúng  tôi  đã  tích  cực  làm  giảm  các  YTNC  của 

HCCH và tỷ lệ HCCH nhằm giảm nguy cơ BTM 

và  tử  vong  cho  cán  bộ  trong  toàn  tỉnh  (kể  cả 

đương chức và nghỉ hưu). Thành quả bước đầu 

cho thấy nếu thay đổi lối sống xấu liên quan đến 

HCCH  như:  ăn  nhiều  đạm,  ít  vận  động,  HTL, 

uống nhiều rượu bia  và tăng cường thể dục thể 

thao, đồng thời kết hợp với điều trị bằng thuốc 

cho những trường hợp THA, ĐTĐ, RLLP máu  

có HCCH thì sẽ làm giảm tỷ lệ HCCH và nguy 

cơ  BTM  ngay  cả  ở  những  người  bị  THA, 

ĐTĐ Trong  những  năm  tới,  chúng  ta  cần  đưa 

các  xét  nghiệm  mới  vào  trong  khám  sức  khỏe 

định kỳ cho cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý 

như:  insulin,  nghiệm  pháp  dung  nạp  glucose 

cho  người  tăng  glucose  máu,  siêu  âm  động 

mạch  cảnh   nhằm  dự  báo  và  ngăn  chặn  nguy 

cơ BTM, đảm bảo cho Tỉnh nhà có được các cán 

bộ  vừa  có  chuyên  môn,  có  kinh  nghiệm  trong 

công  tác  quản  lý  và  có  sức  khỏe  tốt  trong  thực  hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước  giao  cho  trong  công  cuộc  đổi  mới  xây  dựng  và  bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. 

KẾT LUẬN 

Tỷ lệ có HCCH theo NCEP ATP III ở nhóm  trước can thiệp là 55,8%, ở nhóm sau can thiệp là  35,3%.  Tác  động  của  sự  can  thiệp  đã  giúp  làm  giảm tỷ lệ HCCH.   

Đặc  điểm  lâm  sàng  ở  nhóm  sau  can  thiệp:  Tuổi  >  60  tuổi  chiếm  63,7%.  Tỷ  lệ  tăng  VB  là  28,4%;  tăng  HA  là  37,5%;  tăng  triglyceride  là  48,9%;  giảm  HDL‐C  là  23,6%.  Tất  cả  đều  có  cải  thiện khả quan so với nhóm trước can thiệp vào  các YTNC của HCCH.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bruno  G,  Merletti,  Biggeri  A,  et  al  (2004),  “Metabolic  syndrome  as  a  predictor  of  al  cause  and  cardiovascular  mortality  in  týpe  2  diabetes.  The  Casale  Monferrato  Study”, 

Diabetes Care, 27, pp. 2689‐94. 

2 Đỗ Kim Hoa (2008), “Nghiên cứu tỷ lệ và đặc điểm hội chứng  chuyển  hóa  theo  tiêu  chuẩn  IDF‐2005  ở  cán  bộ  quân  đội  tại 

Quân khu X”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ CKII, Học viện Quân 

y, Hà Nội. 

3 Lê  Văn  Bàng  (2006),  “Hội  chứng  chuyển  hóa”,  Tạp chí y học 

thực hành, 548, tr. 347‐57. 

4 Tạ Văn Bình (2006), “Hội chứng chuyển hóa, Bệnh đái tháo đường  – tăng glucose máu”, Nh xuất bản Y học H Nội, tr.597‐610. 

5 Trần Hữu Dàng (2005), “Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa  trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Kỷ yếu toàn văn  các  đề  tài  khoa  học  ‐  Hội  nghị  khoa  học  toàn  quốc  chuyên 

ngành  nội  tiết  và  chuyển  hóa  lần  thứ  3,  Tạp  chí  Y  học  thực  hành, 507‐508, tr. 53‐57. 

6 Trương  Quang  Bình  (2001),  “Nghiên  cứu  rối  loạn  lipid, 

liproprotein ở bệnh nhân động mạch vành”, Luận án Tiến sỹ y  học,Đại học Y‐Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 

7 Varagas ER, Vinas MRA, Delisle H (2007), “Prevalence of the  metabolic  syndrome  and  associated  lifestyles  in  adult  males 

from Oaxaca, Mexico”, Salud Publica Mex, 49, pp. 94‐102. 

8 Volek  JS, Sharman  MJ, Gómez  AL, DiPasquale  C, Roti 

M, Pumerantz  A  (2004),  “Comparison  of  a  very  low‐ carbohydrate  and  low‐fat  diet  on  fasting  lipids,  LDL  subclasses,  insulin  resistance,  and  postprandial  lipemic  responses in overweight women”, J Am Coll Nutr, 23(2), pp.  177‐84. 

9 Wanamethee  SG,  Shaper  AG,  Lennon  L,  Morris  RW  (2005), 

“Metabolic  syndrome  vs  Framingham  Risk  Score  for  prediction coronary heart disease, stroke and týpe 2 diabetes 

mellitus”, Arch Intern Med, 165, pp. 2644‐50. 

 

Ngày nhận bài báo      01‐07‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  08‐07‐2013  Ngày bài báo được đăng:   01–08‐2013 

Trang 9

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm