Nội dung bài viết báo cáo về 4 trường hợp viêm niệu đạo kéo dài nghi nhiễm giun lươn (strongyloides stercoralis) đến khám tại phòng khám Niệu Bệnh viện Bình dân từ 15/8/2010-30/9/2012. Nghiên cứu với mục tiêu trình bày đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 4 trường hợp viêm niệu đạo kéo dài, bàn luận về chẩn đoán và điều trị những trường hợp này.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013
NHÂN BỐN TRƯỜNG HỢP VIÊM NIỆU ĐẠO KÉO DÀI
ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG BẰNG THUỐC DIỆT KÝ SINH TRÙNG
Nguyễn Ngọc Cẩm*, Trần Thị Hồng**, Trà Anh Duy*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Trình bày đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 4 trường hợp viêm niệu đạo kéo dài.
Bàn luận về chẩn đoán và điều trị những trường hợp này.
Phương pháp nghiên cứu: Hàng loạt trường hợp. Chúng tôi xin báo cáo 4 trường hợp viêm niệu đạo kéo
dài nghi nhiễm giun lươn (Strongyloides stercoralis) đến khám tại phòng khám Niệu Bệnh viện Bình dân từ 15/8/2010 ‐30/9/2012.
Kết quả: Bốn bệnh nhân tuổi trung bình 30,5+11 tuổi , bước đầu điều trị viêm niệu đạo nghi do giun lươn
Strongyloides stercoralis tuy không nhiều nhưng đáp ứng khá tốt với điều trị: 04 trường hợp khỏi bệnh.
Kết luận: Viêm niệu đạo do ký sinh trùng là bệnh lý hiếm gặp dù rằng chưa có tiêu chuẩn vàng để xác định
ký sinh trùng là nguyên nhân gây viêm niệu đạo, nhưng với điều kiện hiện nay,ở những bệnh nhân có bệnh cảnh viêm niệu đạo kéo dài, không đáp ứng với điều trị kháng sinh thông thường, thì thuốc điều trị ký sinh trùng
là một lựa chọn có thể mang lại hy vọng cho bệnh nhân và thầy thuốc.
Từ khóa: Viêm niệu đạo do ký sinh trùng
ABSTRACT
REPORT ON 4 RARE CASES OF SUSPECTED PARASITIC URETHRITIS
Nguyen Ngoc Cam, Tran Thi Hong, Tra Anh Duy
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 96 ‐ 99
Objectives: Presentation and clinical characteristics of the 4 clinical cases of prolonged urethritis.
Discuss the diagnosis and treatment of these cases.
Research Methodology: Case series report. We are pleased to report 4 cases of urethritis long suspected
Strongyloides (Strongyloides stercoralis) seen in urology clinics Binh Dan Hospital ‐30/9/2012 population from 15/8/2010.
Results: Four patients with an average age of 30.5 +11 age, initial treatment of urethritis suspected
Strongyloides stercoralis but not much but pretty good response to treatment: 04 cases cured.
Conclusion: Urethritis caused by parasites are rare disease although no gold standard to identify the
parasite that causes inflammation of the urethra, but with the current situation, in patients with urethritis scene prolonged, unresponsive to conventional antibiotic treatment, the parasite treatment is an option can bring hope
to patients and physicians.
Keywords: Parasitic urethritis.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm niệu đạo là bệnh lý thường gặp ở nam
giới nhất là do nhiễm lậu cầu, hẹp da quy
đầu,…ở đây viêm niệu đạo do ký sinh trùng là bệnh lý hiếm gặp, điều trị khó khăn (tái phát nhiều lần), tốn kém và mất nhiều thời gian.
Tác giả liên lạc: BS.Nguyễn Ngọc Cẩm ĐT: 0903 960 888 Email: nngoccambd@yahoo.com
Trang 2Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 Nghiên cứu Y học
Thông thường viêm niệu đạo do ký sinh
trùng ít được nghĩ đến, ký sinh trùng ở đây gặp
là giun lươn Strongyloides stercoralis mang vi
sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật xét nghiệm ký
sinh trùng học được sử dụng để chẩn đóan
bệnh, cùng với sự hỗ trợ của các xét nghiệm
khác: công thức máu, nội soi … giúp củng cố
thêm chẩn đoán, bước đầu đã đem lại kết quả
khá tốt.
Mục tiêu
Trình bày đặc điểm lâm sàng và cận lâm
sàng của 4 trường hợp viêm niệu đạo kéo dài.
Bàn luận về chẩn đoán và điều trị những
trường hợp này.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiền cứu. Bốn trường hợp viêm niệu đạo ở
nam giới kéo dài nghi nhiễm giun lươn
(Strongyloides stercoralis).
‐ 04 trường hợp(TH) lâm sàng đều có tiểu:
buốt, gắt, nhiều lần, đau; đặc biệt có cảm giác
ngứa hậu môn, nhột trong niệu đạo, ngứa da,
cảm giác kiến bò. Tất cả đã được điều trị viêm
niệu đạo bằng kháng sinh thông thường
(Augmentin, Ciprofloxacin…) nhưng không
hiệu quả.
‐ 01 TH có dị ứng ngoài da.
‐ 01 TH có rối loạn tiêu hóa.
‐ 02 TH có nhiễm thêm giun đũa chó mèo
(Toxocara spp).
Cận lâm sàng
‐ Tổng phân tích nước tiểu: nhiễm trùng tiểu.
‐ Công thức máu: 01 TH bạch cầu ái toan
tăng nhẹ, 03 TH không tăng.
Cấy nước tiểu: 02 TH: (+) với Eschereria coli,
02 TH (‐).
Nội soi niệu đạo – bàng quang: Viêm dạng
nốt nhỏ ở niệu đạo.Chúng tôi không sinh thiết.
Huyết thanh chẩn đoán tìm kháng thể trong
máu bằng kỹ thuật ELISA: dương tính với giun
lươn (Strongyloides stercoralis) (04 TH), trong
đó có 02 TH nhiễm đồng thời giun đũa chó mèo (Toxocara spp).
ĐIỀU TRỊ
Khởi đầu, chúng tôi điều trị lại viêm niệu đạo bằng Augmentin 1g (hoặc Ciprofloxacin 0.5g) 1 viên x 2 lần/ngày x 14 ngày.
Sau đó, điều trị đặc hiệu với Albendazole (ZentelR) 200mg, liều 2 viên X 2 lần/ngày x 4 tuần.
KẾT QUẢ
Bước đầu điều trị viêm niệu đạo nghi do giun lươn Strongyloides stercoralis tuy không nhiều nhưng đáp ứng khá tốt với điều trị: 04 trường hợp khỏi bệnh.
BÀN LUẬN
Do biểu hiện lâm sàng của bệnh đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, lâm sàng của bệnh tùy thuộc vào vị trí ấu trùng ký sinh trong
cơ thể, số lượng giun ký sinh, tùy thuộc vào sức
đề kháng của ký chủ nên gây bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau. Ở niệu đạo gây viêm niệu đạo giống như trường hợp viêm niệu đạo khác nhưng đặt biệt là có cảm giác ngứa nhột trong niệu đạo.
Để hiểu rõ ta xem:
Nhắc lại về chu trình phát triển của giun lươn: Giun lươn (Strongyloides stercoralis) là loại ký sinh trùng (KST) tùy nghi, chu trình phát triển gồm giai đoạn sống ký sinh trong cơ thể ký chủ và giai đoạn sống tự do ở ngoại cảnh.
Giai đoạn sống tự do ở ngoại cảnh: chu trình gián tiếp
Giun cái sống tự do thụ tinh với giun đực sống tự do, đẻ trứng, trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1, sau đó phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 sớm, rồi giai đoạn 2 gây nhiễm.
Người bị nhiễm khi tiếp xúc với đất ô nhiễm phân có ấu trùng giai đoạn 2 (filariform) sống tự
do xâm nhập vào da. Ấu trùng theo máu và di chuyển đến phổi qua đường tuần hoàn. Ở phổi, KST làm vở mao quản phổi và đi vào phế nang,
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013
sau đó chúng di chuyển đến phế quản, khí quản,
vào yết hầu, thực quản và được nuốt vào ống
tiêu hóa, phát triển thành giun cái trưởng thành
sống ký sinh, sinh sản hay lưỡng tính.
Giai đoạn sống ký sinh trong cơ thể ký
chủ: bao gồm chu trình trực tiếp và chu
trình tự nhiễm
Giun cái sống ký sinh lưỡng tính, xâm nhập
màng nhày ruột non, đẻ trứng, trứng nở ra ấu
trùng giai đoạn 1 (ATgđ 1), giai đoạn này theo
phân ra ngoài, phát triển thành ấu trùng giai
đoạn 2 sớm và 2 gây nhiễm, hay gián tiếp qua
một thế hệ giun trưởng thành sống tự do. Một
số ATgđ 1 trở thành AT gđ 2 gây nhiễm trong
khi vẫn còn ở trong cơ thể ký chủ và đưa đến
chu trình tự nhiễm, chu trình này xảy ra thường
xuyên, liên tục, khiến trong cơ thể ký chủ lúc
nào cũng có ấu trùng luân lưu, kéo dài nhiều
tháng, nhiều năm, mặc dù ký chủ không tái
nhiễm. Chu trình tự nhiễm này là nguyên nhân
của nhiều vấn đề bệnh lý nội khoa phức tạp.
Chu trình này chiếm ưu thế ở những cá thể suy
giảm miễn dịch như lạm dụng Corticosteroids,
nhiễm HIV, ung thư máu, ghép cơ quan…
Ngoài con đường thông thường, chúng có thể
theo đường máu xâm nhập các cơ quan khác
nhau trong cơ thể. Tùy theo vị trí ký sinh của ấu
trùng trong cơ thể, bệnh nhân sẽ có những biểu
hiện lâm sàng khác nhau ở những cơ quan
tương ứng. Trong những trường hợp này, ấu
trùng ít khi được phát hiện trong phân, do vậy
chẩn đoán phải dựa vào huyết thanh miễn dịch
học.
Biểu hiện lâm sàng
Mặc dù giun lươn là một loại ký sinh trùng
đường ruột, bệnh do giun lươn là một bệnh hệ
thống. Sau khi xâm nhập da, ấu trùng giai đoạn
2 di chuyển đến đường hô hấp qua hệ tuần
hoàn, qua đường tiêu hóa trên và thành giun cái
trưởng thành ký sinh ở ruột non. Nơi đây, giun
cái đẻ trứng dưới lớp màng nhày, trứng nở ra ấu
trùng giai đoạn 1. Đa số chúng rời ký chủ sau
hành trình qua toàn bộ ruột non, ruột già. Một
số còn lại, trở thành ấu trùng giai đoạn 2, xâm
nhập màng nhày ruột già và bắt đầu một chu kỳ mới trong cơ thể ký chủ. Trong tất cả mọi trường hợp, một số lượng lớn mô ký chủ tiếp xúc với một hay nhiều dạng của ký sinh trùng này. Vì vậy, bệnh học giun lươn có thể xem như kết quả của sự tích tụ đáp ứng mô riêng biệt đối với sự xâm nhập của ký sinh trùng.
Giun lươn (Strongyloides stercoralis) là một trong những nguyên nhân gây viêm niệu đạo, tuy hiếm gặp nhưng khó chịu và ảnh hưởng tâm
lý rất nhiều cho người bệnh nhất là triệu chứng ngứa, nhột trong niệu đạo.Việc chẩn đoán cần phối hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng (kiểm tra xét nghiệm định kỳ) cho bệnh nhân nhất là người bị suy giảm miễn dịch để kịp thời điều trị tốt cho người bệnh.Những bệnh lý ở những vị trí bất thường do ký sinh trùng cũng gặp ở các
môn có thể mang vi khuẩn từ đường hay hậu môn lên niệu đạo, do vậy ngoài điều trị đặc hiệu phải kết hợp với điều trị kháng sinh. Nhiễm phối hợp giữa giun lươn và giun đũa chó mèo
gần giống nhau.
KẾT LUẬN
Viêm niệu đạo là bệnh lý thường gặp ở nam giới.Trong đó, viêm niệu đạo do ký sinh trùng là bệnh lý hiếm gặp. Qua 04 trường hợp trên, chúng tôi nhận thấy: dù rằng chưa có tiêu chuẩn vàng để xác định ký sinh trùng là nguyên nhân gây viêm niệu đạo, với điều kiện hiện nay,ở những bệnh nhân có bệnh cảnh viêm niệu đạo kéo dài, không đáp ứng với điều trị kháng sinh thông thường, thì thuốc điều trị ký sinh trùng là một lựa chọn có thể mang lại hy vọng cho bệnh nhân và thầy thuốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Helminths. Principles and practice of infectious diseases, ELSEVIER, 6 th ed, Churchill Livingstone, U.S.A, J: P.3260‐
3265
of disseminated toxocariasis in compromised hot s
successfully treatsd with mebendazole. Chemotherapy 38(5).
367‐8.
Trang 4Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 Nghiên cứu Y học
Tropical infectious diseases: principles, pathogens, and
practice / [edited by] Geurrant R. L., Walker D. H., Weller P.
F.‐ 1 st ed, Churchill Livingstone, U. S. A, 84: 907‐915.
trường hợp viêm giả u ở đại tràng do ký sinh trùng. Y Học
TP. HCM, số đặc biệt chuyên đề ký sinh trùng, phụ bản của
Tập 5 số 1: 87 – 89.
Walker DH, Weller P. F. Tropical infectious diseases:
principles, pathogens, and practice, Churchill Livingstone,
U.S.A.‐ 92, 1 st ed: 976.
phần nghiên cứu ngõ cụt ký sinh lây truyền từ phân chó mèo sang người. Đại học Y dược TP. HCM.
Geurrant R. L., Walker D. H., Weller P. F. Tropical infectious diseases: principles, pathogens, and practice, Churchill Livingstone, U. S. A87, 1st ed: 941‐943.