1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch cảnh trong dưới siêu âm

6 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 390,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu dùng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn siêu âm tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 02 năm 2012 đến tháng 06 năm 2013. Nghiên cứu thực hiện ở bệnh nhân có chỉ định đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm sẽ được thực hiện thủ thuật dưới hướng dẫn siêu âm tại vị trí tĩnh mạch cảnh trong.

Trang 1

ĐẶT ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH CẢNH TRONG DƯỚI SIÊU ÂM 

Nguyễn Thị Thanh* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch trung 

tâm dưới hướng dẫn siêu âm tại BV Nhân Dân Gia Định từ tháng 02 năm 2012 đến tháng 06 năm 2013. 

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Bệnh nhân có chỉ định đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm sẽ được thực 

hiện thủ thuật dưới hướng dẫn siêu âm tại vị trí tĩnh mạch cảnh trong. Ghi nhận các biến số liên quan đến kỹ  thuật thực hiện, tỷ lệ thành công và tai biến của thủ thuật.  

Kết quả: Có 58 bệnh nhân tham gia và nghiên cứu trong thời gian từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2013. 

Thời gian thực hiện thủ thuật trung bình là 10,76 phút. Số lần đâm kim trung bình là 1,31 lần. Tỷ lệ thành công  đạt mức cao là 96,6% và không có sự khác biệt về thành công giữa các nhóm người thực hiện có kinh nghiệm  khác nhau. Hai trường hợp thất bại (3,4%) do máu tụ sau khi chọc trúng động mạch. Tỷ lệ chọc trúng động  mạch cảnh là 5,2% trong khi tỷ lệ tràn khí màng phổi là 1,7%.  

Kết luận: Đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn siêu âm là thủ thuật dễ thực hiện, tỷ lệ 

thành công cao và an toàn cho bệnh nhân. 

Từ khóa: đường truyền tĩnh mạch trung tâm, tĩnh mạch cảnh trong, siêu âm  

ABSTRACT 

EVALUATION OF EFFICACY AND SAFETY  

OF ULTRASOUND‐GUIDED INTERNAL JUGULAR VENOUS CATHETERIZATION 

Nguyen Thi Thanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 231 ‐ 235 

Objective:  To  evaluate  the  efficacy  and  the  safety  of  ultrasound‐guided  internal  jugular  venous 

catheterization from 2012 February to 2013 June in Nhân Dân Gia Định Hospital. 

Type of study:Cross‐sectional study, prospective. 

Methods:  Internal jugular catheterization is performed with ultrasound guidance for patients in surgical 

intensive  care  unit  with  indication  for  central  line  insertion.  We  analyse  the  success  rate,  the  difficulty  of  technique (time for central line insertion and number of puncture), the frequency and nature of complications  (pneumothorax, arterial puncture). 

Results:  There are 58 patients with ultrasound‐guided internal jugular insertion in our study. The mean 

duration of the procedure is 10.67 minutes. The average of the needle insertion number is 1.31. The success rate of  internal jugular catheterization with ultrasound‐guidance is about 96.6%. There are no significative difference  between  the  success  rates  of  the  different  group  of  level  of  experience  group  of  clinician.  The  failure  of  the  procedure in two cases are caused by the hematoma with artery puncture. The rate of arterial puncture is 5.2%  and pneumothorax is 1.7%.   

Conclusion: The ultrasound‐guided internal jugular venous catheterization is an easy, safe procedure with 

high success rate.  

* Khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức ‐ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định,    

Tác giả liên lạc:    TS.BS.Nguyễn Thị Thanh       ĐT: 0918578857     Email: nguyenthithanh@pnt.edu.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch  trung  tâm  là 

một trong những thủ thuật cơ bản và được thực 

hiện thường xuyên tại hồi sức, góp phần thành 

công trong việc hồi sức các bệnh nhân nặng. Đây 

là một thủ thuật xâm lấn và có thể gây ra nhiều 

tai biến nghiêm trọng như: tràn khí màng phổi, 

chọc  và  luồn  catheter  vào  động  mạch  hoặc  tổn 

thương thần kinh. Siêu âm là một trong những 

tiến bộ khoa học hỗ trợ rất nhiều cho thủ thuật 

đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm, giúp thủ 

thuật an toàn hơn, cải thiện tỷ lệ thành công, làm 

giảm số lần đi kim và ít biến chứng(1,2,3,4,5). 

Tại  Việt  Nam  hiện  nay,  đặt  đường  truyền 

tĩnh  mạch  trung  tâm  dưới  hướng  dẫn  siêu  âm 

vẫn  còn  là  một  kỹ  thuật  mới  chưa  được  thực 

hiện rộng rãi và chưa có một công trình nghiên 

cứu  nào  nghiên  cứu  đầy  đủ  về  vấn  đề  này.  Vì 

thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thủ thuật 

đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm tại vị trí 

tĩnh mạch cảnh trong dưới hướng  dẫn  siêu  âm 

với các mục tiêu sau: 

‐  Xác  định  mức  độ  khó  của  thủ  thuật  đặt 

đường truyền tĩnh mạch cảnh trong dưới hướng 

dẫn siêu âm 

‐ Xác định tỷ lệ thành công của thủ thuật  

‐ Xác định tỷ lệ biến chứng chọc trúng động 

mạch và tràn khí màng phổi 

Trên  các  bệnh  nhân  có  chỉ  định  đặt  đường 

truyền tĩnh mạch trung tâm tại bệnh viện Nhân 

Dân Gia Định. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  cắt  ngang  mô  tả,  tiến  cứu.  Đối 

tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có chỉ định 

đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm và đồng 

ý  tham  gia  nghiên  cứu.  Phác  đồ  nghiên  cứu 

được  Hội  đồng  Khoa  Học  và  Y  đức  của  BV 

Nhân Dân Gia Định thông qua và cho phép thực 

hiện. 

Bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  sẽ  được  giải 

thích về thủ thuật sẽ thực hiện và có thân nhân 

ký cam kết đồng ý trước khi tiến hành thủ thuật.  Máy siêu âm sử dụng trong nghiên cứu là máy  LOGIQ  e  của  hãng  GE  Healthcare  với  đầu  dò  mạch  máu.  Các  bác  sĩ  thực  hiện  thủ  thuật  đều  được đào tạo và cấp giấy chứng nhận sử  dụng  siêu âm trong thủ thuật này.  

Bệnh nhân được kê tư thế, xác định mốc giải  phẫu,  siêu  âm  khảo  sát  mạch  máu  trước  thủ  thuật và được theo dõi kiểm báo ECG, huyết áp  động  mạch  không  xâm  lấn  và  SpO2  liên  tục  trong  khi  tiến  hành  thủ  thuật.  Thủ  thuật  thực  hiện với quy trình vô khuẩn ngoại khoa với đầu 

do  siêu  âm  được  bao  phù  bằng  bao  nylon  vô  trùng và bọc kín bằng băng dán vô trùng. Vùng  thực hiện thủ thuật được trải khăn vô trùng, gây 

tê  tại  chỗ  với  Lidocain  2%  2ml.  Xác  định  vị  trí  tĩnh mạch cảnh trong bằng siêu âm và chọc tĩnh  mạch bằng kim chọc tĩnh mạch với cách tiếp cận  ngang (trục ngắn) sau đó tiến hành đặt catheter  tĩnh  mạch  trung  tâm,  kiểm  tra  và  cố  định  catheter. Bệnh nhân sẽ được chụp Xquang ngực  thẳng  sau  thủ  thuật  để  kiểm  tra  vị  trí  catheter  cũng  như  biến  chứng  tràn  khí  màng  phổi.  Các  đặc điểm của mẫu nghiên cứu cũng như biến số  nghiên cứu về kỹ thuật đặt đường truyền, tỷ lệ  thành công và biến chứng sẽ được ghi nhận vào  bảng thu thập số liệu soạn sẵn.  

Biến  số  định  tính  sẽ  được  trình  bày  dưới  dạng tỷ lệ %. Biến số định lượng sẽ được trình  bày dưới dạng số trung bình và độ lệch chuẩn. 

Số liệu thu thập được xử lý bằng máy vi tính với  phần  mềm  SPSS  15,0  trên  hệ  điều  hành  Window.  Các  số  trung  bình  sẽ  được  so  sánh  bằng  phép  kiểm  t  (t‐Test),  các  tỷ  lệ  sẽ  được  so  sánh  bằng  phép  kiểm    bình  phương  (chi‐ square). 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  thời  gian  nghiên  cứu,  có  tất  cả  58  bệnh  nhân  được  đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch  cảnh  trong  dưới  siêu  âm  được  ghi  nhận  vào  nghiên cứu. 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu 

Trang 3

Biến số Mẫu nghiên cứu

Giới tính Nam: 22 (37,9%)

Nữ: 36 (62,1%) Tuổi trung bình (năm) 51,96 ± 12,36

> 65 tuổi: 41,8%

Chiều cao (cm) 155,37 ± 8,51

Cân nặng (kg) 61,1 ± 7,9

BMI (kg/m 2 ) 21,28 ± 3,44

 

Biểu đồ 1. Tỷ lệ chẩn đoán của các BN trong mẫu 

nghiên cứu. 

Bảng 2. Tỷ lệ phẫu thuật và bệnh lý nội khoa đi kèm  

Phẫu thuật

Không phẫu thuật: 9 (15,5%) Phẫu thuật cấp cứu: 47 (81%) Phẫu thuật chương trình: 2 (3,5%) Bệnh lý

nội khoa

kèm theo

Xơ gan: 4 (6,9%) Đái tháo đường: 4 (6,9%) Tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim: 19 (32,8%)

Tổng cộng: 27 (51,6%)

Bệnh  lý  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  trong  mẫu 

nghiên cứu là sốc nhiễm trùng. Tỷ lệ phẫu thuật 

cấp cứu chiếm tỷ lệ cao nhất. Tỷ lệ có và không 

có  bệnh  lý  nội  khoa  kèm  theo  tương  đương 

nhau. 

Bảng 3. Đặc điểm về đông cầm máu và tiểu cầu của 

mẫu nghiên cứu.  

INR Không rối loạn đông máu: 46 (79,3%)

Có rối loạn đông máu (INR > 1,5): 12 (20,7%)

Tiểu cầu Tiểu cầu bình thường: 37 (63,8%)

150000 > Tiểu cầu > 50000: 18 (31%)

Tiểu cầu < 50000: 3 (5,2%)

Bệnh  nhân  có  rối  loạn  đông  máu  và  giảm 

tiểu cầu chiếm tỷ lệ cao trong mẫu nghiên cứu. 

Thời gian thực hiện thủ thuật và số lần đâm 

kim trung bình tương đối thấp.  

Tỷ  lệ  thành  công  của  thủ  thuật  đặt  đường 

truyền  tĩnh  mạch  cảnh  trong  dưới  hướng  dẫn 

siêu âm là 56/58 trường hợp, chiếm 96,6%. 

Bảng 4. Đặc điểm về kỹ thuật thực hiện  

Thời gian thực hiện thủ thuật

10,76 ± 7,47 phút Ngắn nhất: 5 phút Lâu nhất: 30 phút

Số lần đâm kim (trung bình)

1,31 lần

Ít nhất: 1 lần Nhiều nhất: 4 lần

Bảng 5. Tỷ lệ thành công theo nhóm bệnh nhân có rối 

loạn đông máu 

Thành công Thất bại

Không có rối loạn đông máu 45 1

Có rối loạn đông máu 11 1

* p > 0,1 

Tỷ lệ thành công trong cả 2 nhóm bệnh nhân  đều  ở  mức  cao  và  không  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa thống kê giữa 2 nhóm có và không có rối  loạn đông máu (test 2). 

Bảng 6. Tỷ lệ thành công theo nhóm bệnh nhân có 

giảm tiểu cầu 

Nhóm Kết quả*

Tiểu cầu bình thường 35 2

150000 > Tiểu cầu > 50000 18 0 Tiểu cầu < 50000 3 0

* p > 0,5 

Cả 2 trường hợp thất bại đều rơi vào nhóm  bệnh nhân có số lượng tiểu cầu bình thường và  không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3  nhóm bệnh nhân (test 2 hai phía). 

Bảng 7. Tỷ lệ thành công theo kinh nghiệm bác sĩ 

thực hiện thủ thuật 

Nhóm Kết quả*

> 20 lần đặt 9 0

* p > 0,5 

Cả 2 trường hợp thất bại đều rơi vào nhóm  bác sĩ có kinh nghiệm < 20 lần đặt đường truyền  tĩnh  mạch  trung  tâm,  tuy  nhiên,  không  có  sự  khác biệt có  ý  nghĩa  thống  kê  khi  so  sánh  tỷ  lệ  thành công theo kinh nghiệm trước đây của bác 

Trang 4

Tỷ  lệ  tai  biến  trong  thủ  thuật  không  cao, 

trong  đó  tỷ  lệ  tràn  khí  màng  phổi  là  1  trường 

hợp (1,7%) và chọc trúng động mạch là 3 trường 

hợp  (5,2%).  Tất  cả  các  trường  hợp  tai  biến  đều 

được xử trí kịp thời, không gây ảnh hưởng cho 

bệnh nhân.  

BÀN LUẬN 

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 51,6% bệnh 

nhân có bệnh lý nội khoa kèm theo. Ngoài ra, tỷ 

lệ bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi chiếm 41,8%, tương 

đương với kết quả của Theodoro D và cộng sự, 

46,1%(6).  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  bị  sốc  nhiễm  trùng 

chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất,  50%.  Đường  truyền  tĩnh 

mạch  trung  tâm  rất  cần  thiết  trong  sốc  nhiễm 

trùng  vì  giúp  ích  trong  đo  áp  lực  tĩnh  mạch 

trung tâm và đo độ bão hòa Oxy máu tĩnh mạch. 

Walkey AJ  và  cộng  sự  kết  luận  việc  đặt  đường 

truyền tĩnh mạch trung tâm sớm cho bệnh nhân 

sốc nhiễm trùng đã tăng 3 lần tính từ năm 1998 

và  làm  giảm  tỷ  lệ  tử  vong  do  áp  dụng  điều  trị 

theo mục tiêu(7). 

Tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  rối  loạn  đông  máu 

(20,7%) và giảm tiểu cầu (36,2%) có thể so sánh 

với  công  trình  của  Theodoro  D  (rối  loạn  đông 

máu 15,22%) và Mey U (33,47%)(6,8). Siêu âm cho 

phép  nhìn  rõ  cấu  trúc  mạch  máu  và  việc  sử 

dụng  siêu  âm  để  đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch 

trung tâm cho các bệnh nhân rối loạn đông cầm 

máu đang trở nên phổ biến. Các bệnh nhân này 

cũng  không  cần  điều  chỉnh  rối  loạn  đông  cầm 

máu trước thủ thuật(9). Nghiên cứu của chúng tôi 

cũng cho thấy tỷ lệ thành công không khác biệt 

giữa  các  nhóm  bệnh  nhân  có  và  không  có  rối 

loạn đông máu hay giảm tiểu cầu.  

Khi so sánh thời gian thực hiện thủ thuật của 

nghiên  cứu  này  với  các  tác  giả  khác,  chúng  tôi 

nhận  thấy  kết  quả  của  Napolitano  M(10)  và 

Verghese  ST(11)  ngắn  hơn  trong  khi  kết  quả  của 

Dodge KL dài hơn(12).   

Về mặt phương pháp nghiên cứu, Dodge KL 

thực hiện nghiên cứu trên các bác sĩ nội trú lần 

đầu  tiên  được  huấn  luyện  và  sử  dụng  siêu  âm 

trong thủ thuật, có nhiều điểm tương đồng với  chúng  tôi  khi  lần  đầu  tiên  huấn  luyện  và  ứng  dụng siêu âm trong đặt đường truyền tĩnh mạch  cảnh trong tại khoa GMHS.  

 

Biểu 1. So sánh thời gian thực hiện thủ thuật với các 

nghiên cứu khác (10,11,12)  

Khi so sánh số lần đâm kim với các nghiên  cứu khác, kết quả của chúng tôi lớn hơn so với  Mey  U  (1,2  lần)(8)  và  Tercan  F  (1,01  lần)(13).  Khác biệt này có thể giải thích do cỡ mẫu của  chúng tôi không đủ độ lớn như các tác giả trên  (Mey U: 493 trường hợp, Tercan F: 119 trường  hợp). Tuy nhiên, khi so sánh với nghiên cứu có  tính  tương  đồng  về  việc  huấn  luyện  và  ứng  dụng  siêu  âm  lần  đầu  tiên  của  Dodge  KL(12),  kết  quả  của  chúng  tôi  thấp  hơn  so  với  tác  giả  này (2,6 lần). Điều này cho thấy thủ thuật đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch  cảnh  trong  dưới  hướng dẫn siêu âm có thời gian thực hiện thủ  thuật ngắn và số lần đâm kim thấp.  

 

Biểu 2. So sánh tỷ lệ thành công của thủ thuật với 

các nghiên cứu khác (3,6,8,10,12,13)  

Tỷ  lệ  thành  công  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  ở  mức  cao  và  có  sự  tương  đồng  với  một số kết  quả  từ  nghiên  cứu  ngoài  nước,  mặc 

dù  cỡ  mẫu  của  chúng  tôi  không  lớn.  Tác  giả  Dodge KL kết luận siêu âm cải thiện tỷ lệ thành 

Trang 5

công  trong  thủ  thuật(12).  Việc  siêu  âm  cho  phép 

khảo  sát  và  phân  biệt  rõ  cấu  trúc  mạch  máu 

vùng  cổ  là  một  yếu  tố  giúp  nghiên  cứu  ứng 

dụng  siêu  âm  lần  đầu  tiên  trong  đặt  đường 

truyền  tĩnh  mạch  cành  trong  của  chúng  tôi  đạt 

tỷ lệ thành công cao. Tỷ lệ thất bại 3,4% đều do 

khối máu tụ khi chọc trúng động mạch, phù hợp 

với  kết  quả  ghi  nhận  của  Mey  U  (0,2%  trường 

hợp  ngưng  thủ  thuật  vì  khối  máu  tụ)(8)  và 

Cavanna  L  (0,6%  thất  bại  do  chọc  trúng  động 

mạch)(3). Ngoài ra, tỷ lệ thành công trong nghiên 

cứu này không phụ thuộc vào kinh nghiệm (số 

lần đặt) của bác sĩ thực hiện. Điều này chứng tỏ 

đây là thủ thuật dễ thực hiện và có tỷ lệ  thành 

công cao.  

Tỷ lệ biến chứng gặp trong nghiên cứu này 

là  7,2%  (1,7%  tràn  khí  màng  phổi  và  5,2%  chọc 

trúng động mạch cảnh, trong đó gây khối máu 

tụ khiến ngưng thủ thuật là 3,4%). Kết quả này 

cho thấy tỷ lệ biến chứng thấp khi so sánh với số 

liệu của Karakitsos D ghi nhận kết quả thủ thuật 

đặt đường truyền mù với mốc giải phẫu bề mặt 

(2,4%  tràn  khí  màng  phổi,  10,6%  chọc  trúng 

động  mạch  và  8,4%  gây  khối  máu  tụ)(6).  Với 

hướng dẫn siêu âm, tác giả Kuminsky RE phân 

tích nhiều nghiên cứu và cho kết quả tương đối 

phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi (1 – 1,5% 

tràn  khí  màng  phổi  và  6%  chọc  trúng  động 

mạch)(5,14). Việc ứng dụng siêu âm cho phép nhìn 

rõ  các  cấu  trúc  giải  phẫu  tuy  nhiên  do  hướng 

tiếp cận là trục ngang nên chỉ thấy đầu kim trên 

mặt phẳng siêu âm, vì thế phân biệt đầu kim và 

mặt  cắt  mũi  kim  rất  khó  khăn  nên  khó  loại  bỏ 

biến chứng một cách hoàn toàn.  

KẾT LUẬN 

Kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  về  thủ 

thuật  đặt  đường  truyền  tĩnh  mạch  cảnh  trong 

dưới  hướng  dẫn  siêu  âm  cho  thấy  đây  là  kỹ 

thuật không khó với thời gian thực hiện ngắn và 

số lần đâm kim thấp, tỷ lệ thành công cao và tỷ 

lệ  biến  chứng  thấp.  Ứng  dụng  siêu  âm  có  thể 

giúp  thủ  thuật  thành  công  và  an  toàn  hơn  cho 

các bệnh nhân có chỉ định đặt đường truyền tĩnh 

mạch cảnh trong.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 

1 Balls  A,  LoVecchio  F,  Kroeger  A  et  al  (2010).  “Ultrasound  guidance for central venous catheter placement results from the 

Central Line Emergency Access Registry Database”, Am J Emerg 

Med, 28, pp.561‐567. 

2 Cavanna  L,  Civardi  G,  Vallisa  D  et  al  (2010).  “Ultrasound‐ guided  central  venous  catheterization  in  cancer  patients  improves  the  success  rate  of  cannulation  and  reduces  mechanical complications: A prospective observational study of 

1978  consecutive  catheterizations”,  World  Journal  of  Surgical 

Oncology, 8:91. 

3 Dodge KL, Lynch CA, Moore CL and Biroscak BJ (2012). “Use 

of  ultrasound  guidance  improves  central  venous  catheter 

insertion  success  rates  among  junior  residents”,  J  Ultrasound 

Med, 31, pp.1519‐1526. 

4 Kumar  A  and  Chuan  A  (2009).  “Ultrasound  guided  vascular 

access:  efficacy  and  safety”,  Best Pract Res Clin Anaesthesiol, 23, 

pp.299‐311. 

5 Kuminsky  RE  (2007).  “Complications  of  central  venous 

catheterization”, J Am Coll Surg, 204(4), pp.681‐696. 

6 Mey U, Glasmacher A, Hahn C et al (2003). “Evaluation of an  ultrasound‐guided  technique  for  central  venous  access  via  the 

internal  jugular  vein  in  493  patients”,  Support  Care  Cancer,  11, 

pp.148‐155. 

7 Milling  TJ,  Rose  J,  Briggs  WM  et  al  (2005).  “Randomized,  controlled clinical trial of point‐of‐care limited ultrasonography  assistance of central venous cannulation: the Third Sonography 

Outcomes Assessment Program (SOAP‐3) Trial”, Crit Care Med, 

33(8), pp.1764‐1769. 

8 Napolitano  M,  Malato  A,  Raffaele  F  et  al  (2013). 

“Ultrasonography‐guided  central  venous  catheterization  in 

haematological  patients  with  severe  thrombocytopenia”,  Blood 

Transfus, 23, pp.1‐5. 

9 Ortega  R,  Song  M,  Hansen  CJ  and  Barash  P  (2010). 

“Ultrasound‐guided  internal  jugular  vein  cannulation”,  NEJM  

362, e57. 

10 Tercan  F,  Ozkan  U  and  Oguzkurt  L  (2008).  “US‐guided  placement of central vein catheters in patients with disorders of 

hemostasis”, Eur J Radiology, 65, pp.253‐ 256. 

11 Theodoro  D,  Bausano  B,  Lewis  L  et  al  (2010).  “A  descriptive  comparison of ultrasound guided central venous cannulation of  the  internal  jugular  vein  to  landmark‐based  subclavian  vein 

cannulation”, Academic Emergency Medicine, 17, pp.416‐422. 

12 Verghese ST, McGill WA, Patel RJ et al (2000). “Comparison of  three  techniques  for  internal  jugular  vain  cannulation  in 

infants”, Paediatr Anaesth, 10, pp.505‐511. 

13 Vigna PD, Monfardini L, Bonomo G et al (2009). “Coagulation  disorders in patients with cancers: Nontunneled central venous  catheter  placement  with  US  guidance  –  A  single‐institution 

retrospective analysis”, Radiology, 253(1), pp.249‐252. 

14 Walkey AJ, Wiener RS and Lindenauer PK (2013). “Utilization  Patterns  and  Outcomes  Associated  With  Central  Venous 

Catheter in Septic Shock: A Population‐Based Study”, Crit Care 

Med, 41(6), pp.1450‐1457. 

 

Ngày nhận bài báo: 15/8/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/8/2013  Ngày bài báo được đăng: 10/12/2013 

Trang 6

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w