1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu về thai nhi mắc hội chứng down ở các thai phụ có kết quả xét nghiệm triple test nguy cơ cao

8 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 410,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả của xét nghiệm triple test huyết thanh ở thai phụ ba tháng giữa thai kỳ để phát hiện ra thai nhi mắc hội chứng down và xác định các yếu tố liên quan. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

Ở CÁC THAI PHỤ CÓ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM  

TRIPLE TEST NGUY CƠ CAO 

Trần Thị Bích Huyền* 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Đánh giá hiệu quả của xét nghiệm Triple test huyết thanh ở thai phụ ba tháng giữa thai kỳ để 

phát hiện ra thai nhi mắc hội chứng Down và xác định các yếu tố liên quan.  

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. Trong tổng số 1678 thai phụ đơn thai 

đến khám thai tại bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở 2, 692 thai phụ ở ba tháng giữa thai kỳ được làm xét nghiệm  Triple  test:  alpha  fetoprotein  (AFP),  human  chorionic  gonadotropin  (HCG),  unconjugated  estriol  (uE3)  bằng  phản ứng huỳnh quang miễn dịch, thời gian từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 12 năm 2013. Trị số MoM hiệu 

chỉnh để xác định nguy cơ được tính bởi phần mềm Prisca của Siemens.  

Kết quả: ‐ Trong số 692 thai phụ được tầm soát tiền sản với xét nghiệm Triple test, 38,29% thai phụ có kết 

quả Triple test nguy cơ cao → Tỷ lệ chọc ối là 38,29%. ‐ Thai nhi mắc hội chứng Down được xác định chỉ có 01  trường hợp (qua chọc ối xác định Trisomy 21). Tỷ lệ thai nhi hội chứng Down trong số thai phụ được chọc ối là  0,4%. ‐ Tuổi mẹ trên 35 tuổi là yếu tố liên quan đến kết quả Triple test nguy cơ cao. 

Kết luận: Thai phụ có kết quả Triple test nguy cơ cao có nguy cơ thai mắc hội chứng Down với tỷ lệ 0,4%. 

Chọc ối nên sử dụng cho thai phụ có kết quả Triple test nguy cơ cao. 

Từ khóa: xét nghiệm Triple test, hội chứng Down. 

ABSTRACT 

THE STUDY ON FETUS WITH DOWN SYNDROME IN PREGNANCY WOMEN  

WITH TRIPLE TEST HIGH‐RISK RESULTS 

Tran Thi Bich Huyen * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 97 ‐ 104 

Objective:  To investigate the efficiency of maternal serum triple screening for Down syndrome in second‐  trimester and to determine related factors. 

Methods:  Prospective studies, cross‐sectional descriptive.  A total of 1678 pregnant women with singleton 

pregnancies  assigned  in  University Medical  Center  HCMC,  692 pregnant  women  underwent triple  screening  test alpha fetoprotein (AFP), human chorionic gonadotropin (HCG), unconjugated estriol (uE3) by fluorescence  enzyme  immunoassay  between  July 2011  and  December  2013.  The valid MoM  (Multiple of  Median)  value  of  mid‐trimester  serum  AFP, uE3,  and HCG  and  risk assements  was provided  by  Prisca  of Siemens  Co. When  applied in the prenatal Down syndrome screening service.  

Results:  Of  the  692  maternal  with  prenatal  screening  test  Triple  Test,  38.29%  screening‐  positive 

pregnancies. Amniocentesis utilization rate was 38.24%. Fetus with Down syndrome is identified only 01 case  (determined Trisomy 21 through amniocentesis). Fetal Down syndrome rate was 0.4% in the screening‐positive 

pregnancies. Age over 35 years old mother is related to factors Triple test results at high risk.   

Conclusion: Pregnancy women with Triple test high‐risk results have fetus with Down syndrome at a rate 

of 0.4%. Amniocentesis should be used to pregnancy Triple test results at high risk. 

Keywords: Triple test screening, Down syndrome. 

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.   

Trang 2

Hội chứng Down xảy ra khi một người có ba 

bản  sao  của  nhiễm  sắc  thể  21. Đây  là  nguyên 

nhân  bẩm  sinh  phổ  biến  nhất  của  chậm  phát 

triển tâm thần. Trẻ bị hội chứng Down khi được 

sinh ra là một gánh nặng cho gia đình và xã hội.  

Kiểm tra không xâm lấn dựa trên phân tích 

sinh  hóa  của  huyết  thanh  mẹ  hoặc  nước  tiểu, 

hoặc các phép đo siêu âm thai nhi, cho phép ước 

tính  nguy  cơ  thai  bị  ảnh  hưởng  và  cung  cấp 

thông  tin  để  hướng  dẫn  các  quyết  định  về  thử 

nghiệm  tiêp  theo.  Từ  khi  có  xét  nghiệm  Triple 

test cùng với siêu âm hỗ trợ cho chẩn đoán tiền 

sản  giúp  cho  bác  sĩ  Sản  phụ  khoa  theo  dõi  và 

phát hiện các thai nghi ngờ hội chứng Down. Từ 

xét  nghiệm  đó  chúng  tôi  tiến  hành  chọc  ối  để 

kiểm tra bộ nhiễm sắc thể của thai và phát hiện 

ra  các  trường  hợp  thai  có  rối  loạn  về  số  lượng 

nhiễm  sắc  thể  21.  Khi  phát  hiện  ra  thai  bị  Hội 

chứng  Down  chúng  tôi  tư  vấn  cho  sản  phụ  và 

gia  đình  về  sức  khỏe  của  thai  để  gia  đình  có 

quyết định dưỡng thai tiếp hay không.  

 Qua  thời  gian  tiến  hành  xét  nghiệm  Triple 

test để tầm soát hội chứng Down, và các rối loạn 

nhiễm sắc thể 13, 18 và hội chứng dị tật ống thần 

kinh, chúng tôi làm nghiên cứu này để khảo sát 

tỷ  lệ  thai  bị  hội  chứng  Down  thực  sự  ở  những 

thai phụ có xét nghiệm Triple test nguy cơ cao. 

TỔNG QUAN 

Hội  chứng  Down  được  John  Langdon 

Down,  một  bác  sĩ  người  Anh  mô  tả  vào  năm 

1866. Hội chứng Down có thể xảy ra với bất kỳ 

ai,  nhưng  nguy  cơ  cao  hơn  ở  những  trẻ  được 

sinh ra từ người mẹ trên 35 tuổi.  

Bình  thường  bộ  nhiễm  sắc  thể  người  có  46 

nhiễm sắc  thể, đi thành  từng  cặp,  23 nhiễm sắc 

thể  này  được  thừa  hưởng  từ  cha,  23  nhiễm  sắc 

thể  được  thừa  hưởng  từ  mẹ.  Trẻ  bị  hội  chứng 

Down có 47 nhiễm sắc thể do có thừa một nhiễm 

sắc thể thứ 21. Chính nhiễm sắc thể thừa này đã 

phá vỡ sự phát triển bình thường về thể chất và 

trí tuệ của trẻ. 

Trẻ bị Down có những biểu hiện bất thường 

về hình thái và chức năng . 

‐  Đầu  ngắn  và  bé,  gáy  rộng  và  phẳng,  cổ  ngắn, vai tròn. 

‐ Mặt dẹt, trông ngốc nghếch. 

‐ Đôi tai thấp nhỏ, dị thường, kém mềm mại. 

‐  Mắt  xếch, mí mắt  lộn  lên, đôi  khi bị  lé,  có  nếp gấp da phủ phía trong mí mắt, mắt hơi phù 

và đỏ. Trong lòng đen có nhiều chấm trắng nhỏ  như hạt cát và thường mất đi sau 12 tháng tuổi. 

‐ Mũi nhỏ và tẹt. 

‐ Miệng trễ xuống và hay há ra, vòm miệng  cao, lưỡi dày thè ra ngoài. 

‐ Chân tay ngắn, bàn tay ngắn to. Các ngón  tay  ngắn,  ngón  út  thường  khoèo.  Lòng  bàn  tay 

có  nếp  sâu  nằm  nghiêng.  Bàn  tay  phẳng,  ngón  chân  chim,  khoảng  cách  giữa  ngón  chân  cái  và  ngón  chân  thứ  hai  rất  rộng.  Các  khớp  khuỷu,  khớp háng, khớp gối, cổ chân lỏng lẻo, do đó trẻ 

bị trật khớp háng, trật xương bánh chè. 

‐  Ngoài  ra  một  số  trẻ  có  những  khuyết  tật  tim bẩm sinh, các rối loạn về hô hấp, tắc nghẽn  đường tiêu hóa sớm ở trẻ sơ sinh và bệnh bạch  cầu ở tuổi ấu thơ. Trẻ bị Down dễ nhạy cảm với  các tác nhân gây nhiễm khuẩn. 

‐ Trẻ dễ bị thừa cân.  

‐ Trẻ chậm phát triển từ thể nhẹ đến thể vừa, 

có khoảng 10% tiến triển thành thể nặng.  

Ngày  nay  nhờ  tiến  bộ  của  y  học,  tuổi  thọ  trung  bình  của  những  người  bị  bệnh  Down  có  thể  đạt  tới  55  tuổi.  Với  những  người  bị  Down  việc giáo dục kỹ năng thể chất và tâm thần cần  được  duy  trì  suốt  đời.  Mức  độ  nhận  thức  của  những  người  này  thấp  hơn  bình  thường,  phần  lớn  dừng  lại  ở  những  kỹ  năng  vận  động,  ngôn  ngữ và các kỹ năng cá nhân, xã hội đơn giản.  

Từ đầu những năm 70 của thế kỷ 20 sàng lọc  trước  sinh  đã  được  các  nhà  khoa  học  trên  thế  giới áp dụng và ngày càng phát triển.  

 ‐ Sàng lọc trước sinh nhằm phát hiện những  thai  phụ  có  nguy  cơ  cao  mang  thai  dị  tật  bẩm  sinh  như  hội  chứng  Down  (tam  thể  21),  hội 

Trang 3

ống thần kinh. 

 ‐ Xét nghiệm Triple test được làm bằng cách: 

lấy  2  ml  máu  tĩnh  mạch  của  thai  phụ,  đo  nồng 

độ AFP (alpha‐fetoprotein, hCG (free ‐ human 

chorionic  gonadotropin)  và  uE3  (estriol  tự  do) 

khi thai ở tuần tuổi từ 14 đến 20 tuần. Thời gian 

làm  xét  nghiệm  sàng  lọc  thích  hợp  nhất  là  khi 

thai  nhi  được  16  đến  18  tuần.  Sau  1  tuần,  xét 

nghiệm sẽ cho biết ở thai phụ có kết quả nguy cơ 

thấp hay nguy cơ cao thai nhi mắc các hội chứng 

kể trên.  

 ‐ Khi kết quả Triple test cho thấy thai nhi có 

nguy cơ mắc hội chứng Down cao, chúng tôi cần 

làm thêm các xét nghiệm sau: 

 + Siêu âm: do các chuyên gia có kinh nghiệm 

thực  hiện.  Qua  siêu  âm  các  bác  sĩ  có  thể  phát 

hiện một số dị tật về tim mạch… nhưng không 

thể  xác  định  thai  có  hội  chứng  Down  một  cách 

chắc chắn.  

 +  Nhiễm  sắc  thể  đồ:  là  một  xét  nghiệm  di 

truyền tế bào giúp phát hiện các rối loạn nhiễm 

sắc thể trong đó có hội chứng Down. Xét nghiệm 

này  giúp  chúng  tôi  chẩn  đoán  thai  nhi  có  mắc 

hội chứng Down hay không một cách chắc chắn. 

Xét nghiệm nhiễm sắc thể được thực hiện bằng 

cách chọc hút một ít nước ối bao quanh thai nhi 

(để tránh nguy cơ chạm thương thai nhi và chạm 

bánh nhau chúng tôi tiến hành chọc hút qua siêu 

âm  hướng  dẫn),  rồi  nuôi  cấy  tế  bào  ối  và  quan 

sát nhiễm sắc thể dưới kính hiển vi. Kỹ thuật này 

cho  phép  phát  hiện  99,8%  các  trường  hợp  hội 

chứng Down và các rối loạn nhiễm sắc thể khác. 

Tuy  nhiên  mặc  dù  không  đáng  kể  nhưng  chọc 

hút dịch ối có thể gây sẩy thai (tăng 0,5% so với 

tỷ lệ sẩy thai bình thường). 

 + Khi có kết quả chọc dịch ối kết luận là thai 

nhi mắc hội chứng Down chúng tôi tư vấn cho 

gia đình và sản phụ về thai nhi: về tình trạng mà 

thai  nhi  đang  mắc  phải,  về  tương  lai  phát  triển 

của đứa bé khi sinh ra… 

 Xét  ngiệm  Triple  test  hiện  nay  làm  được  ở 

nhiều  bệnh  viện  Sản  phụ  khoa:  Bệnh  viện  Từ 

Dũ, Bệnh viện Hùng Hương, Bệnh viện Đại học 

Y  Dược…Giá  thành  xét  nghiệm  không  cao.  Từ  sàng  lọc  ban  đầu  giúp  chúng  tôi  phát  hiện  các  thai nhi có nguy cơ mắc hội chứng Down cao và 

từ đó chúng tôi chọc ối và làm nhiễm sắc thể đồ 

để có chẩn đoán chắc chắn.  

 Chúng  tôi  làm  đề  tài  nghiên  cứu  khoa  học  này để khảo sát tỷ lệ thai mắc hội chứng Down  trên các thai phụ có xét nghiệm Triple test nguy 

cơ mắc hội chứng Down cao. 

Mục tiêu đề tài  

 Mục tiêu tổng quát 

Khảo  sát  tỷ  lệ  thai  mắc  hội  chứng  Down  ở  các  thai  phụ  có  kết  quả  xét  nghiệm  Triple  test  nguy cơ cao. 

 Mục tiêu chuyên biệt 

 ‐ Khảo sát tỉ lệ thai mắc hội chứng Down ở  các  thai  phụ  có  kết  quả  xét  nghiệm  Triple  test  nguy cơ cao. 

 ‐  Khảo  sát  tỷ  lệ  thai  phụ  có  kết  quả  xét  nghiệm  Triple  test  nguy  cơ  thai  mắc  hội  chứng  Down cao trong tổng số thai phụ được làm xét  nghiệm này. 

 ‐ Xác định yếu tố liên quan ở các thai phụ có  kết  quả  Triple  test  nguy  cơ  cao:  tuổi,  trình  độ  văn  hoá,  nghề  nghiệp,  số  con,  sử  dụng  thuốc  trong thai kỳ… 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU   Thời gian nghiên cứu 

Từ tháng 07/2011 đến tháng 12/ 2013. 

Địa điểm nghiên cứu 

Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ chí  Minh cơ sở 2. 

Đối tượng nghiên cứu 

Thai  phụ  khám  thai  có  kết  quả  xét  nghiệm 

Triple test là nguy cơ cao. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

+ Thai phụ có kết quả xét nghiệm Triple test 

là nguy cơ cao đang khám thai tại Bệnh viện Đại  học Y dược cơ sở 2. 

+ Thai phụ được theo dõi thai tại BVĐHYD 2 

Trang 4

Tiêu chuẩn loại trừ  

 + Không thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. 

 + Các thai phụ từ chối tham gia nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  nghiên  cứu  tiến 

cứu, mô tả cắt ngang. 

Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện.  

Cách tiến hành 

 + Thai phụ có kết quả xét nghiệm Triple test 

là nguy cơ cao đang khám thai tại Bệnh viện Đại 

học Y dược cơ sở 2. 

 + Thai phụ và gia đình được tư vấn tiền sản 

tại  Bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  cơ  sở  2,  sau  đó 

được chuyển qua khám tiền sản tại Phòng khám 

Tiền  sản  Bệnh  viện  Từ  Dũ  và  được  tiến  hành 

chọc ối tại bệnh viện Từ Dũ. 

 +  Thai  phụ  sau  khi  chọc  ối  khoảng  7  ngày 

sau sẽ có kết quả nhiễm sắc thể đồ.  

 + Nếu kết quả nhiễm sắc thể đồ bình thường 

thai phụ sẽ được tư vấn theo dõi thai tiếp tục tại 

Bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  cơ  sở  2.  Thai  phụ 

được theo dõi thai đến lúc sinh và ghi nhận tình 

trạng bé sơ sinh.  

 + Nếu kết quả nhiễm sắc thể đồ bất thường 

thai  phụ  và  gia  đình  sẽ  được  các  bác  sĩ  ở  Bệnh 

viện đại học Y Dược cơ sở 2 và bệnh viện Từ Dũ 

tư  vấn  và  hội  chẩn  với  các  Bác  sĩ  chuyên  khoa 

tim mạch, chỉnh hình  Sau khi được tư vấn thai 

phụ có thể dưỡng thai tiếp hay bỏ thai tùy theo 

quyết định của thai phụ và gia đình. 

 + Xét nghiệm Triple test được tiến hành như 

sau:  thai  phụ  được  lấy  khoảng  3ml  máu  tĩnh 

mạch gửi về Phòng xét nghiệm ở Bệnh viện Đại 

học Y Dược cơ sở 2. Kết quả nguy cơ được tính 

bằng phần mềm Prisca của Siemens, đo các thông 

số  AFP,  HCG,  uE3,  với  các  giá  trị  MoM  hiệu 

chỉnh,  độ  nhạy  88,8%,  tỷ  lệ  dương  tính  giả 

10,3%, tỷ lệ âm tính giả khoảng 30%, ngưỡng cut 

off là 1/250. 

 + Nước ối sau khi được tiến hành chọc dưới 

sự  hướng  dẫn  của  siêu  âm,  bác  sĩ  sản  khoa  sẽ 

đưa  kim  vào  buồng  ối  lấy  khoảng  3ml  nước  ối  cho vào ống nghiệm và gửi về phòng di truyền  Bệnh  viện  Từ  Dũ.  Phòng  di  truyền  tiến  hành  phân tích nước ối bằng phương pháp QF ‐ PCR. 

QF  ‐  PCR  là  viết  tắt  PCR  huỳnh  quang  định  lượng  (quantitative  fluorescence  PCR),  đây  là  một kỹ thuật PCR dùng để khuếch đại các đoạn  DNA  ngắn,  đặc  hiệu,  đánh  dấu  bằng  tín  hiệu  huỳnh  quang  và  định  lượng  bằng  điện  di  mao  quản. QF được dùng để kiểm tra liều gen, ví dụ  bản  sao  của  gen  trong  một  mẫu  khảo  sát,  số  lượng của các đoạn nhiễm sắc thể, các nhiễm sắc  thường  được  khảo  sát  bằng  QF‐PCR  là  nhiễm  sắc thể 13, 18, 21, X, Y.  

Kỹ thuật QF‐PCR có giá trị tiên đoán dương  100% và giá trị tiên đoán âm 99,7% ( 6).  

‐  Thu  thập  thông  tin  dựa  vào  bảng  câu  hỏi  soạn sẵn. 

‐  Về  vấn  đề  y  đức:  nghiên  cứu  không  vi  phạm y đức vì:  

+ Các thông tin thai phụ đều được tuyệt đối 

bí mật, được mã hóa.  

+ Thai phụ và gia đình đều được tư vấn kỹ 

và đồng ý trước khi làm các xét nghiệm cho thai  nhi, được tư vấn tiếp tục sau khi có kết quả chọc 

ối. 

+ Khi thai phụ đồng ý tham gia nghiên cứu  đều ký tên vào bảng đồng thuận. 

Phương pháp xử lý số liệu 

Các  số  liệu  được  mã  hóa  và  được  xử  lý  số  liệu  bằng  phần  mềm  SPSS  20.0,  Excel.  Sử  dụng  phép kiểm 2 và Exact Fisher để kiểm định, có ý  nghĩa khi p < 0,05.  

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  thời  gian  nghiên  cứu  từ  7/2011  đến  12/2013, có 1678 thai phụ đến khám thai tại Bệnh  viện Đại học Y Dược 2, trong đó 692 thai phụ có  tuổi  thai  từ  15  ‐  20  tuần  được  làm  xét  nghiệm  Triple test. Số thai phụ có kết quả triple test nguy 

cơ cao là 235 thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu. 

Trang 5

test nguy cơ cao 

235/692 = 38,29% (thai phụ xét nghiệm Triple 

test). 

235/  1678  =  14,01%  (tổng  số  thai  phụ  đến 

khám thai). 

Đặc  điểm  lâm  sàng  các  bà  mẹ  của  nhóm 

nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm chung các bà mẹ trong nhóm 

nghiên cứu 

Tuổi trung bình 34,59  6,06 22 45

Cân nặng trung bình (kg) 55,42  4,72 48 66

 

Nhóm tuổi < 35 tuổi 144 61,3

≥ 35 tuổi 91 38,7 Nơi ở Tp Hồ Chí Minh 162 68,9

Các tỉnh 73 31,1

1 con 108 46

2 con 55 23,4

3 con 18 7,6 Tuổi thai 15 tuần - 15 tuần 6 ngày 27 11,5

16 tuần - 16 tuần 6 ngày 108 46

17 tuần - 17 tuần 6 ngày 37 15,7

18 tuần - 18 tuần 6 ngày 54 23

19 tuần - 20 tuần 9 3,8 Cách sanh Sanh ngã âm đạo 136 57,9

Mổ lấy thai 99 42,1 Nhận xét  

‐ Trong nhóm nghiên cứu, thai phụ các tỉnh 

đến  khám  thai  tại  Bệnh  viện  chỉ  chiếm  khoảng 

1/3, đa số là tại thành phố Hồ Chí Minh.  

‐  Tuổi  trung  bình  thai  phụ  có  kết  quả  nguy 

cơ  hội  chứng  Down  cao  chỉ  là  34,5  tuổi,  tương 

đối trẻ hơn so với y văn, có thể ở đây chúng tôi 

tính  chung  trên  tổng  số  thai  phụ,  các  thai  phụ 

đến  khám  đa  số  trong  tuổi  sinh  đẻ  nên  số  thai 

phụ dưới 35 tuổi khá đông hơn số thai phụ trên 

35 tuổi. 

‐ 46% xét nghiệm Triple test được làm ở tuổi 

thai 16 ‐17 tuần.  

‐  Chúng  tôi  chưa  ghi  nhận  được  tình  trạng  cao huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, tiếp  xúc  với  hóa  chất  hay  chất  phóng  xạ,  tiền  căn  sanh con dị tật trong mẫu nghiên cứu. 

Đặc  điểm  cận  lâm  sàng  các  bà  mẹ  của  nhóm nghiên cứu 

 So sánh nồng độ AFP 

  

Biểu đồ 1: So sánh nồng độ AFP của nhóm nguy cơ 

cao với nhóm nguy cơ thấp  Nhận  xét:  nồng  độ  AFP  của  nhóm  nguy  cơ 

cao thấp hơn so với nhóm nguy cơ thấp. 

So sánh nồng độ uE3  

 

Biểu đồ 2: so sánh nồng độ uE3 của nhóm nguy cơ 

cao với nhóm nguy cơ thấp  Nhận  xét:  nồng  độ  uE3  của  nhóm  nguy  cơ 

cao hơi cao hơn so với nhóm nguy cơ thấp. 

0 20 40 60 80 100

15 16 17 18 19 20 tuổi thai (tuần)

AFP (UI/ml)  nhóm nghiên  cứu

AFP (UI/ml)  chuẩn

0 0.5 1 1.5 2 2.5 3

15 16 17 18 19 20 tuổi thai (tuần)

uE3 (mg /ml)  nhóm nghiên  cứu

uE3 (mg /ml)  chuẩn

Trang 6

 

Biểu đồ 3: So sánh nồng độ HCG của nhóm nguy 

cơ cao với nhóm nguy cơ thấp 

Nhận xét: nồng độ HCG của nhóm nguy cơ 

cao hơi cao hơn so với nhóm nguy cơ thấp. 

Triple test và Trisomy 21 

‐ Trong tổng số 1678 thai phụ đến khám thai 

tại Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở 2 có 692 thai 

phụ đơn thai được xét nghiệm tầm soát tiền sản 

với Triple test chiếm tỷ lệ 41% ( các thai phụ còn 

lại một số không đồng ý tầm soát, một số được 

tầm soát ở tam cá nguyệt thứ nhất với PAPP‐A). 

‐  Trong  số  692  thai  phụ  xét  nghiệm  Triple 

test  có 235 thai  phụ  có kết  quả  Triple test  nguy 

cơ  cao  chiếm  tỷ  lệ  38,29%.  235  thai  phụ  có  kết 

quả Triple test nguy cơ cao được tư vấn tiền sản 

và chọc ối để kiểm tra nhiễm sắc thể đồ. 

‐  01  thai  phát  hiện  trisomy  21  trong  số  235 

thai phụ được chọc ối. Không phát hiện trường 

hợp nào có rối loạn các nhiễm sắc thể 13,18, X,Y 

và hội chứng dị tật ống thần kinh. Tỷ lệ Trisomy 

21 là 1/235 = 0,0042 = 0,4% trong tổng số thai phụ 

có  kết  quả  Triple  test  nguy  cơ  cao.  Trong  thời 

gian nghiên cứu, chúng tôi phát hiện có 1 trường 

hợp nguy cơ thấp với mức nguy cơ kết hợp thấp 

hơn ngưỡng cut off là 1/250 nhưng khi sinh ra bé 

mắc hội chứng Down. 

‐  Trong  thời  gian  nghiên  cứu  với  1678  thai 

phụ  chúng  tôi  phát  hiện  02  trường  hợp  thai  có 

hội chứng Down: 01 thai được xét nghiệm Triple 

test nguy cơ cao và chọc ối xác định Trisomy 21 ( 

thai  phụ  này  đã  sinh  non  lúc  thai  21  tuần),  01  trường hợp xác định sau khi bé sinh ra đủ tháng 

và bé bị suy hô hấp phải chuyển Bệnh viện Nhi  đồng. Tỷ lệ Hội chứng Down trong tổng số thai  phụ là 0,12% (2 : 1678 = 0,0012). 

‐ Trường hợp thai mắc hội chứng Down qua  xét  nghiệm  Triple  test  nguy  cơ  cao  và  chọc  ối  chúng tôi ghi nhận như sau 

+  Thai  phụ  37  tuổi,  nghề  nghiệp  buôn  bán  tạp hóa. 

+  Tiền  thai:  1021  (  1  lần  sinh  thường  năm 

2003, bé bình thường; 2 lần sảy thai tự nhiên, thai  khoảng 8 ‐ 10 tuần năm 2010 và 2012). 

+  Thai  kỳ  lần  này  phát  triển  bình  thường,  khám thai tại Tiền Giang, lúc thai 17 tuần 5 ngày  thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Đại học Y  dược  cơ  sở  2,  siêu  âm  không  ghi  nhận  có  bất  thường trên thai.  

+ Triple test: tỷ lệ nguy cơ hội chứng Down  theo tuổi mẹ 1: 240, tỷ lệ nguy cơ kết hợp 1:163.  Nguy  cơ  hội  chứng  Edward  1:2509;  nguy  cơ  dị  tật ông thần kinh 1: 6950. 

+ Ngày 7/11/2013 sau khi có kết quả thai phụ  được tư vấn tiền sản và đồng ý chọc ối, kết quả  chọc  ối  như  sau:  Tín  hiệu  phân  tích  có  dạng  Trisomy 21 tại các vị trí 21A, 21B, 21C, 21D, 21G,  21H, 21J, tiên lượng bị hội chứng Down. 

+  Ngày  18/11/2013  thai  phụ  nhập  viện  bỏ  thai, ngày 19/11/2013 thai phụ sinh 1 bé trai cân  nặng 240g, được lấy máu thử nhiễm sắc thể đồ 

và kết quả xác định bé bị hội chứng Down. 

‐  Trường  hợp  thứ  hai  chúng  tôi  ghi  nhận  như sau 

+  Thai  phụ  22  tuổi,  nghề  nghiệp:  nhân  viên  văn phòng. 

+ Tiền thai: 0000. 

+ Thai phụ được xét nghiệm PAPP‐A ở tuổi  thai 11 tuần 3 ngày và có kết quả nguy cơ thấp, 

tỷ lệ nguy cơ hội chứng Down kết hợp 1:2205.  +  Khám  thai,  siêu  âm  không  ghi  nhận  bất  thường. 

+ Thai phụ sinh tại Viện lúc thai 38 tuần, sinh 

bé  trai  cân  nặng  3000g,  apgar  1ʹ  =  6,  5ʹ  =  7.  Sau 

0

10

20

30

40

50

60

15 16 17 18 19 20

tuổi thai (tuần)

bHCG(UI/ml)  nhóm nghiên  cứu

bHCG(UI/ml)  chuẩn

Trang 7

sinh  bé  có  khuôn  mặt  dẹt  giống  hội  chứng 

Down, thỉnh thoảng hơi tím nên bé được cho thở 

oxy  qua  sonde  mũi  và  chuyển  viện  Nhi  đồng. 

Bệnh viện Nhi đồng cho xét nghiệm máu bé và 

xác định bé bị hội chứng Down. 

BÀN LUẬN 

Hội  chứng  Down  là  bất  thường  nhiễm  sắc 

thể bẩm sinh. Xét nghiệm Triple test trong máu 

mẹ bao gồm AFP, ‐hCG, uE3 hiện nay đã được 

áp dụng ở nhiều nơi, vì thế làm giảm đáng kể tỷ 

lệ  chọc  ối.  Tuy  nhiên  xét  nghiệm  Triple  test 

không phải là xét nghiệm chẩn đoán hội chứng 

Down(3). Theo các nghiên cứu, tất cả các thay đổi 

bệnh lý của thai cũng có thể ảnh hưởng đến sự 

thay đổi kết quả của tầm soát(1). Điều này giúp 

chúng  tôi  giải  thích  các  trường  hợp  kết  quả 

dương  tính  giả  liên  quan  đến  các  bất  thường 

bẩm sinh khác 

Theo nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 38,29% 

các thai phụ được làm xét nghiệm Triple test tầm 

soát  trước  sinh,  khoảng  45%  được  làm  xét 

nghiệm PAPP‐A lúc thai 11‐13 tuần, 16,71% thai 

phụ đến khám thai trễ hơn 21 tuần hoặc không 

đồng ý làm xét nghiệm tầm soát. So với tác giả 

Yan‐ping(4) tỷ lệ thai phụ đồng ý làm xét nghiệm 

tầm  soát  tiền  sản  ở  Trung  Quốc  chỉ  đạt  45,45% 

thì tỷ lệ của chúng tôi cao hơn, điều này có thể 

giải thích do thời gian thực hiện nghiên cứu của 

tác giả là 2003 ‐ 2005 trước chúng tôi khoảng 10 

năm, cũng tại thời diểm đó tại Mỹ tỷ lệ thai phụ 

đồng ý làm xét nghiệm tiền sản đạt 73%(1).  

Độ nhạy của xét nghiệm Triple test kết hợp 

với tuổi mẹ cũng chỉ 70% ‐ 85%, tỷ lệ âm tính giả 

5%.  So  với  xét  nghiệm  Double  test  (PAPP‐A, 

Free beta‐HCG) kết hợp với siêu âm đo khoảng 

sáng sau gáy của thai ở tuần lễ thứ 11‐13 thai kỳ 

có thể xác định 85% thai kỳ nguy cơ cao nhưng 

tỷ  lệ  dương  tính  giả  vẫn  còn  khá  cao  (5%)(6). 

Nhưng để cho kết quả xét nghiệm đạt độ nhạy 

85%  thì  kỹ  thuật  đo  khoảng  sáng  sau  gáy  thai 

nhi  phải  được  các  Bác  sĩ  siêu  âm  được  huấn 

luyện cách đo thật chính xác.  

Tỷ lệ hội chứng Down chúng tôi ghi nhận là 

0,4%  trong  số  thai  phụ  có  kết  quả  Triple  test  là 

nguy  cơ  cao  cũng  giống  với  tác  giả  Đỗ  Thị  Thanh Thủy(2) tỷ lệ 0,2%.  

Các  trường  hợp  trẻ  sinh  ra  bị  hội  chứng  Down ở những bà mẹ có tham gia sàng lọc kể cả  triple  test  cũng  như  siêu  âm  định  kỳ  trước  đó,  chủ yếu là những bà mẹ trẻ, dưới 30 tuổi, chưa 

hề  có  tiền  sử  sản  khoa,  giá  trị  của  các  thông  số  sàng lọc tuy thấp hơn so với bình thường (AFP),  thậm chí uE3 trong trường hợp thai phụ 22 tuổi  chỉ có và hCG cũng không cao như thường gặp 

ở  thai  nhi  bị  hội  chứng  Down,  cùng  với  yếu  tố  tuổi của mẹ còn trẻ nên dễ bị bỏ sót, tuy nguy cơ  mang thai hội chứng Down cao hơn so với nguy 

cơ do tuổi, nhưng vì nguy cơ kết hợp thấp hơn  1/250, nên có sự chênh lệch giữa nguy cơ do tuổi 

và nguy cơ do sàng lọc. Đó là một điểm yếu của 

bộ  ba  sàng  lọc  trước  sinh.  Qua  đây,  chúng  tôi  thấy việc tư vấn và theo dõi cho thai phụ là rất  quan  trọng,  và  vấn  đề  quan  trọng  nữa  là  tìm  kiếm một phương thức hữu hiệu hơn, có thể là  xét nghiệm 3 tháng đầu thai kỳ (tuổi mẹ, đo độ 

mờ da gáy, đo PAPP‐A‐một protein trong huyết  tương thai phụ liên quan đến thai kỳ, β hCG tự 

do trong huyết thanh thai phụ) hay thực hiện xét  nghiệm sàng lọc tích hợp (phối hợp 3 tháng đầu 

và 3 tháng giữa thai kỳ) bao gồm tuổi mẹ, đo độ 

mờ  da  gáy,  đo  PAPP‐A  khi  thai  từ  11  đến  13  tuần  tuổi  và  AFP,  hCG,  uE3,  có  hay  không  Inhibin A khi thai từ 15 đến 21 tuần tuổi, kết quả  sàng lọc tính nguy cơ sau khi phối hợp tất cả các 

dữ liệu của 2 kỳ, cho đến nay, đây là một chiến  lược sàng lọc mà có tỉ lệ phát hiện cao nhất và tỉ 

lệ  dương  tính  giả  thấp  nhất,  tuy  vậy  các  bác  sĩ  sản khoa và ngay cả các thai phụ lại không thấy  hấp dẫn lắm vì phải lấy máu làm xét nghiệm 2  lần, kết quả phải chờ đợi cho đến khi thực hiện  xét nghiệm lần 2 mới có. 

Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  thực  hiện  xét  nghiệm QF‐PCR,là xét nghiệm sinh học phân tử 

để chẩn đoán rối loạn nhiễm sắc thể 13, 18, 21, X, 

Y  của  thai  nhi  với  giá  trị  tiên  đoán  dương  đạt  100%, giá trị tiên đoán âm 99,97%. Đây là tiến bộ  mới trong chẩn đoán, giúp chẩn đoán nhanh và  chính xác các rối loạn nhiễm sắc thể trên ở thai 

Trang 8

bác sĩ sản khoa và các thai phụ. 

Ngày  nay  với  sự  phát  triển  của  sinh  học 

phân  tử,  các  nhà  khoa  học  trên  thế  giới  đang 

hướng  tới  các  xét  nghiệm  không  xâm  lấn  trong 

tầm soát trước sinh, khảo sát các mảnh free‐cell 

ADN của con trong máu mẹ từ đó đánh giá về 

ADN  của  thai  nhi  mà  không  cần  làm  các  xét 

nghiệm xâm lấn như sinh thiết gai nhau, chọc ối. 

Đây  là  hướng  phát  triển  mới  trong  chẩn  đoán 

trước sinh(4). 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  chúng  tôi  có  kết  luận  như 

sau: 

‐  Tỷ  lệ  thai  nhi  mắc  hội  chứng  Down  ở  các 

thai phụ có kết quả xét nghiệm Triple test nguy 

cơ cao là 0,4%. 

‐ Tỷ lệ thai phụ có kết quả xét nghiệm Triple 

test nguy cơ thai mắc hội chứng Down cao trong 

tổng  số  thai  phụ  được  làm  xét  nghiệm  này  là 

38,24%. 

‐ Tuổi mẹ trên 35 tuổi là yếu tố có liên quan 

với kết quả xét nghiệm Triple test nguy cơ cao. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Alldred  SK,  Deek  JJ,  Guo  B,  Neilson  JP,  Alfirevic  Z  (  2012).  Second trimester serum tests for Downʹs Syndrome screening.  The Cochrance Collaboration and published in The Cochran  Library, Issue 6. 

2 Đỗ  Thị  Thanh  Thủy,  Phan  Việt  Xuân,  Phùng  Như  Toàn,  Phạm  Việt  Thanh,Trương  Đình  Kiệt,  Trần  Thị  Trung  Chiến  (2009).  Tầm  soát  trước  sinh  hội  chứng  Down  ba  tháng  giữa  thai kỳ bằng hệ thống tự động Immulite 2000 và phần mềm  Prisca. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 13, số 1;  trang 198‐203. 

3 Horacek  J  (1999).  Biochemical  screening  in  the  seconde  trimester  of  pregnancy  from  a  genetic  aspect.  J.  Ceska  Gynekol; 64, 302‐304. 

4 Sifakis  S,  Papantoniou  N,  Kappou  D,  Antsaklis  A  (2012).  Noninvasive prenatal diagnosis of Down syndrome : current  knowledge  and  novel  in  sight.  J  Perinat  Med  Feb  13,;  40(4):  319‐327. 

5 Yan‐ping XIA, Ming‐wei ZHU, Xiao‐tian LI, He‐ping ZHOU,  Jing  WANG,  Ju‐xiang  LV,  Nanbert  ZHONG  (2006).  Chromosomal abnormalities and adverse pregnancy outcome  with maternal serum second trimester triple screening test for  fetal  Down  syndrome  in  4860  Chinese  women.  Journal  of  Peking University Health Sciences Vol.38, No.1, Feb, page 49‐

52. 

6 Wald  NJ,  Hackshaw  AK  (2000).  Advances  in  antenatal  screening  for  Down  syndrome.  Bailliere  Best  Pract  Res  Clin  Obstet Gynaecol, Aug; 14(4): 563‐580. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:     29/9/2014 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w