1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị của heart type fatty acid binding protein trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp

6 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 611,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

H-FABP (heart type fatty acid binding protein) là một loại men tim mới dùng trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) đã được sử dụng tại nhiều quốc gia. Đây là protein có trọng lượng phân tử thấp, có nhiệm vụ vận chuyển axít béo từ màng tế bào đến ty lạp thể cần thiết cho quá trình oxy hóa. So với các men tim CK-MB, troponin, myoglobin được dùng trong chẩn đoán NMCTC hiện nay, H-FABP chứng minh được khả năng vượt trội về độ nhạy và độ đặc hiệu từ những giờ đầu (0 - 3 giờ) sau cơn đau ngực. H-FABP còn có ý nghĩa trong việc chẩn đoán hoại tử cơ tim sớm (3 - 6 giờ) trong NMCTC.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA HEART TYPE FATTY ACID BINDING PROTEIN TRONG CHẨN ĐOÁN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TỔNG QUAN)

Nguyễn Thanh Phong*; B i Đức Thành**; Nguyễn Hồng Sơn**

TÓM TẮT

H-FABP (heart type fatty acid binding protein) là một loại men tim mới dùng trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) đã được sử dụng tại nhiều quốc gia Đây là protein có trọng lượng phân tử thấp, có nhiệm vụ vận chuyển axít béo từ màng tế bào đến ty lạp thể cần thiết cho quá trình oxy hóa So với các men tim CK-MB, troponin, myoglobin được dùng trong chẩn đoán NMCTC hiện nay, H-FABP chứng minh được khả năng vượt trội về độ nhạy và độ đặc hiệu từ những giờ đầu (0 - 3 giờ) sau cơn đau ngực H-FABP còn có ý nghĩa trong việc chẩn đoán hoại tử cơ tim sớm (3 - 6 giờ) trong NMCTC

* Từ khóa: Cơn đau thắt ngực; H-FABP

The Value of Heart Type Fatty Acid Binding Protein in Diagnosis

of Acute Myocardial Infarction (Review)

Summary

HFABP (heart type fatty acid binding protein) is a novel biochemical marker that was used as

a indicator for diagnosis of acute myocardial infarction (AMI) in many countries These are proteins of low molecular weight that are responsible for transport of fatty acids from membrane

to mitochondria necessary for the oxidation Compared with routinely CK-MB, troponin, myoglobin used in the current diagnosis of AMI, the H-FABP possessed higher sensitivity and specificity in the early hours (within 0 - 3h) after the onset of chest pain H-FABP also has significance in the early diagnosis of myocardial necrosis (within 3 - 6h) in AMI

* Key words: Myocardial infarction; H-FABP

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguyên nhân chính của đau ngực cấp

có thể do tim, do dạ dày-thực quản, do

phổi và cơ xương khớp vùng ngực Phát

hiện và chẩn đoán sớm nguyên nhân cơn

đau ngực cấp do tim hay không do tim sẽ

có vai trò quan trọng trong việc quyết định

lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu có

thể cứu sống bệnh nhân (BN) Khoảng

40% BN với biểu hiện đau ngực cấp phải

nằm viện và chi phí tốn kém không cần thiết, phải thực hiện những xét nghiệm về tim mạch theo quy trình chẩn đoán để loại trừ cơn đau tim cấp [1] Xác định điều trị hoặc loại trừ BN đau ngực do NMCTC là một thách thức khó khăn mà bác sỹ cấp cứu rất hay gặp,đặc biệt ở BN với cơn đau ngực kiểu mạch vành, nhưng có biến đổi trên ECG không đặc hiệu [2] Trong những trường hợp này,

* Bệnh viện n Sinh TP Hồ Chí Minh

** Bệnh viện Quân y 175

Người phản hồi (Corresponding): B i Đức Thành (buiducthanh@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 20/07/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 2/11/2015

Ngày bài báo được đăng: 30/11/2015

Trang 2

chẩn đoán sớm NMCTC chủ yếu dựa vào

men tim chỉ điểm Các xét nghiệm sinh

hóa được sử dụng rộng rãi hiện nay như:

aspartate transaminase (AST), lactic

dehydrogenase-1 (LDH-1), myoglobin

(MYO), creatine kinase-MB (CK-MB),

troponin T và I (cTn-T, cTn-I) để phát hiện

tổn thương tế bào cơ tim cũng như quản

lý BN có nguy cơ cao Tuy nhiên, những

xét nghiệm này không có độ nhạy và

độ đặc hiệu cao ở giai đoạn sớm của NMCTC, đặc biệt trong 3 giờ đầu của cơn đau ngực kiểu mạch vành dai dẳng [4] Gần đây, một vài xét nghiệm được nêu ra trong chẩn đoán NMCTC như: glycogen phosphorylase BB (GP-BB), carbonic anhydrase III (CA-III), nhưng đến nay vẫn chưa được áp dụng vào lâm sàng [5]

HEART-TYPE FATTY ACID BINDING PROTEIN

H-FABP do Giáo sư Jan Glatz phát hiện vào năm 1988, là một protein có trọng lượng phân tử nhỏ (15 kDa), có nhiều trong cơ tim, cao gấp 10 lần so với trong cơ xương và chỉ có một ít ở não, thận, gan, ruột non, tuyến sữa và nhau thai [4] H-FABP được vận chuyển từ cơ tim bị tổn thương vào máu nhanh hơn so với M O, cTn-I và CK-MB Trong vòng 30 phút sau cơn đau ngực của NMCTC, men này tăng rất nhanh, nhanh hơn cả M O H-FABP đạt nồng độ đỉnh trong máu ở giờ thứ 6 sau thiếu máu

cơ tim cấp và trở về bình thường ở giờ thứ 12 - 24 Do vậy, H-FABP là một chỉ điểm cho tình trạng thiếu máu cơ tim ngay cả khi chưa có hoại tử cơ tim thật sự và là một

công cụ hữu hiệu có giá trị tiên lượng để theo dõi NMCTC tái phát [2, 8]

Bảng 1: Các chỉ điểm sinh hóa của tế bào cơ tim

Chỉ điểm

sinh hóa

Trọng lượng

ph n tử kDa) Thời gian tăng trong máu

Thời gian

đ t đỉnh bình thường Trở về Độ đặc hi u

H-FABP và M O có độ nhạy cao ở pha đầu của NMCTC, nhưng độ đặc hiệu cho tế bào cơ tim thì H-FABP trội gấp 20 lần so với myoglobin [6] H-FABP có giá trị ngay cả

ở BN có nghi ngờ NMCTC nguy cơ trung bình và thấp khi troponin âm tính [6] Đã có nghiên cứu cho thấy mức tăng của H-FABP liên quan đến diện nhồi máu [3] So với H-FABP, tính đặc hiệu của M O cho tế bào cơ tim thấp hơn, vì ngoài tim, M O còn được tiết ra từ hệ cơ xương, trong khi đó H-FABP chủ yếu tiết ra từ tế bào cơ tim và ở điều kiện bình thường, nồng độ của H-FABP trong máu rất thấp, thấp hơn nhiều so với

M O, điều này gây giảm kết quả dương tính giả của H-FABP [8]

Trang 3

Hình 1: Động lực học của H-FABP

MỘT VÀI NGHIÊN CỨU VỀ H-FABP TRONG CHẨN ĐOÁN NMCTC

- Ibrahim và CS (2010) [9] nghiên cứu trên BN có biểu hiện đau ngực cấp từ 30 phút

đến 6 giờ có nghi ngờ NMCTC, đau thắt ngực không ổn định và đau ngực không do tim vào khoa cấp cứu tim mạch, chia làm 2 nhóm: nhóm nhồi máu cơ tim có ST chênh (STEMI) và nhồi máu cơ tim không có ST chênh (NSTEMI); nhóm đau thắt ngực không

ổn định và đau ngực không do tim Kết quả cho thấy nồng độ H-FABP, MYO và

CK-MB tăng đáng kể ở sau đau ngực 0 - 3 giờ và tăng thêm sau 3 - 6 giờ ở BN NMCTC, trong khi đó troponin I tăng không đáng kể

Hình 2: So sánh nồng độ các chỉ điểm sinh hóa tế bào cơ tim sau cơn đau ngực

tại 0 - 3 giờ và 3 - 6 giờ

( MI: NMCTC; U : Đau thắt ngực không ổn định; NCCP: Đau ngực không do tim)

Trang 4

Kết quả nghiên cứu này cho thấy:

ngưỡng H-FABP để chẩn đoán NMCTC

trong trường hợp có cơn đau ngực cấp

trong vòng 3 giờ khởi phát là 21,85 ng/ml

và độ nhạy tương đương với CK-MB,

nhưng trội hơn M O, xu hướng này kéo

dài đến giờ thứ 6 của NMCTC Độ nhạy

H-FABP tại 3 giờ là 81,8%; đạt 100%

trong 3 - 6 giờ H-FABP có độ nhạy cao

hơn M O lúc 3 giờ Độ đặc hiệu của

H-FABP và M O ở nhóm không nhồi máu

cơ tim cao đáng kể tại mọi thời điểm

sau khởi phát cơn đau Độ đặc hiệu tại

3 - 6 giờ của H-FABP là 88,9% bằng MYO,

nhưng cTn-I là 77,8% và CK-MB là 94,9%

- Chen Lili và CS (2004) [4] khảo sát giá trị của H-FABP trong chẩn đoán NMCTC giai đoạn sớm so với các men tim khác

Độ nhạy và độ đặc hiệu của giá trị và vùng ngưỡng được đánh giá qua biểu đồ ROC (receiver operating characteristics) Kết quả cho thấy, giá trị H-FABP trong chẩn đoán NMCTC là 16,8 ng/ml, độ nhạy 64,29% ở 3 giờ đầu và 84,38% trong

6 giờ kể từ sau khởi phát cơn đau ngực

Độ đặc hiệu ở nhóm không nhồi máu cơ tim tại 3 giờ đầu là 100%, trong 6 giờ là 91,8% H-FABP có độ nhạy cao hơn cTnI

và CK-MB tại mọi thời điểm (p < 0,05), trong khi đó không có sự khác biệt đáng

kể về độ đặc hiệu giữa 4 loại men tim này

Hình 3: Đường cong ROC biểu thị độ nhạy và độ đặc hiệu của chỉ điểm sinh hóa

tế bào cơ tim sau cơn đau ngực tại 0 - 3 giờ và 3 - 6 giờ

Trang 5

Ở 3 giờ đầu, H-FABP có giá trị chẩn

đoán hơn cTnI, CK-MB và M O Kết quả

nghiên cứu cho thấy, H-FABP có độ nhạy

và độ đặc hiệu cao ở nhóm NMCTC giai

đoạn sớm, đặc biệt sau 3 giờ khởi phát

cơn đau ngực kiểu mạch vành dai dẳng,

H-FABP có thể được xem như một chỉ

điểm nhạy trong chẩn đoán NMCTC giai

đoạn đầu

- Trong một vài nghiên cứu khác: độ

nhạy, đặc hiệu của H-FABP và troponin

trong chẩn đoán NMCTC, ở những giờ

đầu tiên sau khởi phát cơn đau ngực đều

thấy H-FABP có độ nhạy cao và giá trị

tiên đoán âm (NPV) cao hơn Bảng 2 so

sánh kết quả của một vài nghiên cứu về

độ nhạy và độ đặc hiệu giữa H-FABP và

troponin trong chẩn đoán NMCTC

Bảng 2: Độ nhạy và độ đặc hiệu của

H-FABP và troponin trong chẩn đoán

NMCTC

Nghiên cứu

Độ nhạy

(%)

Độ đặc hiệu (%)

Độ nhạy (%)

Độ đặc hiệu (%) Ruzgar và

Gururajan và

BÀN LUẬN

Nhồi máu cơ tim là nguyên nhân chính

của tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở thế giới

hiện đại Chẩn đoán đúng và sớm rất

quan trọng để can thiệp điều trị kịp thời,

hợp lý làm giảm tỷ lệ tử vong [9] Nếu

điều trị nhồi máu cơ tim trong vòng 1 giờ

(giờ vàng) có hiệu quả sẽ giảm tỷ lệ tử

vong từ 9% xuống 3%, nếu chậm 3 - 4 giờ,

tỷ lệ tử vong có thể cao gấp 5 lần [2] Tuy nhiên, thời gian vàng để tái tưới máu vành tối ưu trong vòng 4 giờ sau khi khởi phát huyết khối tắc nghẽn vành Vì vậy, chẩn đoán sớm là quan trọng trong cơ chế bệnh sinh ở BN có biểu hiện đau ngực cấp và có ý nghĩa lâm sàng cao,

vì thời gian xuất hiện triệu chứng sẽ có tác động mạnh đến chiến lược điều trị tại bệnh viện Đáng tiếc, 1/5 số trường hợp nhồi máu cơ tim không nhận biết được qua lâm sàng, vì không có đau ngực hay biến đổi ECG đặc hiệu [8] Trong những trường hợp này, giá trị của men tim sẽ

đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán

Tim tổng hợp axít béo kém, chỉ đóng góp khoảng 0,1% quá trình tổng hợp axít béo toàn cơ thể, nhưng chiếm đến 10% tổng lượng axít béo của cơ thể H-FABP tạo nên một lượng albumin nội bào giúp vận chuyển trong nội bào axít béo không tan trong tế bào cơ [3] Về vai trò bảo vệ của H-FABP, như là kẻ tiêu hủy xác các gốc tự do và kháng lại tác động như chất tẩy rửa với nồng độ cao tại chỗ của axít béo chuỗi dài, đặc biệt trong quá trình thiếu máu [6] Giải thích về độ nhạy và độ đặc hiệu của H-FABP so với các men tim khác trong chẩn đoán NMCTC người ta cho rằng do 2 yếu tố: (i) trọng lượng phân

tử thấp hơn: H-FABP là protein nhỏ trong bào chất, có trọng lượng phân tử rất thấp (15 kDa), trong khi trọng lượng phân tử của MYO, cTn-I và CK-MB là: 18, 22 và

86 kDa; (ii) độ chênh về gradient nồng độ giữa mô và huyết tương: hàm lượng H-FABP trong tế bào cơ tim (0,52 mg/g trọng lượng ướt), thấp hơn 4,5 lần so với

M O (2,35 mg/g trọng lượng ướt), trong khi nồng độ H-FABP trong huyết tương (2,8 µg/l) thấp hơn 10 lần so với M O (30 µg/l) [7, 8] Vì vậy, độ chênh gradient

Trang 6

nồng độ giữa mô và huyết tương của

H-FABP so với M O ít nhất 2 lần Đặc

tính này cùng với tính thấm cao của

protein phân tử nhỏ qua hàng rào nội mô

khiến H-FABP xuất hiện sớm và được

phóng thích đáng kể sau khi cơ tim bị tổn

thương, ngay cả khi chưa có hoại tử cơ

tim, do vậy dễ dàng phát hiện

KẾT LUẬN

H-FABP có thể xuất hiện sớm khi có

tổn thương cơ tim trong nhồi máu cơ tim

trong vòng 3 giờ đầu và cũng có thể loại

trừ được cơn đau ngực mà nguyên nhân

không do tim H-FABP có giá trị trong

chẩn đoán sớm cơn đau ngực cấp khi so

sánh với các chỉ điểm sinh học trước đây

(cTn-I, CK-MB và M O) Kết hợp giữa

H-FABP và M O là phương pháp tốt nhất

trong chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim

Tại các khoa cấp cứu, số lượng BN

nhập viện nhiều trong một khoảng thời

gian ngắn, việc xét nghiệm giúp phân

tầng nguy cơ BN có cơn đau ngực càng

nhanh thì càng có giá trị và thuận tiện cho

việc quyết định có nên cho xuất viện sớm

Vì vậy, đã có những khuyến cáo dùng

test H-FABP bên giường bệnh, chỉ cần 4

giọt máu toàn phần ở đầu ngón tay đưa

vào que thử (test-strip), sau 15 phút có

thể cho kết quả của HFABP, cTn-I, CK-MB

và MYO [2, 4]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gorenberg M, Marmor A, Rotstein H

Detection of chest pain of non-cardiac origin

at the emergency room by a new non-invasive

device avoiding unnecessary admission to

hospital Emerg Med J 2005, 22, pp.486-489

2 Alhashemi JA Diagnostic accuracy of a

bedside qualitative immunochromatographic

test for acute myocardial infarction Am J

Emerg Med 2006, 24, pp.149-155

3 Alhadi HA, Fox KA Do we need

additional markers of myocyte necrosis: the potential value of heart fatty-acid-binding protein QJM 2004, 97, pp.187-198

4 Chen L, Guo X, Yang F Role of

heart-type fatty acid binding protein in early detection of acute myocardial infarction in comparison with cTnI, CK-MB and myoglobin

J Huazhong Univ Sci Technol Med Sci 2004,

24 (449-451), p.459

5 Loria V, Leo M, Biasillo G, Dato I, Biasucci LM Biomarkers in acute coronary

syndrome Biomark Insights 2008, 3,

pp.453-468

6 Viswanathan K, Kilcullen N, Morrell C, Thistlethwaite SJ, Sivananthan MU, Hassan

TB et al Heart-type fatty acid-binding protein

predicts long-term mortality and re-infarction

in consecutive patients with suspected acute coronary syndrome who are troponin-negative

J Am Coll Cardiol 2010, 55, pp.2590-2598

7 Weber M, Rau M, Madlener K, Elsaesser A, Bankovic D, Mitrovic V et al

Diagnostic utility of new immunoassays for the cardiac markers cTnI, myoglobin and CK-MB mass Clin Biochem 2005, 38, pp.1027-1030

8 Li CJ, Li JQ, Liang XF, Li XX, Cui JG, Yang ZJ et al Point-ofcare test of heart-type

fatty acid-binding protein for the diagnosis

of early acute myocardial infarction Acta Pharmacol Sin 2010, 31, pp.307-312

9 Ibrahim Elmadbouh, Riham Mahfouz, Noha Bayomy, Walaa Faried The value of

human heart-type fatty acid binding protein in diagnosis of patients with acute chest pain The Egyptian Heart Journal 2012, 64, pp.179-184

10 O Ruzgar, AK Bilge, Z Bugra, S Umman, E Yilmaz, B Ozben et al The use of

human heart-type fatty acid-binding protein as

an early diagnostic biochemical marker of myocardial necrosis in patients with acute coronary syndrome, and its comparison with troponin-T and creatine kinase-myocardial band Heart Vessels 2006, 21, pp.309-314

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w