1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực hành sử dụng nước sinh hoạt, nước ăn uống và nhà tiêu hợp vệ sinh tại hộ gia đình nông thôn khu vực phía Nam, năm 2012‐2013

7 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 343,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết mô tả thực hành về sử dụng nước sinh hoạt, nước ăn uống; kiến thức và thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình nông thôn, với dân số mục tiêu là các hộ gia đình nông thôn tại các xã có triển khai chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước Sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (MTQG NS & VSMT NT), trong hai năm 2012 và 2013.

Trang 1

VÀ NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH TẠI HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN  

KHU VỰC PHÍA NAM, NĂM 2012‐2013 

Đặng Ngọc Chánh*, Nguyễn Đỗ Quốc Thống*,Nguyễn Trần Bảo Thanh* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Các hệ thống và hành vi vệ sinh, nước không an toàn nằm trong nhóm các nguy cơ hàng đầu 

của gánh nặng bệnh tật toàn cầu được đo lường theo DALYs, và là nhóm nguy cơ cao thứ hai với tỷ lệ 6,3% ở  những nước đang phát triển. Tại Việt Nam, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh (40%)và tỷ 

lệ hộ nghèo (15,9%) có một khoảng chênh lệch khá lớn. Lý do gì làm cho những hộ không phải hộ nghèo không sở  hữu một nhà tiêu hợp vệ sinh? 

Mục tiêu: Mô tả thực hành về sử dụng nước sinh hoạt, nước ăn uống; kiến thức và thực hành sử dụng nhà 

tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình nông thôn 

Phương pháp: Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả. Với dân số mục tiêu là các hộ gia đình nông thôn 

tại các xã có triển khai chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước Sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (MTQG 

NS & VSMT NT), trong hai năm 2012 và 2013. Dân số chọn mẫu là các hộ gia đình trong phạm vi 1km quanh  trạm y tế xã. 

Kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cho sinh hoạt là cao (chiếm 54,6% năm 2012 và 83,8% năm 

2013); tuy nhiên chất lượng nước máy có nhiều vấn đề trong quá trình sử dụng, đặc biệt là với những hộ gia  đình được khảo sát trong năm 2013 (84,7%). Phần lớn các hộ gia đình sử dụng nước uống đóng chai hoặc nước  uống đóng bình 20 lít (32,1% năm 2012 và 55,2% năm 2013), kế đến là nước máy (27,9% năm 2012 và 32,7%  năm 2013). Tỷ lệ đại diện hộ gia đình cho biết có biết địa phương đang triển khai chương trình MTQGNS &  VSMT NT là thấp (dưới 22%). Rất ít đối tượng nêu được lợi ích lớn nhất của một nhà tiêu hợp vệ sinh là ‘diệt  được mầm bệnh có trong phân người’ (10% năm 2012 và 17,8% năm 2013). Tỷ lệ hộ gia đình có sở hữu nhà tiêu  hợp vệ sinh là thấp (44,3% năm 2013), khoảng 63% trong số này có dự định xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; tuy  nhiên, đến 51,9% hộ gia đình cho biết chỉ xây dựng khi có sự hỗ trợ tài chính từ chương trình, và 55,4% hộ gia  đình cho biết không có kế hoạch cụ thể để thực hiện. Chi phí mà những hộ gia đình này dự kiến có thể chi ra để  xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh là từ dưới năm trăm ngàn đồng cho đến dưới một triệu đồng (chiếm khoảng 89%) 

Kết luận: Nghiên cứu có nhiều hạn chế về mặt thiết kế, và tính đại diện của mẫu, vì vậy tính giá trị từ dữ kiện 

thu thập được là không cao. Dù vậy, dữ kiện thu được vẫn cho thấy một số điểm đáng lưu ý về thực hành sử dụng  nước sinh hoạt, ăn uống, nhà tiêu hợp vệ sinh tại hộ gia đình nông thôn. Mức độ tiếp cận các thông tin về các hoạt  động của chương trình MTQGNS & VSMTNT là thấp. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cho sinh hoạt, ăn  uống là cao; chất lượng nước máy nông thôn lại có nhiều vấn đề cần phải cải thiện. Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có 

sở hữu nhà tiêu hợp vệ sinh là thấp, và mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh được chấp nhận là mô hình giá rẻ. 

Từ khoá: nước sinh hoạt, nước ăn uống, nhà tiêu hợp vệ sinh, hộ gia đình nông thôn 

*Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: Ks. Nguyễn Đỗ Quốc Thống   ĐT: 0987085201  Email: thongasr@gmail.com 

Trang 2

ABSTRACT 

PRACTICE ON USING DOMESTIC WATER, DRINKING WATER, AND SANITARY LATRINES AT 

HOUSEHOLDS IN RURAL AREAS IN SOUTHERN VIETNAM, 2012‐2013 

Dang Ngoc Chanh, Nguyen Do Quoc Thong, Nguyen Tran Bao Thanh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 111 – 117 

Background: Sanitation and hygiene behavior, unsafe water is ranked as one of the leading risks for global 

burden of disease measured in disability‐adjusted life years (DALYs), and is the second leading risk accounted for  6.3 % of all burden of disease in developing countries. In Vietnam, the proportion of poor households is only 16%  but the proportion of rural households without sanitary latrines is 40%. Why can unpoor households not own  sanitary latrines? 

Objectives:To assess practice on using domestic water, drinking water and knowledge and practice on using 

sanitary latrines among residents in rural areas. 

Methods: This is a descriptive cross‐sectional study. The target population was rural households in villages 

where National Target Program on Clean Water and Rural Sanitation was implemented in 2012 – 2013. The  study population was households located within one kilometer of Commune Health Centers in these villages. 

Results:The  proportion  of  households  using  tap  water  for  daily  activities  was  high  (54.6%  in  2012  and 

83,8% in 2013)  but the  quality  of tap  water  was questionable.  Most households used  bottled water  (31,2%  in 

2012 and 55.2% in 2013) and tap water (27.9% in 2012 and 32.7% in 2013) for drinking and cooking. However,  the proportion of households aware of the National Program on Clean Water and Rural Sanitation was very low  (under 22%). The proportion of households understanding the benefit of eliminating pathogens in human faeces 

of sanitary latrines was also very low (10% in 2012 and 17.8% in 2013). Only 44.3% of the households had their  own sanitary latrines in 2013.  

Conclusion: The proportion of households accessing to information on activities of the National Program was 

low. The proportion of households using tap water for daily activities was high but its quality need to be improved.  The proportion of households with sanitary latrines was still low. Low‐cost sanitary latrines were affordable. 

Key words: domestic water, drinking water, sanitary latrines, rural households 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Các hệ thống và hành vi vệ sinh, nước không 

an toàn nằm trong nhóm các nguy cơ hàng đầu 

của gánh nặng bệnh tật toàn cầu được đo lường 

theo  DALYs  (chiếm  4,2%),  và  là  nhóm  nguy  cơ 

cao  thứ  hai  với  tỷ  lệ  6,3%  ở  những  nước  đang 

phát  triển(5).  Phân  người,  và  động  vật  không 

được xử lý hợp vệ sinh sẽ gây ra nhiều bệnh lây 

lan  qua  đường  nước  và  các  bệnh  đường  ruột 

như tiêu chảy, ký sinh trùng, v.v. Theo Tổ chức 

Y  tế  Thế  giới,  88%  số  ca  tử  vong  do  tiêu  chảy 

trên  thế  giới  là  do  các  hệ  thống  và  hành  vi  vệ 

sinh, nước không an toàn. Và hơn 99% những ca 

tử  vong  này  là  ở  các  nước  đang  phát  triển,  với 

mỗi năm bệnh tiêu chảy gây ra gần 1,7 tỷ ca, và  gây chết khoảng 760.000 trẻ em dưới 5 tuổi(6).  Tại  Việt  Nam,  theo  một  báo  cáo  của  Cục  quản lý môi trường y tế, vào thời điểm cuối năm 

2010, 45%  số hộ  gia  đình nông  thôn được  khảo  sát không có nhà tiêu(2). Đến năm 2011, báo cáo  tổng kết của giai đoạn 2 Chương trình Mục tiêu  quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông  thôn (MTQGNS & VSMT NT), cho thấy tỷ lệ hộ  gia đình nông thôn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh 

là  40%,  tỷ  lệ  hộ  gia  đình  được  cấp  nước  đạt  QCVN 02: 2009/BYT là 42%, số hộ chăn nuôi có  chuồng trại hợp vệ sinh (có giải pháp xử lý chất  thải) là 45%, số xã/thị trấn có tổ thu gom rác thải 

Trang 3

khỏe  liên  quan  đến  những  tác  nhân  gây  bệnh 

qua  con  đường  phân‐miệng.  Đối  với  khu  vực 

đồng  bằng  sông  Cửu  Long,  tỷ  lệ  hộ  gia  đình 

nông thôn có hợp vệ sinh là 54%(1). Trung bình 

bốn hộ thì có 1 hộ sử dụng chung nhà tiêu, chủ 

yếu là nhà tiêu không hợp vệ sinh (19,7%)(3). 

Thật tế cho thấy, tuy không có số liệu thống 

kê  chính  thức,  qua  nhiều  kênh  thông  tin  khác 

nhau, vẫn còn tồn tại khó khăn là dù đã có thay 

đổi về nhận thức, nhưng không có sự hỗ trợ tài 

chính từ chính phủ, các tổ chức nước ngoài, tỷ lệ 

các hộ gia đình được vận động tự bỏ tiền để xây 

dựng nhà tiêu hợp vệ sinh là không cao. Trong 

khi đó, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 12,6%, khu vực 

nông  thôn  là  15,9%,  riêng  khu  vực  đồng  bằng 

sông Cửu Long là 11,6%(4). Rõ ràng, với dữ kiện 

sẵn có (chỉ tính riêng cho khu vực nông thôn) về 

tỷ  lệ  hộ  gia  đình  chưa  có  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh 

(40%) và tỷ lệ hộ nghèo (15,9%) có một khoảng 

chênh lệch khá lớn, mặc dù sự so sánh chỉ mang 

tính tương đối vì các số liệu thống kê được lấy từ 

hai nguồn khác nhau. 

Câu  hỏi  đặt  ra  là  khoảng  chênh  lệch  không 

xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  là  vì  những 

nguyên  nhân  gì,  do  nhận  thức  chưa  thay  đổi 

(chưa thật sự nhận thấy nhu cầu gia đình cần có 

một  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh),  hay  vì  những  lý  do 

khác, thí dụ, người dân vẫn trông chờ tài trợ. Từ 

thực  trạng  này,  trong  hoạt  động  giám  sát 

Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ 

sinh  môi  trường  nông  thôn  tại  các  tỉnh  phía 

Nam, chúng tôi đã thực hiện một khảo sát trên 

các  hộ  gia  đình  tại  một  số  xã  có  triển  khai 

chương  trình  thuộc  một  số  tỉnh  khu  vực  phía 

Nam,trong hai năm 2012 và 2013. Mục tiêu là để 

thu  thập  dữ  kiện  về  thực  hành  sử  dụng  nước 

sinh hoạt, nước ăn uống, kiến thức và thực hành 

sử  dụng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  của  hộ  gia  đình 

nông thôn. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác  định  thực  hành  về  sử  dụng  nước  sinh 

hoạt, nước ăn uống của các hộ gia đình nông thôn. 

Xác định kiến thức, thực hành sử dụng nhà  tiêu hợp vệ sinh của các hộ gia đình nông thôn. 

Mô tả lý do không xây dựng nhà tiêu hợp vệ  sinh của các hộ gia đình nông thôn. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mục tiêu là hộ gia đình nông thôn tại  các xã có triển khai chương trình mục tiêu quốc  gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,  trong hai năm 2012 và 2013. Dân số chọn mẫu là  các hộ gia đình trong phạm vi 1km quanh trạm y 

tế xã. 

Đơn  vị  chọn  mẫu  là  hộ,  và  chủ  hộ  của  hộ  được  chọn  cũng  là  đơn  vị  nguyên  tố.  Trong  trường hợp chủ hộ không thể trả lời phỏng vấn 

vì già yếu, hoặc đang có bệnh cản trở khả năng  giao  tiếp,  thì  chọn  một  thành  viên  khác  là  một  người lớn có thẩm quyền trong gia đình. 

Tiêu chí đưa vào 

Hộ gia đình trong phạm vi 1km quanh trạm 

y tế xã. 

Chủ hộ hoặc đại diện chủ hộ (>18 tuổi).  Đồng ý tham gia phỏng vấn. 

Tiêu chí loại ra 

Vắng nhà vào thời điểm điều tra. 

Phương pháp nghiên cứu 

Dữ kiện được thu thập tại hai thời điểm khác  nhau theo hoạt động giám sát Chương trình mục  tiêu  quốc  gia  nước  sạch  và  vệ  sinh  môi  trường  nông  thôn.  Thực  hành  của  người  dân  được  phỏng  vấn  tại  hộ  gia  đình  được  chọn  bằng  bộ  câu hỏi soạn sẵn, đối tượng phỏng vấn là chủ hộ  hoặc đại diện chủ hộ (>18 tuổi). 

Cỡ mẫu 

Năm 2012: 240 hộ gia đình (tại 8 tỉnh là An  Giang,  Đồng  Tháp,  Cần  Thơ,  Vĩnh  Long,  Tiền  Giang,  Bến  Tre,  Bình  Phước,  Tây  Ninh;  tại  mỗi  tỉnh khảo sát 30 hộ gia đình tại một xã của một  huyện có triển khai chương trình). 

Trang 4

Năm 2013: 600 hộ gia đình (tại 6 tỉnh là Kiên 

Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Long An, Cà Mau, 

Bạc Liêu; tại mỗi tỉnh khảo sát 60 hộ gia đình tại 

hai xã của một huyện có triển khai chương trình). 

Dữ kiện được nhập bằng phần mềm Epidata 

3.1,  và  phân  tích  bằng  phần  mềm  Stata  10.Số 

thống kê mô tả gồm tần số và phần trăm. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Bảng 1: Những đặc tính của mẫu khảo sát tại hộ gia đình 

Đặc tính

Tần số (%)

Năm 2012 (n = 240)

Năm 2013 (n = 600)

Tuổi

Giới

Dân tộc

Tôn giáo

Trình độ học vấn

Trung cấp, cao

Nghề nghiệp

Doanh nghiệp kinh

Đa số đối tượng được khảo sát nằm trong độ  tuổi từ trên 30 đến 50 tuổi, phần lớn là dân tộc  Kinh  (năm  2012  chiếm  100%,  và  năm  2013  là  99,5% số đối tượng khảo sát). Về tôn giáo, năm 

2012 số đối tượng có tôn giáo là Phật giáo chiếm 

đa số (62,5%), sau đó là thờ tổ tiên (24,2%); trong  khi  năm  2013  thì  ngược  lại,  thờ  tổ  tiên  chiếm  81,7%,  và  Phật  giáo  chiếm  12,3%.  Trình  độ  học  vấn, chiếm tỷ lệ cao nhất là cấp hai (chiếm 37,1%  năm 2012, và 55,7% năm 2013), kế đến là cấp một  (chiếm 35% năm 2012 và 32,1% năm 2013), tỷ lệ  đối  tượng  mù  chữ  là  thấp  (2,9%  năm  2012  và  2,2% năm 2013), tương tự như vậy đối với tỷ lệ  đối tượng có trình độ học là trung cấp, cao đẳng,  hay  đại  học.  Về  nghề  nghiệp,  chủ  yếu  là  lao  động phổ thông (chiếm 32,5% năm 2012 và 67%  năm  2013)  hoặc  buôn  bán  nhỏ  lẻ  (40,4%  năm 

2012 và 17,5% năm 2013, sự phân bố đặc tính đối  tượng  này  một  phần  do  địa  điểm  chọn  hộ  gia  đình để khảo sát là gần trạm y tế xã, nơi có mật 

độ  dân  cư  tương  đối  đông,  hoạt  động  kinh  doanh mua bán là phổ biến (Bảng 1). 

Bảng 2:Thực hành sử dụng nước sinh hoạt, nước ăn 

uốngtại các hộ gia đình 

Tiêu chí

Tần số (%)

Năm 2012

n = 240

Năm 2013

n = 600

Nguồn nước dùng cho sinh hoạt

Chất lượng nước máy có

Nguồn nước dùng để ăn uống

Có xử lý nước trước khi sử

Trang 5

Tiêu chí

Tần số (%)

Năm 2012

n = 240

Năm 2013

n = 600

Giải pháp xử lý nước

Đối  với  thực  hành  sử  dụng  nước  tại  hộ  gia 

đình, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ hộ gia đình 

sử  dụng  nước  máy  cho  sinh  hoạt  là  cao  (chiếm 

54,6%  năm  2012  và  83,8%  năm  2013),  kế  đến  là 

sử  dụng  nước  giếng  khoan  (chiếm  27,1%  năm 

2012 và 15,3% năm 2013), tỷ lệ hộ gia đình dùng 

nước sông hay nước mưa cho sinh hoạt là thấp 

(dưới 2%). Tuy vậy, một điểm đáng lưu ý là đối 

với những hộ gia đình có sử dụng nước máy, tỷ 

lệ cho biết chất lượng nước máy có vấn đề trong 

quá trình sử dụng là cao, đặc biệt là với những 

hộ  gia  đình  được  khảo  sát  trong  năm  2013 

(84,7%),  tỷ  lệ  này  trong  năm  2012  là  40,5%. 

Những  vấn  đề  thường  gặp  là  nước  bị  đục,  có 

màu vàng (do sắt), có mùi lạ, trong đó tỷ lệ nước 

bị  đục  khá  cao  trên  80%  (88,7%  năm  2012  và 

83,7% năm 2013). 

Đối  với  nguồn  nước  ăn  uống,  đa  số  hộ  gia 

đình  sử  dụng  nước  uống  đóng  chai  hoặc  nước 

uống đóng bình 20  lít  cho ăn  uống (32,1% năm 

2012  và  55,2%  năm  2013),  kế  đến  là  nước  máy 

(27,9%  năm  2012  và  32,7%  năm  2013),  nước 

giếng khoan hay nước mưa. Tuy nhiên, tỷ lệ có 

xử  lý  nước  trước  khi  dùng  để  ăn  uống  là  thấp 

(47,5% năm 2012 và 25,9% năm 2013). Đáng chú 

ý là tỷ lệ đối tượng cho biết luôn luôn xử lý nước 

trước khi sử dụng là thấp (dưới 18%). Mặt khác, 

biện  pháp  xử  lý  nước  được  dùng  phổ  biến  là 

đun  sôi  (chiếm  79,8%  năm  2012  và  91,6%  năm 

2013),  những  biện  pháp  xử  lý  khác  như  lắng 

phèn,  lọc  hay  dùng  chất  khử  trùng  nước  là  ít. 

Trong  khi  đó,  như  kết  quả  khảo  sát  về  chất 

lượng  nguồn  nước  trong  bảng  1,  nước  máy  có 

rất nhiều vấn đề về độ đục, cặn bẩn, và chỉ xử lý 

đơn thuần bằng đun sôi là không có tác dụng. 

Bảng 3:Kiến thức, thực hành sử dụng nhà tiêu hợp 

vệ sinh tại các hộ gia đình 

Tiêu chí

Tần số (%)

Năm 2012

n = 240

Năm 2013

n = 600 Biết địa phương đang tham

gia thực hiện Chương trình

MTQG NS&VSMT NT

Từ nhân viên Ủy ban nhân

Những lợi ích của nhà tiêu hợp vệ sinh

Ngăn động vật, côn trùng tiếp

Diệt được mầm bệnh trong

Không làm ô nhiễm môi

Nơi đi tiêu hiện nay của gia đình

Đi nhờ nhà tiêu hợp vệ sinh

Nhà tiêu hợp vệ sinh của gia

Lý do không xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh

Có dự định xây nhà tiêu hợp

Thời điểm dự kiến xây dựng hay cải tạo nhà tiêu

Chỉ khi nhận được sự hỗ trợ

Số tiền dự kiến có thể chi cho việc xây nhà tiêu

Một trong những mục tiêu của Chương trình  MTQG  NS  &  VSMT  NT  là  nâng  cao  tỷ  lệ  sử  dụng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  tại  các  hộ  gia  đình  nông  thôn,  thông  qua  các  hoạt  động  truyền 

Trang 6

thông giáo dục sức khỏe, và sự trợ cấp tài chính. 

Tuy  nhiên,  một  điểm  đáng  ghi  nhận  từ  cuộc 

khảo sát trong hai năm 2012, và 2013 là tỷ lệ đại 

diện  hộ  gia  đình  cho  biết  có  biết  rằng  địa 

phương đang tham gia chương trình MTQG NS 

& VSMT NT là thấp (dưới 22%). Khi được hỏi về 

những  lợi  ích  của  một  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh, 

phần  lớn  đối  tượng  chỉ  trả  lời  chung  chung  là 

không  làm  ô  nhiễm  môi  trường  (chiếm  đến 

khoảng  69%  trong  cả  hai  năm),  tỷ  lệ  đối  tượng 

biết  rằng  lợi  ích  lớn nhất  của  một  nhà  tiêu hợp 

vệ  sinh  là  diệt  được  mầm  bệnh  có  trong  phân 

người  là  thấp  (10%  năm  2012  và  17,8%  năm 

2013). 

Về thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, 

tỷ  lệ  có  sở  hữu  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  là  thấp 

(44,3%  năm  2013),  chưa  đạt  mục  tiêu  chương 

trình đặt ra là 65% hộ gia đình nông thôn có nhà 

tiêu  hợp  vệ  sinh.  Kết  quả  khảo  sát  trong  năm 

2012  cho  thấy  có  đến  88,8%  hộ  gia  đình  có  sở 

hữu  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh,  tỷ  lệ  này  là  cao,  tuy 

nhiên, đặc tính của mẫu trong năm 2012 là tỷ lệ 

hộ gia đình buôn bán nhỏ lẻ (gần chợ của xã, thị 

trấn)  chiếm  tỷ  lệ  tương  đối  cao  (40,4%),  và  đây 

cũng  có  thể là một  yếu tố  tác động đến  việc  sở 

hữu nhà tiêu hợp vệ sinh của các hộ gia đình. 

Về  lý  do  không  xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ 

sinh, kết quả khảo sát năm 2012 cho thấy lý do 

lớn  nhất  là  không  biết  kỹ  thuật  xây  dựng 

(81,5%), thấy không cần thiết (14,8%); trong năm 

2013  là  do  không  có  tiền  (59,0%),  cảm  thấy 

không  cần  thiết  (38,6%).  Một  điểm  đáng  ghi 

nhận là đối với những hộ gia đình chưa có nhà 

tiêu hợp vệ sinh, có đến khoảng 63% có dự định 

xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh;  tuy  nhiên,  đến 

51,9% hộ gia đình cho biết chỉ xây dựng khi có 

sự hỗ trợ tài chính từ chương trình, và 55,4% hộ 

gia  đình  cho  biết  không  có  kế  hoạch  cụ  thể  để 

thực hiện, và số tiền mà những hộ gia đình này 

dự kiến có thể chi ra để xây dựng nhà tiêu hợp 

vệ sinh là từ dưới năm trăm ngàn đồng cho đến 

dưới một triệu đồng (chiếm khoảng 89%). 

BÀN LUẬN 

Phần  lớn  đối  tượng  đại  diện  hộ  gia  đình  được  khảo  sát  là  người  Kinh,  đây  là  một  điểm  thuận  lợi  cho  các  hoạt  động  truyền  thông  giáo  dục  sức  khỏe  của  chương  trình;  số  đối  tượng  trong độ tuổi từ trên 30 đến dưới 50 là cao, đây  vừa là điểm thuận lợi do những đối tượng này 

có  thể  đóng  góp  nhiều  về  tài  chính  trong  gia  đình,  mặt  khác  lại  là  một  trở  ngại  khi  có  khả  năng khoảng thời gian có mặt tại hộ gia đình là  không  nhiều,  các  hoạt  động  truyền  thông  giáo  dục sức khỏe khó tiếp cận được. 

Đối  với  thực  hành  sử  dụng  nước  tại  hộ  gia  đình,  điểm  nổi  bật  là  chất  lượng  nước  máy  có  vấn đề trong quá trình sử dụng là cao, đặc biệt là  với những hộ gia đình được khảo sát trong năm 

2013 (84,7%), tỷ lệ này trong năm 2012 là 40,5%.  Kết quả này phần nàophản ánh chất lượng nước  cấp nông thôn là chưa tốt, cần phải cải thiện để  khuyến khích  người  dân  sử  dụng nước  cấp,  và  sau đó là phòng ngừa bệnh, nâng cao sức khỏe  cộng đồng. 

Đối với nguồn nước ăn uống, các hộ gia đình  được khảo sát chủ yếu sử dụng nước uống đóng  chai hoặc nước uống đóng bình 20 lít, kế đến là  nước máy. Tuy nhiên, tỷ lệ có xử lý nước trước  khi dùng để ăn uống là thấp (47,5% năm 2012 và  25,9% năm 2013), và biện pháp xử lý nước được  dùng phổ biến là đun sôi (chiếm 79,8% năm 2012 

và 91,6% năm 2013), những biện pháp xử lý khác  như  lắng  phèn,  lọc  hay  dùng  chất  khử  trùng  nước  là  ít.  Trong  khi  đó,  cũng  theo  những  đối  tượng này, chất lượng nước máy có vấn đề về độ  đục, cặn, màu vàng do sắt như đã nêu ở trên là  một quan ngại đối với sức khỏe. 

Tính hiệu quả của các hoạt động truyền thông  giáo dục sức khỏe từ chương trình MTQG NS &  VSMT NT, mức độ các thông tin từ những hoạt  động này đến được với các hộ gia đình nông thôn 

là những điểm cần lưu ý (tỷ lệ đối tượng cho biết 

có biết rằng địa phương đang triển khai chương  trình  MTQG  NS  &  VSMT  NT  là  thấp  với  chỉ 

Trang 7

góp  phần  vào  những  kết  quả  không  tốt  về  kiến 

thức, thực hành đối với nhà tiêu hợp vệ sinh. Nổi 

bật là hầu hết đối tượng không nêu được lợi ích 

lớn  nhất  của  một  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  là  diệt 

được  mầm  bệnh  có  trong  phân  người  là  thấp 

(10%  năm  2012  và  17,8%  năm  2013).  Tỷ  lệ  có  sở 

hữu nhà tiêu hợp vệ sinh là thấp, chưa đạt mục 

tiêu chương trình đặt ra là 65% hộ gia đình nông 

thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh. Lý do không sở hữu 

một  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  chủ  yếu  là  không  có 

tiền, và thấy không cần thiết. Điểm tích cực là đối 

với  những  hộ  gia  đình  chưa  có  nhà  tiêu  hợp  vệ 

sinh,  có  đến  khoảng  63%  có  dự  định  xây  dựng 

nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh,  tức  là  đã  phần  nào  có  sự 

thay  đổi  về  nhận  thức;  tuy  nhiên,  đến  51,9%  hộ 

gia đình cho biết chỉ xây dựng khi có sự hỗ trợ tài 

chính từ chương trình, chi phí dự kiến có thể chi 

ra  để  xây  dựng  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  là  từ  dưới 

năm  trăm  ngàn  đồng  cho  đến  dưới  một  triệu 

đồng (chiếm khoảng 89%). 55,4% hộ gia đình cho 

biết không có kế hoạch cụ thể để thực hiện, cho 

thấy khả năng thực sự những hộ gia đình này sẽ 

xây một nhà tiêu hợp vệ sinh trong tương lai gần 

là không cao. 

Cuối cùng, tính giá trị của dữ kiện thu thập 

được từ cuộc khảo sát là hạn chế. Có nhiều lý do, 

thứ nhất là cỡ mẫu tuy lớn, nhưng mẫu là không 

đại diện cho tất cả những hộ gia đình nông thôn, 

vì  những  khu  vực  được  khảo  sát  là  tập  trung 

quanh  trạm  y  tế  xã,  gần  chợ  của  xã/thị  trấn, 

nhiều khả năng mẫu được chọn không đại diện 

cho những hộ gia đình ‘đặc trưng’ nông thôn. Vì 

vậy, những dữ kiện được thể hiện trong bài báo 

này chỉ mang tính tham khảo. 

KẾT LUẬN 

Cuộc khảo sát có nhiều hạn chế về mặt thiết 

kế, và tính đại diện của mẫu, vì vậy tính giá trị 

từ dữ kiện thu thập được là không cao. Dù vậy, 

dữ  kiện  thu  được  vẫn  cho  thấy  một  số  điểm 

đáng  lưu  ý  về  thực  hành  sử  dụng  nước  sinh 

hoạt,  ăn  uống,  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  tại  hộ  gia 

đình nông thôn. Thứ nhất,tính hiệu quả của các  hoạt  động  truyền  thông  giáo  dục  sức  khỏe  từ  chương  trình  MTQG  NS  &  VSMT  NT,  mức  độ  các thông tin từ những hoạt động này đến được  với các hộ gia đình nông thôn là thấp. Thứ hai, 

tỷ  lệ  hộ  gia  đình  sử  dụng  nước  máy  cho  sinh  hoạt, ăn uống là cao, tuy nhiên chất lượng nước  máy  lại  có  nhiều  vấn  đề  cần  phải  cải  thiện;  và  những giải pháp xử lý nước tại hộ gia đình chủ  yếu  là  đun  sôi,  trong  những  hoạt  động  truyền  thông giáo dục sức khỏe cần khuyến cáo người  dân dùng những phương pháp xử lý mang tính 

‘hỗ trợ’ khác trước khi đun sôi như lắng, lọc, v.v.  Thứ  ba,  tỷ  lệ  hộ  gia  đình  nông  thôn  có  sở  hữu  nhà tiêu hợp vệ sinh là thấp, chưa đạt mục tiêu  chương  trình  đặt  ra  là  65%  hộ  gia  đình  nông  thôn  có  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh;  và  đa  phần  đối  tượng cho biết chỉ xây dựng khi có sự hỗ trợ tài  chính từ chương trình, không có kế hoạch cụ thể 

để  thực  hiện.  Thứ  tư,  mô  hình  nhà  tiêu  hợp  vệ  sinh  phù  hợp  với  các  hộ  gia  đình  nông  thôn  là 

mô hình giá rẻ. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011). Báo cáo tổng  kết giai đoạn 2 chương trình MTQG NSVSMTNT. Hà Nội. Tr. 

5. 

2 Cục quản lý môi trường y tế (2012). Báo cáo đánh giá lĩnh vực  cấp nước và vệ sinh môi trường Việt Nam. Hà Nội. Tr. 16. 

3 Tổng cục thống kê (2011). Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ 

em và phụ nữ. Hà Nội. Tr. 117. 

4 Tổng cục thống kê (2011). Niên giám thống kê 2011. Hà Nội. 

Tr. 676. 

5 World  Health  Organization  (2009).  Global  health  risks.  Mortality and burden of disease attributable to selected major  risks. Geneva. Pp. 12‐23. 

6 World  Health  Organization  (2010).  Diarrhoeal  disease.  http:  //www.who.int/mediacentre/factsheets/fs330/en/.  Accesed  on  19/3/2014.  

  Ngày nhận bài báo:       14/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   18/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w