1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thay đổi một số chỉ số sinh lý và hóa sinh trên bệnh nhân đau thắt lưng được điều trị bằng điện châm

9 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 174,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến điện châm trên cơ thể người bệnh, qua đó cho phép đánh giá khách quan hiệu quả của điện châm trong điều trị, bái viết tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Xác định sự biến đổi một số chỉ số sinh lý và hóa sinh ở bệnh nhân (BN) đau thắt lưng dưới ảnh hưởng của điện châm.

Trang 1

THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH LÝ VÀ HÓA SINH

TRÊN BỆNH NHÂN ĐAU THẮT LƯNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐIỆN CHÂM

Phạm Hồng Vân 1 ; Lê Văn Quân 2

TÓM TẮT

Mục tiêu: xác định biến đổi một số chỉ số sinh lý và hóa sinh ở bệnh nhân đau thắt lưng dưới ảnh hưởng của điện châm Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu 90 bệnh nhân đau thắt lưng được điều trị bằng điện châm các huyệt trong một liệu trình điều trị 7 ngày điện châm Kết quả:

kết quả thay đổi các chỉ số hóa sinh cho thấy điện châm làm tăng hàm lượng chất trung gian hóa học tham gia vào cơ chế chống đau gồm β-endorphin, adrenalin, noradrenalin sau 1 ngày

và 7 ngày điều trị Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số của công thức máu, chức năng gan, thận và chỉ số sinh lý (mạch, huyết áp, nhịp thở) trên bệnh nhân

giữa trước và sau điều trị Kết luận: điện châm là phương pháp an toàn và có hiệu quả trong

điều trị bệnh đau thắt lưng

* Từ khóa: Đau thắt lưng; Điện châm; Chỉ số sinh hóa, hóa sinh

Changes in some Physiological and Biochemical Parameters in Patients with Chronic Low Back Pain Treated by Acupunture

Summary

Objectives: To investigate changes of some physiological and biochemical parameters in patients with chronic low back pain underlying acupunture treatments Subjects and methods:

90 chronic low back pain patients were treated by acupunture on 7 consecutive days Results: There were significant increases in serum concentrations of β-endorphin, adrenalin, noradrenalin at the first day and seventh day after treatment, in compared to those before treatment However, there were no significant differences in hematological indices and some physiological parameters (pulses, blood pressures and respiratory rates) between before and after treatment

in these patients Conclusion: Acupunture is a safe and effective method to patients with chronic low back pain

* Keywords: Chronic low back pain; Acupunture; Physiological and biochemical parameters

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt lưng là chứng đau phổ biến

nhất do nhiều nguyên nhân gây ra và hay

tái phát Ở Việt Nam, đau thắt lưng chiếm

tỷ lệ 2% trong cộng đồng, 6% trong tổng

số các bệnh xương khớp, chủ yếu tập trung ở độ tuổi lao động (từ 18 - 50 tuổi) [1]

1 Bệnh viện Châm cứu TW

2 Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Lê Văn Quân (levanquan2002@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 03/04/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/09/2018

Ngày bài báo được đăng: 25/09/2018

Trang 2

Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt

lưng có tên gọi là chứng “Yếu thống",

được mô tả rất rõ trong y văn cổ, bao

gồm các thể thận hư, thể phong hàn thấp

và thể huyết ứ [6, 9]

Về điều trị đau thắt lưng, cả Y học hiện

đại (YHHĐ) và YHCT đều hướng tới mục

tiêu giảm đau, tránh đau kéo dài để trở

thành đau mạn tính, ảnh hưởng đến cuộc

sống và sinh hoạt của người bệnh YHHĐ

điều trị đau thắt lưng chủ yếu bằng

phương pháp nội khoa bảo tồn, dùng các

thuốc giảm đau, giãn cơ YHCT cũng có

những phương pháp điều trị đau thắt lưng

như dùng thuốc thang sắc uống hay các

phương pháp không dùng thuốc như

châm cứu, bấm huyệt

Điện châm là phương pháp điều trị kết

hợp giữa tác dụng của châm theo YHCT

với tác dụng kích thích của xung điện lên

huyệt vị đã khẳng định được hiệu quả

không những làm giảm đau mà còn

nhanh chóng khôi phục lại tầm vận động

cột sống, góp phần không nhỏ vào điều trị

chứng đau thắt lưng Nhằm tìm hiểu các

yếu tố liên quan đến điện châm trên cơ

thể người bệnh, qua đó cho phép đánh

giá khách quan hiệu quả của điện châm

trong điều trị, chúng tôi tiến hành đề tài

nghiên cứu với mục tiêu: Xác định sự

biến đổi một số chỉ số sinh lý và hóa sinh

ở bệnh nhân (BN) đau thắt lưng dưới ảnh

hưởng của điện châm

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

BN tuổi ≥ 30, không phân biệt giới tính,

điều trị tại Bệnh viện Châm cứu TW được

chẩn đoán là đau thắt lưng do thoái hóa

cột sống theo YHHĐ và đau thắt lưng thể thận hư theo YHCT

* Tiêu chuẩn chọn BN:

- Theo YHHĐ: BN đau vùng thắt lưng, tuổi ≥ 30 Ấn điểm đau cạnh sống đau và vận động cột sống hạn chế

- Dấu hiệu Schober tư thế đứng

≤ 13/10 cm

- X quang thường quy: có hình ảnh thoái hóa cột sống

- Theo YHCT: BN đau thắt lưng thể thận

hư với các triệu chứng: đau mỏi vùng ngang thắt lưng, đau mạn tính lâu ngày,

ê ẩm, đau nhiều về đêm, nằm nghỉ đỡ đau,

BN thích xoa bóp, ngại vận động Mỏi gối

Chất lưỡi nhạt màu, rêu lưỡi mỏng Mạch trầm tế

* Tiêu chuẩn loại trừ:

BN đau thắt lưng không thuộc thể thận

hư theo các tiêu chuẩn của YHHĐ và YHCT, đau thắt lưng có kèm theo các bệnh mạn tính khác, từ chối tham gia nghiên cứu hoặc không tuân thủ theo quy trình điều trị

2 Phương pháp nghiên cứu

* Thiết kế nghiên cứu:

Tiến cứu, mô tả có so sánh trước - sau điều trị Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tự đối chứng, cỡ mẫu 90 BN được điều trị bằng điện châm tả các huyệt Đại trường du, Giáp tích L1-L5, Uỷ trung, Thứ liêu, Hoàn khiêu, Trật biên, Dương lăng tuyền, châm bổ huyệt Thận du liệu trình 7 ngày điện châm

* Chỉ tiêu nghiên cứu và cách xác định:

- Mạch, huyết áp, nhịp thở: xác định tại

3 thời điểm: ngày vào viện (N0), sau điện

Trang 3

châm 1 ngày (N1) và sau 7 ngày điều trị

(N7) bằng máy Datascope (Nhật Bản)

- Các chỉ số hóa sinh (hàm lượng

β-endorphin, adrenalin, noradrenalin)

trong máu BN tại các thời điểm trước điều

trị, sau 1 lần điều trị và sau 7 ngày điều trị

bằng máy Biosence (Mỹ) bằng phương

pháp miễn dịch huỳnh quang

- Các chỉ số huyết học (số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, nồng độ ure, creatinin, AST, ALT) trong máu BN tại các thời điểm trước và sau điều trị bằng máy Tokyo Boeki Biolis 50I (Nhật Bản)

* Xử lý số liệu: bằng phương pháp

thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Để chứng minh một cách khoa học, khách quan hiệu quả của điện châm trong điều trị bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu biến đổi một số chỉ số hóa sinh dưới tác dụng điện châm các huyệt Các chỉ số nghiên cứu gồm hàm lượng chất trung gian hoá học tham gia vào cơ chế chống đau như catecholamin, β-endorphin; các chỉ số huyết học (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và chỉ số hoá sinh đánh giá chức năng gan, thận (AST, ALT, ure, creatinin) trong máu BN tại các thời điểm trước điều trị, sau 1 lần điều trị và sau 7 ngày điều trị

Bảng 1: Biến đổi hàm lượng catecholamin trong máu BN dưới ảnh hưởng của điện

châm (n = 30)

Thời điểm nghiên cứu Chỉ số nghiên cứu

Catecholamin (thuật ngữ chỉ cả adrenalin,

noradrenalin và dopamin) thuộc hệ

adrenergic, là những chất trung gian hóa

học dẫn truyền thần kinh có nguồn gốc từ

axít amin tyrosin và cơ chế chống đau của

cơ thể đã được chứng minh [4, 7, 8]

Sau điều trị lần thứ nhất, hàm lượng

adrenalin tăng từ 48,37 pg/ml lên 49,86 pg/ml,

noradrenalin tăng từ 342,35 pg/ml lên

366,87 pg/ml Sau 7 ngày điều trị, hàm lượng noradrenalin có tăng tuy không nhiều

Sự khác biệt theo hàm lượng catecholamin sau điện châm, sau đợt điều trị so với trước điện châm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Bài tiết noradrenalin nhiều là do nơ ron nằm trong não, vùng dưới đồi, cầu não theo các sợi trục lan tỏa lên vỏ não góp

Trang 4

phần hoạt hóa và giúp cho vỏ não kiểm

soát hoạt động chung Phần lớn sợi hậu

hạch giao cảm bài tiết noradrenalin có tác

dụng kích thích lên một số cơ quan này

nhưng lại ức chế một số cơ quan khác

Noradrenalin giải phóng trực tiếp vào mô

chỉ có tác dụng trong vài giây, chứng tỏ

sự tái nhập và khuếch tán của nó xảy ra

nhanh Tuy vậy, noradrenalin và adrenalin

do tuỷ thượng thận giải phóng vào máu

vẫn còn tác dụng chừng nào chúng tới

mô và rồi bị enzym COMT phá huỷ (chủ yếu

ở gan) Khi giải phóng vào máu, adrenalin

và noradrenalin vẫn còn tác dụng mạnh

trong 10 - 30 giây, giảm dần sau một đến

vài phút [7, 8]

Cơ chế tác dụng của điện châm theo

thuyết phản xạ thần kinh thể dịch tạo ra

3 loại phản ứng: tại chỗ, tiết đoạn, toàn

thân Kích thích của điện châm được dẫn

truyền theo thần kinh tạo ra các cung phản

xạ ức chế phản xạ bệnh lý Việc tăng chất

dẫn truyền thần kinh sau điện châm chứng

tỏ hệ thần kinh tự chủ (hệ thần kinh thực

vật) đã được hoạt hóa Hoạt hóa hệ thần

kinh tự chủ trong điện châm đã được

nhiều tác giả đề cập Một số nghiên cứu về

điện châm đều thấy hàm lượng acetylcholin

và catecholamin trong máu tăng cao sau

30 phút điện châm Các tác giả còn thấy

hàm lượng acetylcholin tăng nhiều hơn

so với tăng hàm lượng catecholamin, dẫn

tới nhịp tim và huyết áp giảm rõ rệt [3, 4]

Như vậy, hàm lượng adrenalin và

noradrenalin tăng sau điều trị lần một và

sau điều trị 7 ngày, theo chúng tôi là do

dưới tác dụng kích thích huyệt qua kim

châm cứu của xung điện tạo ra từ máy

điện châm đã làm hoạt hoá hệ thần kinh

tự chủ (hệ thần kinh thực vật) theo cơ chế thần kinh thể dịch Hiện tượng điện châm làm tăng hàm lượng catecholamin máu cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan sát thấy trên người và trên động vật thực nghiệm [4, 7, 8] Catecholamin là chất tham gia kiểm soát cảm giác đau, do đó tạo được trạng thái giảm đau Các tác giả cho rằng điện châm gây ra các xung động

từ huyệt truyền về thần kinh trung ương, gây phản ứng thần kinh thể dịch sản sinh

ra chất hóa học có tác dụng giảm đau như endorphin, catecholamin, serotonin Ngoài tác dụng giảm đau, catecholamin còn phối hợp với các chất trung gian hóa học khác tham gia điều hòa chức năng của nhiều hệ thống cơ quan khác nhau, như hệ nội môi, tuần hoàn, tiêu hóa, chuyển hóa, nội tiết, thần kinh và cả

hệ miễn dịch, tạo trạng thái “cân bằng âm-dương” theo quan niệm của y học phương Đông [7, 8, 9]

Bảng 2: Biến đổi hàm lượng β-endorphin

trong máu BN dưới ảnh hưởng của điện châm (n = 30)

Thời điểm nghiên cứu

Hàm lượng β-endorphin

(pg/ml) 58,12 ±

10,34

63,39 ± 12,57

67,25 ± 13,26

p p 1-2 < 0,05 p 1-3 < 0,001 p 2-3 < 0,05

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu, cơ chế chống đau của cơ thể con người theo hai con đường thần kinh và thần kinh - thể dịch Trong chống đau theo con đường thần kinh - thể dịch, các chất trung gian hoá học giữ một vai trò

Trang 5

đặc biệt quan trọng Việc tìm ra các thụ thể

(receptor) đặc hiệu của opium ở não vào

năm 1973 của Simond E.J và Snyder H

cho thấy có các loại micro-receptor (µ),

beta (δ), kapa (k) Chất tác động chủ yếu

lên µ-receptor là β-endorphin, enkephalin

Các µ-receptor được phân bố chủ yếu ở đồi

thị (thalamus), vùng dưới đồi (hypothalamus),

thân não, tuỷ sống, hồi tràng (đám rối

Auerbach) Các chất tiếp nhận µ-receptor

opiat này có tác dụng giảm đau mạnh,

giảm hô hấp, giảm nhịp tim, hạ huyết áp,

an thần Chúng là các neuropeptit nội

sinh có tác dụng chính là giảm đau và

được đặt tên là endomorphin (morphin

nội sinh)

Cùng với tăng hàm lượng catecholamin

(bảng 2), hàm lượng β-endorphin trong

máu cũng tăng lên có ý nghĩa thống kê

(p < 0,01) dưới tác dụng của điện châm

Trước điều trị, hàm lượng β-endorphin

trung bình trong máu của BN là 58,12 ±

10,34 pg/ml, sau điều trị lần một tăng lên

63,39 ± 12,57 pg/ml (p < 0,05) và sau 7 ngày

điều trị tăng lên tới 67,25 ± 13,26 pg/ml

Sự khác biệt về hàm lượng β-endorphin

trong máu trước và sau điều trị có ý nghĩa

thống kê (p < 0,01)

β-endorphin là một trong những chất

sinh học tham gia trong hệ thống giảm

đau của cơ thể Xung điện tạo ra từ các

huyệt bị kích thích bằng điện châm truyền

tới những vùng có khả năng làm mất cảm

giác đau ở trên não Tín hiệu này truyền

tới sừng sau tủy sống, kích thích tuyến

yên và tế bào não bài tiết enkephalin và

endorphin Hai chất này ức chế bài tiết

chất P và gây ra ức chế trước khớp thần kinh, do đó chặn đường dẫn truyền cảm giác đau qua sợi Aδ và sợi C [7, 8, 9, 10] Như vậy, hàm lượng β-endorphin tăng lên trong máu dưới tác dụng điện châm các huyệt góp phần chứng minh giả thuyết về cơ chế chống đau của châm cứu là sự kết hợp của hai cơ chế, đó là

ức chế dẫn truyền cảm giác đau của tín hiệu xúc giác và hoạt hóa hệ thống giảm đau của cơ thể dẫn tới bài tiết opiat nội sinh [2, 10] Hàm lượng β-endorphin trong máu BN tăng dần tại các thời điểm nghiên cứu chứng tỏ tác dụng của điện châm theo con đường thần kinh - thể dịch Điện châm có tác dụng hoạt hoá hệ thống chống đau trong cơ thể sản xuất ra chất trung gian hoá học thuộc hệ thống chống đau của cơ thể, từ đó gây ra tác dụng giảm đau trên lâm sàng

Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh tác dụng của điện châm làm tăng β-endorphin trong máu Chủ yếu là những nghiên cứu thuộc lĩnh vực châm

tê, điện châm hỗ trợ cai nghiện ma túy, châm giảm đau Các tác giả đều cho rằng hàm lượng β-endorphin trong máu tăng lên sau điều trị bằng điện châm, châm tê…, phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi [7, 8, 10, 11]

Các dẫn liệu thu được trong công trình này cho phép chúng tôi đứng về thuyết thần kinh - thể dịch để giải thích tác dụng của phương pháp điện châm với vai trò biến đổi của hàm lượng β-endorphin, catecholamin trong máu

Trang 6

Bảng 3: Biến đổi một số chỉ số huyết học dưới ảnh hưởng của điện châm (n = 90)

Thời điểm nghiên cứu

Chỉ tiêu nghiên cứu

N0 (1) N7 (2) Người bình thường (3)

Không có khác biệt về các chỉ số huyết học (số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu)

giữa các thời điểm trước và sau điều trị ở BN đau thắt lưng (p > 0,05)

Kết quả nghiên cứu về chỉ số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu trong máu ngoại vi của

BN dưới tác dụng điện châm các huyệt cho thấy tại thời điểm trước và sau 7 ngày điều trị, các chỉ số này biến đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Chứng tỏ điện châm không ảnh hưởng đến chỉ số huyết học của người bệnh Kết quả này tương tự nghiên cứu của nhiều tác giả về điều trị một số chứng đau bằng phương pháp châm [7, 8]

Bảng 4: Biến đổi một số chỉ số sinh hóa dưới ảnh hưởng của điện châm (n = 90)

Người bình thường (3) Thời điểm nghiên cứu

Chỉ tiêu nghiên cứu N0 (1) N7 (2) Nam Nữ

ALT và AST là hai loại enzym được tìm thấy chủ yếu ở các tế bào của gan và thận, một lượng nhỏ hơn cũng được tìm thấy trong cơ tim và cơ bắp Các loại men gan AST

và ALT do gan tạo ra thường có một hàm lượng cố định trong máu Ở người khỏe mạnh, trị số bình thường của ALT và AST trong máu thấp (< 40 U/L) Khi gan bị tổn thương, hàm lượng men gan sẽ tăng cao

Ure là sản phẩm thoái hóa cuối cùng của protein, đào thải chủ yếu qua nước tiểu, creatinin là một axít amin không có trong protein, là chất chuyển hóa cuối cùng của creatin phosphat (dạng dự trữ năng lượng đặc biệt có nhiều ở cơ) Creatinin ra khỏi cơ vào máu, được lọc ở cầu thận rồi bài xuất qua đường nước tiểu Do đó, nồng độ ure

và creatinin tăng trong máu phản ánh chức năng của thận bị tổn thương

Trang 7

Việc xét nghiệm ure, creatinin, AST và ALT trong máu ngoại vi là các chỉ số đánh giá chức năng gan, thận của YHHĐ [5]

Các số liệu nghiên cứu về chỉ số hóa sinh liên quan đến chức năng gan, thận cho thấy nồng độ ure và creatinin trong máu BN không khác biệt tại thời điểm trước và sau điện châm tại các huyệt ở BN đau thắt lưng được điều trị bằng điện châm so với những chỉ số này ở người bình thường khỏe mạnh (p > 0,05) Từ các dẫn liệu trên cho thấy điện châm là phương pháp an toàn, không gây ảnh hưởng đến chức năng gan và thận

Như vậy, việc định lượng hàm lượng một số chất trung gian hóa học tham gia vào

cơ chế chống đau như β-endorphin, catecholamin có ý nghĩa quan trọng trong lượng hoá tác dụng giảm đau của điện châm điều trị chứng đau nói chung và đau thắt lưng nói riêng thành các chỉ số đánh giá có tính chất thuyết phục trong nghiên cứu, công việc lâu nay chỉ mang tính định tính Đây là một thành công trong thực hành và nghiên cứu khoa học của YHCT

Bảng 5: Cải thiện mức độ đau theo thang điểm VAS

N0 (a) N7 (b) Ngày điều trị

Mức độ đau Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %

Đau và làm cho hết đau luôn được các nhà lâm sàng quan tâm nghiên cứu Một trong những khó khăn khi nghiên cứu về đau là vấn đề định lượng đau thông qua ngưỡng đau, khả năng chịu đau cũng như đáp ứng của từng cá thể đối với đau rất khác nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá đau dựa trên cảm nhận chủ quan của người bệnh theo thang điểm VAS - thang điểm đánh giá mức độ đau được

sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu và đánh giá cải thiện mức độ đau dựa trên ngưỡng cảm giác đau Trước điều trị, BN đau thắt lưng chủ yếu ở mức độ đau nhiều (31,11% ) và đau trung bình (67,78%) Sau điều trị 7 ngày, tỷ lệ BN không đau 82,22%, đau ít 16,67%, chỉ có 1,11% ở mức độ đau trung bình (p < 0,01) Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Trần Thị Kiều Lan [6]

Trang 8

Bảng 6: Biến đổi mạch, huyết áp, nhịp thở dưới ảnh hưởng của điện châm (n = 90)

Thời điểm

Chỉ số nghiên cứu N0 (1) N1 (2) N7 (3)

Các chỉ số mạch, nhịp thở và huyết áp

của BN ổn định trong suốt quá trình

điều trị Tại các thời điểm nghiên cứu,

các chỉ số này biến đổi không khác biệt

(p > 0,05) Kết quả của chúng tôi phù hợp

với nhiều nghiên cứu điều trị một số chứng

đau hay châm tê phẫu thuật trước đây

[5, 6, 7]

Cơ chế của điện châm là tạo ra phản

xạ thực vật, tuy nhiên hoạt tính của hệ

giao cảm hay phó giao cảm chỉ xảy ra cục

bộ nên không làm ảnh hưởng tới các chỉ

số sinh lý nghiên cứu Mặt khác, điều hòa

hoạt động hệ thần kinh thực vật còn có

vai trò của trung tâm ở thân não và vùng

dưới đồi Chỉ khi toàn bộ hay phần lớn hệ

thần kinh giao cảm hưng phấn đồng thời

mới gây ra phản ứng báo động hay đáp

ứng với stress của hệ giao cảm, làm cho

cơ thể hoạt động mạnh hơn so với lúc

bình thường Các stress có thể là sợ hãi,

tức giận, đau đớn, hay một cuộc phẫu

thuật, do đó chỉ số sinh lý thay đổi, nhưng

không quá mức [2, 3] Như vậy, điện châm

không làm ảnh hưởng đến các chức năng

sinh lý (mạch, nhịp thở, huyết áp) của BN

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu biến đổi một số chỉ số sinh lý, hóa sinh và huyết học của 90 BN đau thắt lưng do thoái hóa cột sống được điều trị bằng điện châm các huyệt liệu trình điều trị 7 ngày, kết quả cho thấy:

- Điện châm làm tăng hàm lượng β-endorphin và catecholamin trong máu:

+ Hàm lượng β-endorphin trước điều trị (58,12 ± 10,34 pg/ml) tăng lên 63,39 ± 12,57 pg/ml sau một lần điều trị (p < 0,05)

và tăng đến 67,25 ± 13,26 pg/ml sau

7 ngày điều trị (p < 0,001)

+ Hàm lượng adrenalin trước điều trị (48,37 ± 14,98 pg/ml) tăng lên 49,86 ± 13,65 pg/ml sau một lần điều trị (p > 0,05)

và tăng đến 57,63 ± 13,89 pg/ml sau 7 ngày điều trị (p < 0,01)

+ Hàm lượng noradrenalin trước điều trị (342,35 ± 60,24 pg/ml) tăng lên 366,87 ± 63,29 pg/ml sau một lần điều trị (p < 0,05)

và tăng đến 379,41 ± 72,67 pg/ml sau 7 ngày điều trị (p < 0,05)

- Điện châm không làm biến đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu trong máu ngoại vi cũng như không gây ảnh

Trang 9

hưởng đến chức năng gan, thận và các

chỉ số sinh lý như mạch, huyết áp, nhịp

thở của BN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Ngọc Ân Đau thắt lưng Bệnh thấp

khớp Nhà xuất bản Y học Hà Nội 2002,

tr.374-395

2 Bộ môn Sinh lý, Trường Đại học Y Hà

Nội Sinh lý đau Chuyên đề Sinh lý học Nhà

xuất bản Y học Hà Nội 2008, tr.112-127

3 Bùi Mỹ Hạnh, Phạm Thị Minh Đức

Nghiên cứu ảnh hưởng của châm huyệt Nội

quan lên một số chất truyền đạt thần kinh và

trục tuyến yên - vỏ thượng thận Tạp chí Sinh

lý học 2001, 5 (3), tr.31-38

4 Đỗ Công Huỳnh và CS Đặc điểm và tác

dụng sinh lý của các huyệt châm cứu Tạp chí

Sinh học Việt Nam 1994, số đặc biệt, tr.56-65

5 Nguyễn Thế Khánh, Phạm Tử Dương

Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng Nhà xuất

bản Y học 1998, tr.693-698

6 Trần Thị Kiều Lan Đánh giá tác dụng

của điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ trong điều trị đau do thoái hóa cột sống thắt lưng Luận văn Thạc sỹ Y học Trường Đại học Y Hà Nội

2008

7 Nguyễn Bá Quang Nghiên cứu tác

dụng của châm tê kết hợp thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật bướu tuyến giáp Tóm tắt Luận án Tiến sỹ Y học Hà Nội 2000

8 Nghiêm Hữu Thành Nghiên cứu cơ sở

khoa học của điện châm trong điều trị một số chứng đau Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước Bộ Khoa học và Công nghệ 2011

9 Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy Châm cứu

sau đại học Nhà xuất bản Y học Hà Nội 1997

10 Cheng R.S, Pomeran B Electroacupuncture

analgesia coud be medicited by at best two pain relieving mechanism, endorphin and non-endorphin system Life Sci 1979, 25, pp.1957-1962

11 Melzack R How acupuncture can block

pain Imoact Sci-Soc 1973, 23, pp.65-75

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w