1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hội chứng giảm cung lượng tim trong 48 giờ đầu sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng fallot tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 11-2010 đến 09-2011

6 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 343,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ giảm cung lượng tim trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng fallot, các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan.

Trang 1

HỘI CHỨNG GIẢM CUNG LƯỢNG TIM TRONG 48 GIỜ ĐẦU

SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN TỨ CHỨNG FALLOT

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 11-2010 ĐẾN 09-2011

Phạm Thị Kiều Diễm*, Vũ Minh Phúc**, Phạm Lê An**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ giảm cung lượng tim trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật sửa chữa

hoàn toàn tứ chứng Fallot, các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hàng loạt ca Từ 11-07 đến 09-2011, tại Bệnh Viện Nhi

Đồng 1 có 92 trẻ tứ chứng Fallot được phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn đều được đưa vào nghiên cứu Tất cả các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng đều được thu thập và phân tích để tìm các yếu tố liên quan đến giảm cung lượng tim sau phẫu thuật

Kết quả: Tỷ lệ giảm cung lượng tim trong vòng 48 giờ đầu sau mổ là 55,43%, cần điều trị albumin 5% và

vận mạch Trong nhóm có giảm cung lượng tim, 58,82% trường hợp cô đặc máu, 33,33% giảm tiểu cầu, 82,35% có SpO 2 trước phẫu thuật < 90%, động mạch chủ cưỡi ngựa 50% chiếm 86,27%, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 160 phút chiếm 27,45%, 92,2% bệnh nhân có mở rộng động mạch phổi bằng mảnh vá màng ngoài tim, 41,18% bệnh nhân được tái tạo van động mạch phổi 1 mảnh và 37,25% trường hợp có làm transannular patch

Kết luận: Các yếu tố có liên quan đến tình trạng giảm cung lượng tim là: SpO 2 < 90%, cô đặc máu, giảm tiểu cầu, động mạch chủ cưỡi ngựa 50%, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 160 phút, tái tạo van động mạch phổi 1 mảnh và mở rộng động mạch phổi bằng mảnh vá Vì vậy cần phải theo dõi chặt chẽ huyết động và biến chứng giảm cung lượng tim các trường hợp tứ chứng Fallot được phẫu thuật có các đặc tính kể trên

Từ khóa: Tứ chứng Fallot, giảm cung lượng tim trong 48 giờ đầu, các yếu tố liên quan

ABSTRACT

LOW CARDIAC OUTPUT IN FIRST 48 HOURS AFTER TOTAL CORRECTION OF TETRALOGY OF

Pham Thi Kieu Diem, Vu Minh Phuc, Pham Le An

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 149 - 154

Objective: to determin e the percentage of patients with low cardiac output (LCOS) and these relative factors in first 48 hours after total correction of Tetralogy of Fallot

Methods: From November 2007 to September 2011, 92 consecutive patients with the diagnosis of TOF

(Tetralogy of Fallot) underwent complete surgical repair at Children’s Hospital 1 All the details including clinical and paraclinical signs were colleted and analyzed to determine the relative factors of low cardiac output after total correction of TOF

Results: the percentage of patients with low cardiac output in first 48 hours after total correction of TOF was

55.43%, they were treated with albumin 5% and inotropic drugs Among 51 patients with LCOS, 58.82% patients had polycythemia, 33.33% had thrombocytopenia, overriding of the aorta 50% was 86.27%, cardiopulmonary bypass (CPB) time 160 minutes was 27.45%, 92.2% patients was enlarged pulmonary artery

Trang 2

with pericardial, 41.18% patients had monocusp and 37.25% had transannular patch

Conclusion: the relative factors of low cardiac output are: polycythemia, thrombocytopenia, overriding of the

aorta 50%, cardiopulmonary bypass (CPB) time 160 minutes, monocusp, and enlarged pulmonary artery with pericardial So, in these patients, we should monitor hemodynamic for early detection complication of low cardiac output

Key words: Tetralogy of Fallot, low cardiac output, relative factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tứ chứng Fallot là tim bẩm sinh tím thường

gặp nhất trong tất cả bệnh tim bẩm sinh tím ở trẻ

em (khoảng 75%) Lillehei đã thành công trong

phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot

với hệ thống tuần hoàn chéo (cross-circulation)(6)

Từ đó đến nay, ngành phẫu thuật tim đã có nhiều

tiến bộ đáng kể trong việc điều trị triệt để loại tim

bẩm sinh này Tuy nhiên, giảm cung lượng tim

sau phẫu thuật là một trong những nguyên nhân

chính gây tử vong sớm trong vòng 48 giờ sau

mổ, chiếm 10,7% – 77%(1,3,5) Từ khi triển khai hoạt

động phẫu thuật tim hở tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1

từ năm 2007, ngày càng có nhiều trẻ tứ chứng

Fallot được phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn Giảm

cung lượng tim trong 48 giờ sau phẫu thuật xảy

ra với tuần suất cao dẫn đến tử vong sớm sau mổ

cũng như kéo dài thời gian nằm viện và tăng

nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện, tăng chi phí điều

trị Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện với

mục đích xác định tỷ lệ cũng như các yếu tố liên

quan giảm cung lượng tim trong vòng 48 giờ sau

mổ ở các bệnh nhi được phẫu thuật sửa chữa

hoàn toàn tứ chứng fallot tại Bệnh Viện Nhi

Đồng 1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả hàng

loạt ca tứ chứng Fallot được phẫu thuật sửa chữa

hoàn toàn tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 từ 11-2007

đến 09-2011 Sau phẫu thuật tất cả bệnh nhân đều

được theo dõi, điều trị tại khoa hồi sức ngoại với

thở máy, theo dõi huyết áp động mạch xâm lấn,

CVP liên tục, theo dõi nước tiểu, bilan xuất nhập

mỗi giờ, và xét nghiệm khí máu động mạch, ion

đồ, lactat máu mỗi 4 giờ Tất cả bệnh nhân được

chia thành 2 nhóm có và không giảm cung lượng

tim Bệnh nhân có giảm cung lượng tim trong 48

giờ đầu hậu phẫu khi thỏa 2 trong các tiêu chuẩn sau: mạch nhanh hay chậm hơn ngưỡng bình thường theo tuổi; mạch nhẹ khó bắt; chi lạnh, ẩm, xanh tái; thời gian phục hồi màu da > 3 giây; huyết áp thấp theo tuổi và giới; huyết áp kẹp, nước tiểu < 1 ml/kg/giờ Số liệu thu thập bao gồm các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước, trong

và sau phẫu thuật Các biến số định tính được qui

ra tỷ lệ phần trăm Các biến số định lượng được biểu hiện dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn Mối liên quan giữa yếu tố định tính với giảm cung lượng tim sau mổ được khảo sát bằng phép kiểm t, mối liên quan giữa các yếu tố định lượng với giảm cung lượng tim được khảo sát bằng phép kiểm 2 Ngưỡng có ý nghĩa thống kê là p < 0,05 Nhập số liệu bằng phần mềm epi.data và phân tích số liệu với Stata

KẾT QUẢ

Từ 11-2007 đến 09-2011 có tổng cộng 92 trẻ tứ chứng Fallot được phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tại bệnh viện nhi đồng 1, gồm 52 nam và 40 nữ, tuổi từ 2 tháng đến 6 tuổi (27,9 ± 17,5 tháng), trong đó đa số là từ 1 đến 4 tuổi Trong giai đoạn hậu phẫu sớm có 51 (55,43%) trường hợp giảm cung lượng tim Các trường hợp này thường xảy

ra vào giờ thứ 6 (5,88 ± 0,82 giờ) sau phẫu thuật Trong giai đoạn hậu phẫu sớm có 1 trường hợp

tử vong do giảm cung lượng tim nặng không đáp ứng với các biện pháp hồi sức

Ở nhóm bệnh nhân có giảm cung lượng tim (51 trường hợp), nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân đều có tím trung ương trước phẫu thuật, với

tỷ lệ SpO2 < 90% là 82,35%, cô đặc máu và giảm tiểu cầu chiếm tỷ lệ lần lượt là 58,8% và 33,3% Tất cả bệnh nhân không có suy tim trước phẫu thuật với động mạch chủ cưỡi ngựa  50% là 86,27% Về mức độ hẹp động mạch phổi, đa số hẹp

ở cả 3 vị trí dưới van, tại van và trên van, và có 8

Trang 3

trường hợp có tuần hoàn bàng hệ Đa số bệnh

nhân đều được mở rộng động mạch phổi bằng

mảnh vá (92,16%), trong đó 37,25% được làm

transannular patch, 41,18% được tái tạo van động

mạch phổi 1 mảnh Thời gian tuần hoàn ngoài cơ

thể là 159,47 ± 9,85 phút, thời gian kẹp động

mạch chủ 81,63 ± 5,97 phút Chỉ có 2 trường hợp

suy thận do giảm cung lượng tim nhưng hồi

phục hoàn toàn, không cần thẩm phân phúc

mạc Nguyên nhân giảm cung lượng tim chủ yếu

là suy chức năng thất phải (41,18%) và thiếu dịch

(35,29%)

Phân tích đơn biến bệnh nhân có giảm cung

lượng tim (nhóm 1) và không có giảm cung

lượng tim (nhóm 2) trong 48 giờ đầu hậu phẫu

cho thấy cô đặc máu, giảm tiểu cầu, động mạch

chủ cưỡi ngựa  50%, thời gian tuần hoàn ngoài

cơ thể  160 phút, mở rộng động mạch phổi bằng

mảnh vá màng ngoài tim và tái tạo van động

mạch phổi 1 mảnh là các biến có ý nghĩa thống

Bảng 1: Một số đặc điểm các trường hợp giảm cung

lượng tim

Tần số hay trung bình

SpO 2 < 90% 42 (82,35%)

Cô đặc máu 30 (58,82%)

Giảm tiểu cầu 17 (33,33%)

Động mạch chủ cưỡi ngựa 

Hẹp động mạch phổi cả 3 vị trí

(dưới van, tại van và trên van) 26 (50,98%)

Tuần hoàn bàng hệ 8 (15,69%)

Thời gian tuần hoàn ngoài cơ

thể 159,47 ± 9,85 phút

Thời gian kẹp động mạch chủ 81,63 ± 5,79 phút

Mở rộng động mạch phổi bằng

mảnh vá 47 (92,16%)

Transannular patch 19 (37,25%)

Tái tạo van động mạch phổi 1

mảnh 21 (41,18%)

Bảng 2: Nguyên nhân giảm cung lượng tim (n=51)

Suy thất phải 21 41,18 %

Rối loạn nhịp tim 9 17,6 %

Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến giảm cung lượng

tim

Nhóm 1 (n=51)

Nhóm 2 (n=41)

Giá trị

p

Tuổi phẫu thuật > 0,05

< 1 tuổi 9 (17,65%) 5 (12,2%)

1 – 4 tuổi 36

(70,59%) 28 (68,29%)

> 4 tuổi 6 (11,76%) 8 (19,51%) B-T Shunt trước phẫu thuật 3 (5,88%) 1 (2,44%) > 0,05

Cô đặc máu 30

(58,82%) 13 (31,71%)

< 0,05

Giảm tiểu cầu 17

(33,33%) 3 (7,32%)

< 0,01

Động mạch chủ cưỡi ngựa

 50%

44 (86,27%) 28 (68,29%)

< 0,05

Thời gian THNCT  160

phút

14 (27,45%) 4 (9,76%)

< 0,05

Tái tạo van động mạch phổi 1 mảnh

21 (41,18%) 8 (19,51%)

< 0,05

Transannular patch 19

(37,25%) 8 (19,51%)

> 0,05

Mở rộng động mạch phổi bằng mảnh vá

47 (92,16%) 31 (75,61%)

< 0,05

BÀN LUẬN

Sau mổ tứ chứng Fallot, giảm cung lượng tim thường xảy ra trong vòng 48 giờ đầu hậu phẫu,

vì đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong trong giai đoạn hậu phẫu sớm sau phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot trên toàn thế giới trong giai đoạn phẫu thuật tứ chứng Fallot mới phát triển Tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 mới bắt đầu phẫu thuật triệt để tứ chứng Fallot trong 4 năm gần đây, nên chúng tôi tập trung nghiên cứu các yếu tố liên quan đến giảm cung lượng tim trong giai đoạn hậu phẫu sớm để có thể theo dõi, điều trị kịp thời cũng như tiên lượng trước phẫu thuật Kết quả phân tích từ nhóm bệnh nhân cho thấy nguyên nhân giảm cung lượng tim trong vòng

48 giờ đầu hậu phẫu chủ yếu là suy thất phải Suy thất phải với các triệu chứng như huyết áp tụt, CVP cao, gan to hơn so với lúc ra giờ đầu hậu phẫu, có 21 trường hợp chiếm tỷ lệ 41,18% Suy thất phải là một nguyên nhân thường gặp gây giảm cung lượng tim sau phẫu thuật tứ chứng Fallot do lòng thất phải nhỏ, độ đàn hồi thất phải kém nên không chịu được áp lực đổ đầy cao sau phẫu thuật, và thường chức năng thất phải hồi

Trang 4

phục sau 3 – 5 ngày Woodson cũng ghi nhận

giảm cung lượng tim trong 48 giờ đầu sau mổ do

suy thất phải trong nghiên cứu của mình là

12%(11)

Theo y văn các yếu tố liên quan đến giảm

cung lượng tim cũng như tử vong sau phẫu thuật

là: tuổi, mức độ nặng của thiểu sản chỗ nối thân

động mạch phổi – thất phải, transannular patch

(mảnh vá xuyên vòng van), P thất phải/thất trái

cao, phẫu thuật tạm thời trước đó, thời gian tuần

hoàn ngoài cơ thể kéo dài, Hct trước mổ cao, bất

thường của động mạch phổi, chu vi vòng van

động mạch phổi nhỏ Trong nghiên cứu này,

trong tất cả các trường hợp giảm cung lượng tim,

kết quả phân tích ghi nhận các yếu tố liên quan

đến giảm cung lượng tim sau phẫu thuật tứ

chứng Fallot tại bệnh viện Nhi Đồng 1 là cô đặc

máu, giảm tiểu cầu, động mạch chủ cưỡi ngựa 

50%, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể  160

phút, tái tạo van động mạch phổi 1 mảnh và mở

rộng động mạch phổi bằng mảnh vá

Lứa tuổi phẫu thuật

Thất phải bắt đầu phì đại trong một thời gian

ngắn sau sinh, và liên tục cho đến khi trẻ lớn, và

bắt đầu không hồi phục khi trẻ 4 tuổi, bên cạnh

đó tình trạng thiếu oxy mãn sẽ dẫn đến tổn

thương cơ tim và các cơ quan khác như não,

thận, phổi, gan…Vì vậy, sau 4 tuổi thì thất phải

bị tăng áp lực không hồi phục, đây là yếu tố tiên

lượng tử vong sau này Wang XW trong nghiên

cứu đánh giá nguy cơ tử vong sau phẫu thuật tứ

chứng Fallot ghi nhận tuổi là phẫu thuật nhỏ là

yếu tố nguy cơ của giảm cung lượng tim(9) Tuy

nhiên kết quả cho thấy tuổi phẫu thuật không

phải là yếu tố liên quan Có thể tất cả trẻ đã được

phẫu thuật từ rất sớm khi phát hiện ra triệu

chứng, nên những trẻ trên 4 tuổi được phẫu thuật

là những trẻ tím nhẹ hay không tím, triệu chứng

lâm sàng nhẹ nên nguy cơ giảm cung lượng tim

không có khác biệt so với trẻ nhỏ hơn, có thể do

những tiến bộ trong phẫu thuật, hồi sức mà hiện

nay tuổi không còn là yếu tố nguy cơ nữa, hay có

thể do số trẻ có tuổi nhỏ được phẫu thuật ít nên

không tìm thấy mối liên quan

B-T Shunt trước mổ

Kirlin ghi nhận phẫu thuật tạm thời trước đó nhiều hơn 1 lần làm tăng nguy cơ tử vong sau

mổ do động mạch phổi có nguy cơ bị biến dạng

do phẫu thuật tạo shunt trước đó(4) Nhưng chúng tôi ghi nhận không có sự ảnh hưởng của B-T shunt lên tình trạng giảm cung lượng tim Phạm Nguyễn Vinh cũng ghi nhận B-T shunt trước phẫu thuật không liên quan đến giảm cung lượng tim nặng sau mổ với tỷ lệ bệnh nhân B-T shunt trước phẫu thuật trong nhóm có giảm cung lượng tim nặng và không giảm cung lượng tim lần lượt là 6,9% và 14,7%(8)

Cô đặc máu

Kết quả nghiên cứu ghi nhận Hct > 60% có liên quan đến giảm cung lượng tim sau mổ Kirlin ghi nhận Hct trước mổ cao làm tăng nguy

cơ tử vong của hậu phẫu sớm(5,6) Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Vinh tại viện tim cho thấy Hct > 60% là yếu tố nguy cơ của giảm cung lượng tim nặng(8) Hct trước mổ càng cao chứng tỏ tình trạng thiếu oxy mô càng nặng, mô cơ tim càng

dễ bị ảnh hưởng sau chạy tuần hoàn ngoài cơ thể,

dễ dẫn đến giảm cung lượng tim

Giảm tiểu cầu

Tỷ lệ giảm tiểu cầu trong nhóm giảm cung lượng tim là 33,33% cao hơn 7,32% trong nhóm không giảm cung lượng tim Trẻ giảm tiểu cầu chứng tỏ trẻ tím nặng, cho nên cùng với mao mạch phổi phát triển bất thường, rối loạn đông máu cộng với sự bất hoạt tiểu cầu do hậu quả của chạy tuần hoàn ngoài cơ thể nên trẻ sẽ có xu hướng chảy máu sau mổ hay thoát dịch qua khoang thứ ba gây giảm cung lượng tim do giảm tiền tải

Động mạch chủ cưỡi ngựa  50

Đây là yếu tố liên quan đến giảm cung lượng tim vì trên trẻ này, mức độ cưỡi ngựa càng nhiều chứng tỏ thất phải hẹp càng nặng, bệnh nhân sẽ nhận hậu quả của thiếu oxy mô và những bất lợi của chạy tuần hoàn ngoài cơ thể, nên dễ suy chức năng thất phải hơn

Trang 5

Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài

Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể ≥ 160 phút

thì làm tăng nguy cơ giảm cung lượng tim sau

mổ Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Vinh cũng

ghi nhận nguy cơ giảm cung lượng tim tăng có ý

nghĩa khi thời gian này ≥ 105 phút(8)

Hashemzadeck thì ghi nhận nguy cơ tử vong

tăng cao hơn khi thời gian tuần hoàn ngoài cơ

thể > 120 phút(2) Các bệnh nhân tứ chứng Fallot

nói riêng và tim bẩm sinh tím nói chung có

màng mao mạch phổi bất thường, do đó rất nhạy

đối với tác động bất lợi của chạy tuần hoàn ngoài

cơ thể Sau mổ tim hở, các bệnh nhân này thường

có hiện tượng thoát dịch vào mô kẽ gây phù mô

kẽ và thoát dịch vào các khoang màng phổi,

màng bụng Trên 1 tâm thất phải phì đại, phù cơ

tim cộng với miếng màng ngoài tim cứng dùng

để nới rộng buồng thoát thất phải càng làm suy

giảm chức năng tâm thất phải Do đó, trên bệnh

nhân chạy tuần hoàn ngoài cơ thể càng dài thì cơ

tim càng bị tổn thương và dẫn đến rối loạn cơ tim

sau phẫu thuật

Transannular patch

Theo một số tác giả như Klinner và Nollert,

xẻ vòng van động mạch phổi là một yếu tố nguy

cơ của tử vong hậu phẫu sớm(7) Kirlin nhận thấy

xẻ vòng van không phải là một yếu tố nguy cơ

độc lập của tử vong hậu phẫu sớm(5) Nghiên cứu

của Phạm Nguyễn Vinh tại Viện Tim cũng ghi

nhận kết quả tương tự, xẻ vòng van không là yếu

tố nguy cơ của giảm cung lượng tim sau phẫu

thuật(8) Xẻ vòng van ĐM phổi cần thiết nếu có

hẹp tại vị trí này, nhằm giải phóng tắt nghẽn của

buồng tống thất phải, làm giảm tỉ lệ P thất phải /

thất trái sau mổ và vẫn được thực hiện ở nhiều

trung tâm phẫu tim trên thế giới Vì vậy, xẻ vòng

van động mạch phổi có phải là yếu tố nguy cơ

hay không hiện vẫn còn chưa rõ Tuy nhiên, tái

tạo van động mạch phổi 1 mảnh là yếu tố liên

quan đến giảm cung lượng tim sau phẫu thuật,

đây là những trường hợp không bảo tồn được van

động mạch phổi, phù hợp với nhận định của

Kirlin(6)

Sử dụng miếng vá màng ngoài tim để mở rộng buồng thoát thất phải và động mạch phổi

Là yếu tố liên quan đến giảm cung lượng tim sau phẫu thuật Mức độ nặng của hẹp van động mạch phổi biểu hiện bằng nhu cầu sử dụng miếng vá để mở rộng động mạch phổi Muriel D Wolf ghi nhận nguy cơ tử vong cao hơn ở nhóm

mà miếng vá mở rộng lên động mạch phổi so với nhóm mà miếng vá chỉ giới hạn ở thất phải(10) Kirlin trong nghiên cứu của mình cho kết quả tử vong ở nhóm có miếng vá là 19% trong khi ở nhóm không có miếng vá là 7%, tác giả cũng ghi nhận tỷ lệ tử vong có giảm từ 15% xuống 7% từ

1960 – 1964 là do giảm sử dụng mảnh vá để mở rộng buống tống thất phải(4,5)

KẾT LUẬN

Tỷ lệ giảm cung lượng tim trong 48 giờ sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot là 55,43% và nguyên nhân chủ yếu là suy thất phải Tình trạng cô đặc máu, giảm tiểu cầu, động mạch chủ cưỡi ngựa  50%, thời gian tuần hoàn ngoài

cơ thể  160 phút, mở rộng động mạch phổi bằng mảnh vá, tái tạo van động mạch phổi 1 mảnh là các yếu tố có liên quan đến giảm cung lượng tim trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1,

do đó cần phải lưu ý các trường hợp có các đặc điểm kể trên để có các biện pháp can thiệp điều trị kịp thời Tuy nhiên, gần đây Bệnh Viện Nhi Đồng

1 đã có nhiều kinh nghiệm trong việc phẫu thuật, chạy tuần hoàn ngoài cơ thể cũng như hồi sức sau mổ, vì vậy, tỷ lệ giảm cung lượng tim sau phẫu thuật có thể thấp hơn, và cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn để đánh giá thêm các yếu tố liên quan thật sự đến tình trạng giảm cung lượng tim sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chittithavorn V, Rergkliang C (2006), "Predicted Outcome after Repair of Tetralogy of Fallot by Postoperative Pressure Ratio

between Right and Left Ventricle." J Med Assoc Thai, 89 (1), pp

43-50

Trang 6

2 Hashemzadeh K et al (2010), "Early and Late Results of Total

Correction of Tetralogy of Fallot." Acta Medica Iranica., 48(2), pp

117-122

3 Hoffman TM, Wernovsky G (2003), "Efficacy and Safety of

Milrinone in Preventing Low Cardiac Output Syndrome in

Infants and Children After Corrective Surgery for Congenital

Heart Disease." Circulation., 107, pp 996-1002

4 Kirklin JW, EH Blackstone (1979), "Routine primary repair vs

two-stage repair of tetralogy of Fallot" Circulation, 60, pp

373-386

5 Kirklin JW, Wallace RB, McGoon DC, DuShane JW (1965),

"Early and late results after intracardiac repair of Tetralogy of

Fallot 5-Year review of 337 patients" Ann Surg, 162(4), pp

578-589

6 Kirlin JW et al “Ventricular Septal Defect with Pulmonary

Stenosis or Atresia” Cardiac Surgery.(Third edition ed.)

Churchill Livingstone

7 Nollert G, Fischlein T (1997), "Long-term survival in patients with repair of tetralogy of Fallot: 36-year follow-up of 490

survivors of the first year after surgical repair." J Am Coll Cardiol.,

30(5), pp 1374-1383

8 Phạm Nguyễn Vinh, Hồ Huỳnh Quang Trí (2002) “Khảo sát các yếu tố nguy cơ của giảm cung lượng tim nặng sau phẫu thuật sửa

chữa triệt để tứ chứng Fallot” Tạp chí Y học Thành Phố Hồ Chí

Minh, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh Tập (6), tr 25-29

9 Wang XW, Zhang WD (2009), "Risk factors for early postoperative death after total correction of tetralogy of Fallot:

analysis of 20 cases" Nan Fang Yi Ke Da Xue Xue Bao, 29(6), pp

1150-1152

10 Wolf MD et al (1965.), "Total Correction of Tetralogy of Fallot: I

Follow-up Study of 104 Cases." Circulation,31, pp 385-393

11 Woodson RD et al.(1969), "Surgical Management of Tetralogy of

Fallot in Children under Age Four" Ann Surg, 169(2), pp

257-264

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm