1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả tức thì của nước súc miệng chứa tinh dầu và nước súc miệng thảo mộc lên lượng vi khuẩn trong mảng bám

8 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 374,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về nước súc miệng kháng khuẩn bổ sung hiệu quả cho qui trình chăm sóc sức khỏe răng miệng hằng ngày, giúp kiểm soát và ngăn ngừa sự hình thành mảng bám vi khuẩn gây bệnh, đánh giá hiệu quả tức thì của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám răng trên nướu và so sánh với một loại nước súc miệng thảo mộc chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và hương.

Trang 1

VÀ NƯỚC SÚC MIỆNG THẢO MỘC LÊN LƯỢNG VI KHUẨN  

TRONG MẢNG BÁM 

Phạm Thị Ngọc Thảo*, Ngô Thị Quỳnh Lan *  

TÓM TẮT 

Mở đầu: Nước súc miệng (NSM) kháng khuẩn là phương pháp bổ sung hiệu quả cho qui trình chăm sóc 

sức khỏe răng miệng hằng ngày, giúp kiểm soát và ngăn ngừa sự hình thành mảng bám vi khuẩn gây bệnh. Nổi  bật trong thị trường NSM công nghiệp là NSM chứa tinh dầu với tính hiệu quả, an toàn và ít tác dụng phụ khi 

sử dụng trong thời gian dài. Bên cạnh đó, tác dụng của các hợp chất chiết xuất từ thảo mộc thiên nhiên cũng thu  hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu do tỉ lệ đề kháng của các vi sinh vật gây bệnh đối với các tác nhân kháng  khuẩn ngày càng tăng cao. 

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả tức thì của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám 

răng trên nướu và so sánh với một loại NSM thảo mộc chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và đinh hương. 

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, tiến hành trên 27 sinh viên Khoa 

Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm. Tại mỗi đợt thử  nghiệm, mỗi nhóm sử dụng ngẫu nhiên trong 30 giây: NSM Listerine Cool Mint (20ml), hoặc NSM thảo mộc  (60 giọt thuốc pha 20ml nước), hoặc nước cất (20ml). Mảng bám trên nướu được lấy tại thời điểm trước và ngay  sau khi súc miệng, được xử lí và cấy trên thạch máu cừu, ủ 48 giờ trong điều kiện hiếu khí. Tổng số khúm khuẩn 

và khúm tiêu huyết β trên mỗi hộp thạch được đếm và tính ra số đơn vị tạo khúm trong 1ml (CFU/ml). Sau mỗi  đợt thử nghiệm là thời kì rửa 1 tuần trước khi bắt đầu đợt thử nghiệm kế tiếp với loại NSM khác. 

Kết  quả: Ngay sau khi súc miệng, lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β giảm 68,7% và 

74,5% ở nhóm NSM chứa tinh dầu, 25,4% và 31,2% ở nhóm NSM thảo mộc, 17,1% và 3,8% ở nhóm nước cất.  Hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β tức thì của NSM chứa tinh dầu cao hơn so  với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống kê (p<0,05), NSM thảo mộc có hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn cao hơn  nước nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). 

Kết  luận: NSM chứa tinh dầu có khả năng xâm nhập nhanh chóng vào màng sinh học răng và tác động 

diệt khuẩn lên các vi khuẩn chứa bên trong. 

Từ khóa: nước súc miệng chứa tinh dầu, nước súc miệng thảo mộc, mảng bám răng, vi khuẩn hiếu khí, vi 

khuẩn gây tiêu huyết β. 

ABSTRACT 

IMMEDIATE EFFECT OF ESSENTIAL OIL AND HERBAL MOUTHRINSE  

ON PLAQUE BACTERIA 

Pham Thi Ngoc Thao, Ngo Thi Quynh Lan  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 339 ‐ 346 

Introduction:  Antimicrobial  mouthrinse  is  an  effective  adjunct  for  daily  oral  hygiene  regimen  that  helps 

control and prevent the formation of plaque bacteria. Standing out from a number of chemical agents currently  available in the market, essential oil mouthrinse (EO) has demonstrated its efficacy, safety and few side effects 

* Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP HCM  

Tác giả liên lạc: BS. Phạm Thị Ngọc Thảo  ĐT: 0937767996  Email: ngocthaorhm2007@gmail.com. 

Trang 2

when  used  for  a  long  time.  Besides  that,  anti‐infective  potential  of  bioactive  compounds  extracted  from  plants  attract many researcher’s attention when the resistance of many common pathogens to currently used therapeutic 

agents is increasing. 

Objectives:  Assess  the  immediate  antimicrobial  effect  of  EO  on  the  amount  of  aerobes  in  supragingival 

plaque, and compare with a herbal mouthrinse (H, full extracts from Angelica and Clove). 

Material and methods:  This cross‐over clinical trial was conducted on  27 dental students of the Faculty of  Odonto Stomatology, University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh City. They were randomly divided  into 3 groups. On the sampling days, either Listerine Cool Mint (20ml) or herbal mouthrinse (60 drops mixed  with 20ml water) or distilled water (20ml) was randomly administered to each of the 3 groups. Supragingival  plaque were collected at: (1) baseline and (2) immediately following a 30s‐rinse, then cultured onto sheep blood  agar plates for 48 hours under aerobic conditions. Colony‐forming units (CFU) of total cultivable aerobes and β‐ hemolytic colonies on plates were counted and inferred the number of viable organisms (CFU/ml). Experimental 

periods were separated by a one‐week washout period before starting the next trial with alternative mouthrinse. 

Results:  There was no statistically significant difference at baseline (p > 0.05). After 30s rinsing, the percent  reductions of total aerobes and  β‐hemolytic  aerobes were 68.7% and 74.5% in EO group, 25.4% and 31.2% in H  group, 17.1% and 3.8% in control group. EO produced significant reductions in number of the aerobes (p < 0.05) 

in comparison with the control group  as  well  as  H  one;  the  herbal  mouthwash  exhibited  no  significant  higher  immediate antimicrobial effect than control mouthwash (p > 0.05)  

Conclusion:  EO  formulation  has   ability  to  quickly  penetrate  the  dental  biofilm  and  exert  a  bactericidal  activity on the organisms contained therein. 

Keywords: essential oil mouthrinse, herbal mouthrinse, dental plaque, aerobe,  β‐hemolytic bacteria. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Mảng bám vi khuẩn là điều kiện tiên quyết 

gây  ra  sâu  răng,  là  nguyên  nhân  của  bệnh  nha 

chu  gồm  có  viêm  nướu  và  viêm  nha  chu.  Bên 

cạnh đó mối liên hệ giữa bệnh nha chu và một 

số bệnh toàn thân ngày càng được chứng minh 

một cách rõ rệt(8). Do đó, kiểm soát mảng bám vi 

khuẩn trở thành mục tiêu hàng đầu của những 

nhà thực hành nha khoa trong công cuộc chăm 

sóc sức khỏe răng miệng toàn diện và cải thiện 

tình trạng bệnh toàn thân. 

Quan  niệm  mảng  bám  răng  là  một  màng 

sinh học giúp giải thích đặc tính gây bệnh và sự 

khó khăn trong sự loại bỏ hoàn toàn mảng bám, 

đồng  thời  giúp  đưa  ra  phương  pháp  kiểm  soát 

mảng bám hiệu quả và toàn diện. Mặc dù màng 

sinh học không thể loại bỏ hoàn toàn nhưng đặc 

tính  gây  bệnh  của  màng  sinh  học  răng  có  thể 

giảm bớt bằng cách làm nhẹ gánh nặng vi sinh 

(bioburden)  và  duy  trì  hệ  tạp  khuẩn  cân  bằng 

trong  môi  trường  miệng  với  phương  pháp  vệ 

sinh răng miệng đúng đắn hằng ngày bao gồm 

chải  răng,  sử  dụng  chỉ  nha  khoa  và  nước  súc  miệng kháng khuẩn(13). 

Nổi  bật  trên  thị  trường  NSM  công  nghiệp  phong  phú  và  đa  dạng  là  NSM  chứa  tinh  dầu  với tính hiệu quả, an toàn và ít tác dụng phụ khi 

sử  dụng  trong  thời  gian  dài  được  chứng  minh  qua  nhiều  nghiên  cứu  (DePaola  &  Spolarich,  2007). Trong xu hướng phát triển các ứng dụng 

y  học  cổ  tryền  và  các  liệu  pháp  điều  trị  bằng  thảo  dược,  tác  dụng  kháng  khuẩn  của  các  hợp  chất  chiết  xuất  từ  thảo  mộc  thiên  nhiên  ngày  càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên  cứu  do  khả  năng  đề  kháng  của  các  vi  sinh  vật  gây  bệnh  đối  với  các  tác  nhân  kháng  khuẩn  ngày càng tăng cao và nhu cầu tìm ra những tác  nhân kháng khuẩn mới an toàn và hiệu quả(4).   Bên cạnh đó, khả năng đề kháng với các chất  kháng khuẩn của vi khuẩn trong màng sinh học  cao  gấp  1000‐1500  so  với  những  vi  khuẩn  sống 

tự do(11), cho thấy sự cần thiết của những nghiên 

cứu in vivo để đánh giá đúng đắn hiệu quả thâm 

nhập  vào  màng  sinh  học  và  tác  động  lên  vi 

Trang 3

Tuy nhiên, tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa 

có nghiên cứu lâm sàng nào đánh giá hiệu quả 

kháng  khuẩn  của  NSM  chứa  tinh  dầu  và  NSM 

thảo mộc lên mảng bám răng. 

Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu 

này  để  đánh  giá  hiệu  quả  kháng  khuẩn  tức  thì 

của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu 

khí trong mảng bám răng trên nướu và so sánh 

với  một  loại  NSM  thảo  mộc  có  chiết  xuất  toàn 

phần từ hai loại thảo dược thiên nhiên (bạch chỉ 

và đinh hương). 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

27 sinh viên Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y 

Dược thành phố Hồ Chí  Minh,  18‐25  tuổi,  thỏa 

các tiêu chí: 

Có ít nhất 20 răng thật (đầy đủ các răng cối 

nhỏ  và  răng  cối  lớn  hàm  trên,  trừ  răng  cối  lớn 

thứ 3). 

Cung răng hàm trên tương đối cân xứng. 

Không có thói quen nhai một bên. 

Không  có  sâu  răng  lớn  chưa  điều  trị  và  các 

bệnh  lý  viêm  nhiễm  mô  mềm  vùng  miệng  (trừ 

viêm nướu nhẹ). 

Không  có  tiền  sử  bệnh  lý  toàn  than  /  bệnh 

nha chu. 

Không  than  phiền  khô  miệng  hoặc  dị  ứng 

với các loại NSM. 

Không  dùng  kháng  sinh  toàn  thân  trong 

vòng 1 tháng trước khi tham gia nghiên cứu. 

Không  mang  mắc  cài  chỉnh  hình  hoặc  hàm 

giả. 

Các  đối  tượng  sử  dụng  kháng  sinh,  hoặc 

mắc các bệnh lý viêm nhiễm vùng miệng, hoặc 

bị  chấn  thương  vùng  đầu  mặt  trong  quá  trình 

tham  gia  nghiên  cứu  sẽ  bị  loại  ra  khỏi  nghiên 

cứu. 

Các đối tượng được giải thích và đồng ý tự 

nguyện tham gia nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo,  ngẫu nhiên, mù đơn, có nhóm chứng. 

Quá trình thực hiện 

27 đối tượng chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm  (mỗi nhóm 9 đối tượng), đều trải qua 3 lần thử  nghiệm  với  1  thời  kì  rửa  trước  lần  thử  nghiệm  đầu tiên và 2 thời kì rửa xen kẽ. Mỗi thời kì rửa  kéo dài 7 ngày. Một tuần trước khi bắt đầu tham  gia  nghiên  cứu,  các  đối  tượng  được  cung  cấp  cùng một loại bàn chải lông mềm và kem đánh  răng  không  chứa  triclosan,  chải  răng  theo  thói  quen thông thường của họ và không dùng bất kì  loại  nước  súc  miệng  nào  trong  thời  gian  tham  gia nghiên cứu. Trước mỗi lần thử nghiệm, kể từ  lần chải răng cuối cùng tối hôm trước đến buổi  sáng can thiệp, các đối tượng không sử dụng tất 

cả  các  phương  pháp  vệ  sinh  răng  miệng  cũng  như bất kì loại thức ăn và nước uống nào. 

Tại  mỗi  đợt  thử  nghiệm,  mỗi  nhóm  súc  miệng trong 30 giây một trong các loại NSM sau:  Listerine  Cool  Mint  (20ml),  NSM  thảo  mộc  (60  giọt  thuốc  pha  20ml  nước),  nước  cất  vô  trùng  (20ml).  Mẫu  mảng  bám  trên  nướu  được  lấy  tại  thời  điểm:  (1)  trước,  và  (2)  ngay  sau  khi  súc  miệng. 

Lấy mẫu mảng bám 

Lần thử nghiệm 1: 

‐  Trước  súc  miệng:  sau  khi  cô  lập  vùng  lấy  mẫu  bằng  gòn  cuộn,  dùng  cây  nạo  nha  chu  vô  khuẩn lấy mảng bám trên nướu lần lượt ở mặt  ngoài  RCN2,  RCL2  hàm  trên  một  bên  ngẫu  nhiên và RCN1, RCL1 phần hàm trên bên còn lại  (đặt dụng cụ ngang viền nướu, bờ tác dụng ôm  sát mặt răng, kéo từ xa đến gần). Cho ngay đầu  cây  nạo  vào  ống  nghiệm  chứa  2ml  dung  dịch  nước cất vô trùng sau mỗi lần lấy mẫu, lắc trong 

10  giây  để  hòa  lượng  mảng  bám  dính  trên  cây  nạo vào dung dịch. Sau đó, chuyển các mẫu vào  phòng xét nghiệm vi sinh. 

‐ Sau súc miệng: thực hiện giống như trước  khi  súc  miệng  nhưng  lấy  ở  mặt  ngoài  các  răng 

Trang 4

còn  lại  của  nhóm  RCN  và  RCL  phần  hàm  trên 

hai bên. 

Lần  thử  nghiệm  2:  Các  nhóm  thay  đổi  loại 

NSM  sử  dụng,  thực  hiện  lấy  mẫu  như  lần  thử 

nghiệm  1  nhưng  thứ  tự  phần  hàm  lấy  mẫu 

ngược lại so với lần 1. 

Lần  thử  nghiệm  3:  Các  nhóm  thay  đổi  loại 

NSM  sử  dụng,  thực  hiện  lấy  mẫu  như  lần  thử 

nghiệm 1. 

Việc lấy mẫu mảng bám được thực hiện bởi 

cùng  một  người  trong  suốt  quá  trình  nghiên 

cứu.  Đồng  thời,  người  lấy  mẫu  mảng  bám  và 

người phát NSM cho các đối tượng nghiên cứu 

là hai người khác nhau, giúp loại bỏ yếu tố chủ 

quan  và  tăng  độ  tin  cậy  của  kết  quả  được  thu 

thập. 

Nuôi cấy vi sinh 

Các ống nghiệm chứa mẫu mảng bám được 

pha  loãng  600  lần,  lấy  30μl  dung  dịch  đã  pha 

loãng  cấy  dàn  trải  lên  đĩa  thạch  máu,  ủ  48  giờ 

trong điều kiện hiếu khí (370C, 5‐10% CO2). Sau 

đó,  đếm  tổng  số  khúm  vi  khuẩn  mọc  trên  mặt 

đĩa thạch và số khúm vi khuẩn tiêu huyết, tính 

ra số đơn vị tạo khúm trong 1ml (CFU/ml). 

Một  vài  khúm  khuẩn  đặc  trưng  được  nhà  nghiên  cứu  vi  sinh  chọn  ra,  nhuộm  Gram  và  quan  sát  dưới  kính  hiển  vi  để  đánh  giá  hình  dạng và cách sắp xếp của một số loại vi khuẩn  trong môi trường miệng. 

Xử lí số liệu 

Phép  kiểm  Krusskal‐Wallis,  Mann‐Whitney 

U,  Wilcoxon  được  sử  dụng  để  xử  lí  số  liệu  thu  được với phần mềm SPSS 16.0. 

KẾT QUẢ 

27 sinh viên tham gia (10 nam, 17 nữ) với độ  tuổi trung bình là 21,96, đều hoàn thành nghiên  cứu một cách thuận lợi và không ghi nhận bất kì  tác dụng phụ nào. 

Bảng 1 cho thấy số lượng vi khuẩn hiếu khí 

và  vi  khuẩn  gây  tiêu  huyết  β  trong  mảng  bám  trên nướu của các đối tượng trước mỗi giai đoạn  thử nghiệm khác biệt không có ý nghĩa thống kê  (p  >  0,05). Điều  này  có  nghĩa  là  quá  trình  điều  chỉnh mẫu kết hợp với các thời kì rửa có ý nghĩa,  giúp  mẫu  nghiên  cứu  đạt  được  tình  trạng  vi  khuẩn trong mảng bám trên nướu ổn định trước  mỗi  giai  đoạn  thử  nghiệm  nói  riêng  và  trong  suốt quá trình nghiên cứu nói chung. 

Bảng 1: Số lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tiêu huyết trong mảng bám trên nướu (x10 4  CFU/ml) trước khi 

sử dụng các loại NSM. 

(TB ± ĐLC)

NSM thảo mộc (TB ± ĐLC)

Nước cất (TB ± ĐLC)

p (*)

VK hiếu khí

VK tiêu huyết

528,30 ± 537,61 355,78 ± 448,67

510,44 ± 453,70 305,11 ± 359,94

527,85 ± 607,31 314,96 ± 472,96

0,978 0,996

 (*): Kiểm định Kruskal Wallis. 

Sự thay đổi về số lượng vi khuẩn giữa thời 

điểm  trước  và  sau  súc  miệng  được  thể  hiện 

trong  Bảng  2  và  Bảng  3:  TB  số  lượng  vi  khuẩn 

hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β giảm có ý 

nghĩa thống kê ở nhóm dùng NSM tinh dầu (p <  0,001) và NSM thảo mộc (p = 0,001); còn ở nhóm  chứng,  sự  khác  biệt  về  TB  số  lượng  vi  khuẩn  không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 

Bảng 2: Sự thay đổi số lượng vi khuẩn hiếu khí (x10 4  CFU/ml) trong mảng bám trên nướu trước và sau khi sử  dụng từng loại NSM. 

NSM chứa tinh dầu

NSM thảo mộc

Nước cất

528,30 ± 537,61 510,44 ± 453,70 527,85 ± 607,31

178,67 ± 273,28 258,22 ± 212,30 377,04 ± 456,32

0,000 0,001 0,075

 (*): Test phi tham số Wilcoxon xếp hạng có dấu. 

Trang 5

Bảng 3: Sự thay đổi số lượng vi khuẩn gây tiêu huyết β (x10 4  CFU/ml) trong mảng bám trên nướu trước và sau  khi sử dụng từng loại NSM. 

NSM chứa tinh dầu

NSM thảo mộc

Nước cất

355,78 ± 448,67 305,11 ± 359,94 314,96 ± 472,96

80,00 ± 176,12 111,33 ± 117,97 233,70 ± 403,56

0,000 0,001 0,069

 (*): Test phi tham số Wilcoxon xếp hạng có dấu. 

Tỉ  lệ  giảm  (%)  vi  khuẩn  của  các  loại  NSM 

được thể hiện trong Biểu đồ 1 và kết quả so sánh 

tỉ lệ giảm vi khuẩn giữa các loại NSM được thể 

hiện trong Bảng 4. 

68,7

25,4

17,1

74,5

31,2

3,8 0

20

40

60

80

VK hiếu khí

VK tiêu huyết β

 

Biểu đồ 1: Tỉ lệ giảm (%) vi khuẩn hiếu khí và vi 

khuẩn gây tiêu huyết β của các loại NSM. 

Biểu đồ 1  cho  thấy  ngay  sau  khi  súc  miệng, 

NSM  tinh  dầu  có  hiệu  quả  giảm  vi  khuẩn  cao 

nhất, tiếp theo là nhóm NSM thảo mộc, và nhóm 

chứng  có  hiệu  quả  giảm  vi  khuẩn  thấp  nhất. 

Nhóm NSM chứa tinh dầu và NSM thảo mộc có 

hiệu quả lên vi khuẩn gây tiêu huyết β cao hơn 

so với tổng số lượng vi khuẩn hiếu khí, trong khi 

đó,  nhóm  chứng  có  hiệu  quả  lên  tổng  lượng  vi 

khuẩn hiếu khí cao hơn so với vi khuẩn gây tiêu 

huyết β. 

Bảng: So sánh tỉ lệ (%) giảm vi khuẩn hiếu khí giữa 

các loại NSM. 

VK hiếu khí VK gây tiêu

NSM tinh dầu-Nước cất

NSM thảo mộc-Nước cất

NSM tinh dầu-NSM thảo mộc

0,001 0,647 0,001

0,002 0,691 0,003

(*): Phép kiểm Mann‐Whitney U. 

Kết quả từ Bảng 4 cho thấy: NSM tinh dầu có 

hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí cao hơn so 

với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống kê 

(p < 0,05), hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn của NSM  thảo mộc cao hơn nước không có ý nghĩa thống 

kê (p > 0,05). 

Kết  quả  nhuộm  Gram  từ  31  khúm  khuẩn  được  chọn:  12  khúm  có  hình  ảnh  cầu  khuẩn  Gram  (+),  9  khúm  có  cầu  khuẩn  Gram  (‐),  9  khúm có trực khuẩn Gram (‐) và 3 khúm có trực  khuẩn Gram (+) với cách sắp xếp đa dạng: riêng 

lẻ,  từng  đôi  một,  dạng  chuỗi,  dạng  chùm  nho  hay  từng  đám   Trong  tổng  số  31  khúm  được  chọn, có 8 khúm tiêu huyết với kết quả nhuộm  cho  thấy:  7  khúm  là  cầu  khuẩn  Gram  (+),  1  khúm là trực khuẩn Gram (‐).  

BÀN LUẬN 

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo,  các đối tượng tham gia nghiên cứu lần lượt được  thử  nghiệm  các  loại  NSM  theo  thứ  tự  ngẫu  nhiên. Điều này giúp hạn chế tối đa sự khác biệt  giữa  các  cá  thể  khi  so  sánh  hiệu  quả  kháng  khuẩn của các loại NSM, đặc biệt là đối với các  nghiên cứu về vi sinh vùng miệng, khi số lượng 

và thành phần vi khuẩn thường có sự dao động  đáng kể giữa các cá thể. 

Dựa trên mối liên hệ lâm sàng giữa sự tích 

tụ  mảng  bám  và  bệnh  nha  chu,  mối  liên  hệ  giữa  bệnh  nha  chu  và  bệnh  toàn  thân,  sự  liên 

hệ giữa thành phần vi khuẩn trong mảng bám  trên nướu và mảng bám dưới nướu, màng sinh  học vi khuẩn trên nướu đã trở thành loại màng  sinh  học  được  quan  tâm  và  nghiên  cứu  nhiều  nhất  với  hơn  500  loại  vi  khuẩn  khác  nhau  (Newman & cs, 2012). Kết quả nhuộm Gram từ  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù  hợp  với  tính  chất  đa  dạng  của  vi  khuẩn  trong  màng  sinh  học:  có  cầu  khuẩn  và  trực  khuẩn  Gram  (+),  cầu  khuẩn  và  trực  khuẩn  Gram  (‐),  cùng  với cách sắp xếp đa dạng. 

Trang 6

hiện lấy mẫu mảng bám trên nướu ở mặt ngoài 

của  các  răng  sau  hàm  trên,  nhưng  thay  vì  lấy 

mẫu  mảng  bám  của  các  răng  trong  cùng  một 

phần hàm trong mỗi lần lấy mẫu như phần lớn 

các nghiên cứu khác thì chúng tôi thực hiện lấy 

chéo  các  răng  trong  cùng  một  nhóm  răng  giữa 

hai phần hàm với nhau để giảm thiểu tối đa ảnh 

hưởng  của  lượng  mảng  bám  trên  bề  mặt  từng 

răng đến kết quả số lượng vi khuẩn trong mảng 

bám,  giúp  đánh  giá  chính  xác  hơn  về  hiệu  quả 

kháng khuẩn của các loại NSM.  

Hiệu quả giảm vi khuẩn của NSM bao gồm 

hiệu quả cơ học khi súc mạnh thành tiếng trong 

30 giây và hiệu quả hóa học của các thành phần 

chứa bên trong. 

NSM  chứa  tinh  dầu  thể  hiện  khả  năng 

kháng khuẩn nhanh chóng lên mảng bám răng, 

cao hơn nhóm chứng nước có ý nghĩa thống kê, 

cho  thấy  thành  phần  hoạt  chất  trong  loại  NSM 

này  có  khả  năng  nhanh  chóng  thâm  nhập  vào 

sâu trong màng sinh học và tác động lên các vi 

khuẩn bên trong. Hiệu quả tức thì này được giải 

thích  bởi  phổ  kháng  khuẩn  rộng  và  tác  dụng 

kháng khuẩn cộng hưởng của hỗn hợp các tinh 

dầu  (thymol,  menthol,  eucalyptol,  methyl 

salicylate)  (Henri  &  Juliani,  2012).  Đặc  tính  kị 

nước  của  tinh  dầu  giúp  tăng  khả  năng  thâm 

nhập  qua  lớp  màng  lipid  của  tế  bào  vi  khuẩn, 

làm  biến  tính  protein  màng,  gây  thủng/biến 

dạng màng tế bào, từ đó làm tăng tính thấm dẫn 

đến rò rỉ tế bào chất và có thể gây chết tế bào vi 

khuẩn(5). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 

phù  hợp  với  kết  quả  của  các  nghiên  cứu  khác 

trên thế giới khi đánh giá hiệu quả kháng khuẩn 

của  NSM  chứa  tinh  dầu  sau  một  lần  sử  dụng 

duy nhất: 30 phút sau khi dùng NSM chứa tinh 

dầu,  78.7  %  vi  khuẩn  trong  mảng  bám  chết  so 

với 27.9% khi súc miệng với giả dược(12); 12 giờ 

sau  khi  súc  miệng  với  NSM  tinh  dầu,  lượng  vi 

khuẩn trong mảng bám trên nướu giảm từ 56,3 

đến 87,7%(6). 

Hiệu  quả  kháng  khuẩn  của  NSM  thảo  mộc 

phụ thuộc chủ yếu vào dẫn chất coumarin trong 

bạch chỉ và tinh dầu eugenol trong nụ hoa đinh  hương. Cấu trúc vòng của coumarin gây ức chế  hoạt  động  tổng  hợp  ADN  của  vi  khuẩn,  nhóm  prenyl  trong  cấu  trúc  của  furanocoumarin  làm  tăng tính kị nước của phân tử, giúp chúng xâm  nhập dễ dàng qua màng tế bào vi khuẩn và phát  huy  tác  dụng  kháng  khuẩn  của  hợp  chất  coumarin(14). Eugenol có khả năng gây biến tính 

protein, tương tác với lớp phospholipid màng tế  bào  và  làm  tăng  tính  thấm  của  màng,  dẫn  đến 

sự chết của vi khuẩn (Sulieman & cs, 2007). Các  thành  phần  hóa  học  này  có  tác  dụng  mạnh  mẽ  lên  nhiều  loại  vi  khuẩn  Gram  dương  và  Gram 

âm,  nhưng  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  chúng  thể  hiện  khả  năng  kháng  khuẩn  tức  thì  thấp hơn có ý nghĩa so với NSM chứa tinh dầu 

và cao hơn không có ý nghĩa so với nhóm chứng  nước,  điều  này  góp  phần  khẳng  định  hiệu  quả  kháng khuẩn nhanh chóng của hợp chất các loại  tinh dầu. Tuy nhiên, vì nghiên cứu chỉ thực hiện  tại một thời điểm duy nhất và là nghiên cứu đầu  tiên khảo sát tác dụng diệt khuẩn của hợp chất  chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và đinh hương,  đặc biệt là hiệu quả tác động lên vi khuẩn trong  màng  sinh  học,  nên  chúng  tôi  chưa  thể  đưa  ra  kết luận đầy đủ về hiệu quả diệt khuẩn của loại  thuốc  thảo  mộc  này,  có  thể  cần  tăng  thời  gian  tiếp  xúc  với  môi  trường  miệng  và  cần  một  khoảng  thời  gian  sau  khi  súc  miệng  để  thuốc  thâm nhập vào màng sinh học và phát huy hiệu  quả  kháng  khuẩn;  do  đó,  cần  có  những  nghiên  cứu tiếp theo.  

Mặc  dù  không  có  điều  kiện  để  định  danh  thành phần vi khuẩn trong mảng bám để đưa ra  kết  luận  đầy  đủ  về  độc  lực  và  khả  năng  gây  bệnh  của  chúng,  nhưng  thông  qua  sự  khảo  sát 

về  thay  đổi  về  số  lượng  của  các  vi  khuẩn  gây  tiêu  huyết  β,  nghiên  cứu  khảo  sát  được  phần  nào  về  hiệu  quả  của  các  loại  NSM  lên  một  đặc  tính liên quan khả năng gây bệnh của vi khuẩn  trong  mảng  bám.  Tiêu  huyết  β  là  một  đặc  tính  biểu  hiện  khá  thường  xuyên  của  các  vi  khuẩn  gây  bệnh  và  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  cơ  chế bệnh sinh của vi khuẩn qua quá trình ly giải  sắt  trong  tế  bào  hồng  cầu  và  tạo  điều  kiện  cho 

Trang 7

chủ(15). 

Các vi khuẩn gây tiêu huyết β thường thuộc 

nhóm  Streptoccoci  và  Staphyloccoci,  kết  quả 

nhuộm  Gram  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

cũng đưa ra kết quả tương đồng: trong 8 khúm 

tiêu huyết β đặc trưng được chọn ra để nhuộm, 

7 khúm là cầu khuẩn Gram (+), 1 khúm là trực 

khuẩn  Gram  (‐),  đây  cũng  là  một  trong  những 

chủng  vi  khuẩn  đầu  tiên  bám  dính  vào  màng 

thụ  đắc  của  răng  trong  quá  trình  hình  thành 

màng sinh học và là thành phần vi khuẩn chính 

trong  mảng  bám  sớm(9).  Như  vậy,  kết  quả 

nghiên cứu của chúng tôi cũng giúp giải thích về 

cơ chế tác động của NSM tinh dầu: giảm sự bám 

dính của các vi khuẩn tiên phong, từ đó ngăn sự 

hình  thành  và  trưởng  thành  của  mảng  bám  vi 

khuẩn.  

Mảng  bám  trên  nướu  được  xem  là  nơi  ẩn 

náu của các vi sinh vật gây bệnh nha chu, tạo 

điều  kiện  cho  chúng  xâm  nhập  và  gây  tái 

nhiễm trùng cho hệ thống mô cận kề bên dưới. 

Nghiên cứu này góp phần khẳng định kết quả 

của các nghiên cứu in vitro và in vivo trước đây 

về  hiệu  quả  diệt  khuẩn  của  NSM  chứa  tinh 

dầu  trong  môi  trường  miệng,  cung  cấp  bằng 

chứng bổ sung giúp giải thích cơ chế làm giảm 

lượng  mảng  bám  và  viêm  nướu.  Từ  đó,  thêm 

lý  do  cho  thấy  sự  cần  thiết  của  việc  bổ  sung 

NSM  kháng  khuẩn  vào  qui  trình  chăm  sóc 

răng miệng hằng ngày.  

Bên  cạnh  đó,  mảng  bám  răng  là  một  trong 

những  nguồn  gây  ra  nhiễm  khuẩn  không  khí 

trong phòng nha thông qua các hạt khí dung tạo 

ra  trong  quá  trình  điều  trị  (Harell  &  cs,  2004). 

Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi cũng giúp 

giải thích một phần kết quả của các nghiên cứu 

trước đây về hiệu quả giảm nhiễm khuẩn trong 

không  khí  tạo  ra  trong  quá  trình  điều  trị  nha 

khoa  khi  cho  bệnh  nhân  súc  miệng  với  NSM 

kháng khuẩn trước thủ thuật(7,10), khẳng định sự 

cần thiết của điều này trong việc góp phần tạo ra 

môi  trường  làm  việc  an  toàn  cho  cả  bệnh  nhân 

và những nhà chăm sóc sức khỏe răng miệng. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  thử  nghiệm  lâm  sàng  bắt  chéo trên 27 sinh viên Khoa Răng Hàm Mặt, Đại  học Y Dược TP.HCM về tác động tức thì của các  loại NSM lên số lượng vi khuẩn hiếu khí trong  mảng  bám  trên  nướu,  cho  phép  rút  ra  các  kết  luận sau: 

Khi  so  sánh  số  lượng  vi  khuẩn  hiếu  khí  trong  mảng  bám  trên  nướu  trước  và  sau  súc miệng 

NSM chứa tinh dầu: tổng số lượng vi khuẩn  hiếu  khí  giảm  68,7%  và  số  lượng  vi  khuẩn  tiêu  huyết  β  giảm  74,5%,  sự  giảm  này  có  ý  nghĩa  thống kê (p < 0,001). 

NSM thảo mộc: tổng số lượng vi khuẩn hiếu  khí giảm 25,4% và số lượng vi khuẩn tiêu huyết 

β giảm 31,2%, sự giảm này có ý nghĩa thống kê  (p = 0,001).  

Nhóm  chứng  (nước  cất):  tổng  số  lượng  vi  khuẩn  hiếu  khí  giảm  17,1%  và  số  lượng  vi  khuẩn  tiêu  huyết  β  giảm  3,8%,  sự  giảm  này  không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).  

Khi  so  sánh  hiệu  quả  làm  giảm  vi  khuẩn  hiếu  khí  trong  mảng  bám  trên  nướu  của  các loại NSM 

NSM chứa tinh dầu có hiệu quả giảm tỉ lệ vi  khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tiêu huyết β cao hơn 

so với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống 

kê (p < 0,05). 

NSM  thảo  mộc  có  hiệu  quả  giảm  tỉ  lệ  vi  khuẩn  hiếu  khí  và  vi  khuẩn  tiêu  huyết  β  cao  hơn  so  với  nước  nhưng  không  có  ý  nghĩa 

thống kê (p > 0,05). 

Kết  quả  nghiên  cứu  khẳng  định  khả  năng  xâm  nhập  vào  màng  sinh  học  răng  một  cách  nhanh chóng và tác động lên các vi khuẩn chứa  bên trong của hợp chất các loại tinh dầu. Nghiên  cứu cung cấp lý do cho thấy sự cần thiết của việc 

bổ sung NSM kháng khuẩn vào qui trình chăm  sóc  răng  miệng  hằng  ngày  và  góp  phần  khẳng  định  lợi  ích  của  việc  cho  bệnh  nhân  súc  miệng 

Trang 8

với  NSM  kháng  khuẩn  trước  khi  thực  hiện  các 

thủ thuật can thiệp nha khoa.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abdel Moneim ES, El‐Amin AE, et al (2007). Nutritive value 

of  Clove  and  detection  of  antimicrobial  effect  of  its  bud  oil. 

Research of Journal Microbiology, 2(3): 266‐271. 

2 Bassolé  IH,  Juliani  HR  (2012).  Essential  oils  in  combination 

and their antimicrobial properties. Molecules, 17: 3989‐4006. 

3 DePaola  LG,  Spolarich  AE  (2007).  Safety  and  efficacy  of 

antimicrobial  mouthrinses  in  clinical  practice.  Journal  of 

Dental Hygiene (spec suppl): 13‐25. 

4 Dodwad  V,  Kukreja  BJ  (2012).  Herbal  mouthwash  –  gifts  of 

nature. International Journal of Pharma and Bio Sciences, 3(2): 

46‐52. 

5 Faleiro  ML  (2011).  The  mode  of  antibacterial  action  of 

essential oils. Science against microbial pathogens: 1143‐1156. 

6 Fine  DH,  Furgang  D,  Sinatra  K,  Charles  C,  McGuire  A, 

Kumar  LD  (2005).  In  vivo  antimicrobial  effectiveness  of  an 

essential oil‐containing mouth rinse 12 h after a single use and 

14 days use. J Clin Periodontol, 32(4):335‐340. 

7 Fine  H,  Mendieta  C,  Barnett  ML  (1992).  Efficacy  of 

preprocedural  rinsing  with  an  antiseptic  in  reducing  viable 

bacteria in dental aerosols. J Periodontol, 63: 821‐824. 

8 Gurenlian JR (2009). The role of dental plaque biofilm in oral 

health. Journal of Dental Hygiene, (spec sppl): 4‐12. 

9 Huang R, Li M, Greogory RL (2011). Bacterial interactions in  dental biofilm. Landes Bioscience, Virulence 2(5): 435‐444. 

10 Lê Hoàng Lan Anh (2012). Đánh giá tình trạng không khí tại  khu  điều  trị  Khoa  Răng  Hàm  Mặt  khi  cho  bệnh  nhân  súc  miệng trước thủ thuật. Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm  Mặt, Đại học Y Dược, thành phố Hồ Chí Minh. 

11 Newman MG, Takei HH, Klokkevold PR, Carranza F (2012).  Carranza’s  Clinical  Periodontology.  11 th   edition.  Elsevier  Science Health Science Division. 

12 Pan P, Barnett ML, Coelho J, Brogdon C, Finnegan MB (2000).  Determination  of  the  in  situ  bactericidal  activity  of  an  essential  oil  mouthrinse  using  a  vital  stain  method.  J  Clin  Periodontol, 27(4): 256‐261. 

13 Thomas JG, Nakaishi LA (2006). Managing the complexity of 

a dynamic biofilm. J Am Dent Assoc, 137 (suppl 3): 10S‐15S. 

14 Widelski  J,  Popova  M,  Graikou  K,  Glowniak  K,  Chinou  I  (2009).  Coumarins  from  Angelica  lucida  L.  ‐  Antibacterial  Activities. Molecules, 14: 2729‐2734. 

15 Wilson  JW,  Schurr  MJ,  LeBlanc  CL,  Ramamurthy  R,  Buchanan KL, Nickerson CA (2002). Mechanisms of bacterial  pathogenicity. Postgrad Med J, 78: 216–224. 

  Ngày nhận bài báo: 22/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:11/12/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014  

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w