Nội dung của bài viết trình bày về nước súc miệng kháng khuẩn bổ sung hiệu quả cho qui trình chăm sóc sức khỏe răng miệng hằng ngày, giúp kiểm soát và ngăn ngừa sự hình thành mảng bám vi khuẩn gây bệnh, đánh giá hiệu quả tức thì của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám răng trên nướu và so sánh với một loại nước súc miệng thảo mộc chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và hương.
Trang 1VÀ NƯỚC SÚC MIỆNG THẢO MỘC LÊN LƯỢNG VI KHUẨN
TRONG MẢNG BÁM
Phạm Thị Ngọc Thảo*, Ngô Thị Quỳnh Lan *
TÓM TẮT
Mở đầu: Nước súc miệng (NSM) kháng khuẩn là phương pháp bổ sung hiệu quả cho qui trình chăm sóc
sức khỏe răng miệng hằng ngày, giúp kiểm soát và ngăn ngừa sự hình thành mảng bám vi khuẩn gây bệnh. Nổi bật trong thị trường NSM công nghiệp là NSM chứa tinh dầu với tính hiệu quả, an toàn và ít tác dụng phụ khi
sử dụng trong thời gian dài. Bên cạnh đó, tác dụng của các hợp chất chiết xuất từ thảo mộc thiên nhiên cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu do tỉ lệ đề kháng của các vi sinh vật gây bệnh đối với các tác nhân kháng khuẩn ngày càng tăng cao.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả tức thì của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám
răng trên nướu và so sánh với một loại NSM thảo mộc chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và đinh hương.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, tiến hành trên 27 sinh viên Khoa
Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm. Tại mỗi đợt thử nghiệm, mỗi nhóm sử dụng ngẫu nhiên trong 30 giây: NSM Listerine Cool Mint (20ml), hoặc NSM thảo mộc (60 giọt thuốc pha 20ml nước), hoặc nước cất (20ml). Mảng bám trên nướu được lấy tại thời điểm trước và ngay sau khi súc miệng, được xử lí và cấy trên thạch máu cừu, ủ 48 giờ trong điều kiện hiếu khí. Tổng số khúm khuẩn
và khúm tiêu huyết β trên mỗi hộp thạch được đếm và tính ra số đơn vị tạo khúm trong 1ml (CFU/ml). Sau mỗi đợt thử nghiệm là thời kì rửa 1 tuần trước khi bắt đầu đợt thử nghiệm kế tiếp với loại NSM khác.
Kết quả: Ngay sau khi súc miệng, lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β giảm 68,7% và
74,5% ở nhóm NSM chứa tinh dầu, 25,4% và 31,2% ở nhóm NSM thảo mộc, 17,1% và 3,8% ở nhóm nước cất. Hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β tức thì của NSM chứa tinh dầu cao hơn so với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống kê (p<0,05), NSM thảo mộc có hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn cao hơn nước nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Kết luận: NSM chứa tinh dầu có khả năng xâm nhập nhanh chóng vào màng sinh học răng và tác động
diệt khuẩn lên các vi khuẩn chứa bên trong.
Từ khóa: nước súc miệng chứa tinh dầu, nước súc miệng thảo mộc, mảng bám răng, vi khuẩn hiếu khí, vi
khuẩn gây tiêu huyết β.
ABSTRACT
IMMEDIATE EFFECT OF ESSENTIAL OIL AND HERBAL MOUTHRINSE
ON PLAQUE BACTERIA
Pham Thi Ngoc Thao, Ngo Thi Quynh Lan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 339 ‐ 346
Introduction: Antimicrobial mouthrinse is an effective adjunct for daily oral hygiene regimen that helps
control and prevent the formation of plaque bacteria. Standing out from a number of chemical agents currently available in the market, essential oil mouthrinse (EO) has demonstrated its efficacy, safety and few side effects
* Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP HCM
Tác giả liên lạc: BS. Phạm Thị Ngọc Thảo ĐT: 0937767996 Email: ngocthaorhm2007@gmail.com.
Trang 2when used for a long time. Besides that, anti‐infective potential of bioactive compounds extracted from plants attract many researcher’s attention when the resistance of many common pathogens to currently used therapeutic
agents is increasing.
Objectives: Assess the immediate antimicrobial effect of EO on the amount of aerobes in supragingival
plaque, and compare with a herbal mouthrinse (H, full extracts from Angelica and Clove).
Material and methods: This cross‐over clinical trial was conducted on 27 dental students of the Faculty of Odonto Stomatology, University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh City. They were randomly divided into 3 groups. On the sampling days, either Listerine Cool Mint (20ml) or herbal mouthrinse (60 drops mixed with 20ml water) or distilled water (20ml) was randomly administered to each of the 3 groups. Supragingival plaque were collected at: (1) baseline and (2) immediately following a 30s‐rinse, then cultured onto sheep blood agar plates for 48 hours under aerobic conditions. Colony‐forming units (CFU) of total cultivable aerobes and β‐ hemolytic colonies on plates were counted and inferred the number of viable organisms (CFU/ml). Experimental
periods were separated by a one‐week washout period before starting the next trial with alternative mouthrinse.
Results: There was no statistically significant difference at baseline (p > 0.05). After 30s rinsing, the percent reductions of total aerobes and β‐hemolytic aerobes were 68.7% and 74.5% in EO group, 25.4% and 31.2% in H group, 17.1% and 3.8% in control group. EO produced significant reductions in number of the aerobes (p < 0.05)
in comparison with the control group as well as H one; the herbal mouthwash exhibited no significant higher immediate antimicrobial effect than control mouthwash (p > 0.05)
Conclusion: EO formulation has ability to quickly penetrate the dental biofilm and exert a bactericidal activity on the organisms contained therein.
Keywords: essential oil mouthrinse, herbal mouthrinse, dental plaque, aerobe, β‐hemolytic bacteria.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mảng bám vi khuẩn là điều kiện tiên quyết
gây ra sâu răng, là nguyên nhân của bệnh nha
chu gồm có viêm nướu và viêm nha chu. Bên
cạnh đó mối liên hệ giữa bệnh nha chu và một
số bệnh toàn thân ngày càng được chứng minh
một cách rõ rệt(8). Do đó, kiểm soát mảng bám vi
khuẩn trở thành mục tiêu hàng đầu của những
nhà thực hành nha khoa trong công cuộc chăm
sóc sức khỏe răng miệng toàn diện và cải thiện
tình trạng bệnh toàn thân.
Quan niệm mảng bám răng là một màng
sinh học giúp giải thích đặc tính gây bệnh và sự
khó khăn trong sự loại bỏ hoàn toàn mảng bám,
đồng thời giúp đưa ra phương pháp kiểm soát
mảng bám hiệu quả và toàn diện. Mặc dù màng
sinh học không thể loại bỏ hoàn toàn nhưng đặc
tính gây bệnh của màng sinh học răng có thể
giảm bớt bằng cách làm nhẹ gánh nặng vi sinh
(bioburden) và duy trì hệ tạp khuẩn cân bằng
trong môi trường miệng với phương pháp vệ
sinh răng miệng đúng đắn hằng ngày bao gồm
chải răng, sử dụng chỉ nha khoa và nước súc miệng kháng khuẩn(13).
Nổi bật trên thị trường NSM công nghiệp phong phú và đa dạng là NSM chứa tinh dầu với tính hiệu quả, an toàn và ít tác dụng phụ khi
sử dụng trong thời gian dài được chứng minh qua nhiều nghiên cứu (DePaola & Spolarich, 2007). Trong xu hướng phát triển các ứng dụng
y học cổ tryền và các liệu pháp điều trị bằng thảo dược, tác dụng kháng khuẩn của các hợp chất chiết xuất từ thảo mộc thiên nhiên ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu do khả năng đề kháng của các vi sinh vật gây bệnh đối với các tác nhân kháng khuẩn ngày càng tăng cao và nhu cầu tìm ra những tác nhân kháng khuẩn mới an toàn và hiệu quả(4). Bên cạnh đó, khả năng đề kháng với các chất kháng khuẩn của vi khuẩn trong màng sinh học cao gấp 1000‐1500 so với những vi khuẩn sống
tự do(11), cho thấy sự cần thiết của những nghiên
cứu in vivo để đánh giá đúng đắn hiệu quả thâm
nhập vào màng sinh học và tác động lên vi
Trang 3Tuy nhiên, tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa
có nghiên cứu lâm sàng nào đánh giá hiệu quả
kháng khuẩn của NSM chứa tinh dầu và NSM
thảo mộc lên mảng bám răng.
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này để đánh giá hiệu quả kháng khuẩn tức thì
của NSM chứa tinh dầu lên lượng vi khuẩn hiếu
khí trong mảng bám răng trên nướu và so sánh
với một loại NSM thảo mộc có chiết xuất toàn
phần từ hai loại thảo dược thiên nhiên (bạch chỉ
và đinh hương).
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
27 sinh viên Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh, 18‐25 tuổi, thỏa
các tiêu chí:
Có ít nhất 20 răng thật (đầy đủ các răng cối
nhỏ và răng cối lớn hàm trên, trừ răng cối lớn
thứ 3).
Cung răng hàm trên tương đối cân xứng.
Không có thói quen nhai một bên.
Không có sâu răng lớn chưa điều trị và các
bệnh lý viêm nhiễm mô mềm vùng miệng (trừ
viêm nướu nhẹ).
Không có tiền sử bệnh lý toàn than / bệnh
nha chu.
Không than phiền khô miệng hoặc dị ứng
với các loại NSM.
Không dùng kháng sinh toàn thân trong
vòng 1 tháng trước khi tham gia nghiên cứu.
Không mang mắc cài chỉnh hình hoặc hàm
giả.
Các đối tượng sử dụng kháng sinh, hoặc
mắc các bệnh lý viêm nhiễm vùng miệng, hoặc
bị chấn thương vùng đầu mặt trong quá trình
tham gia nghiên cứu sẽ bị loại ra khỏi nghiên
cứu.
Các đối tượng được giải thích và đồng ý tự
nguyện tham gia nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, ngẫu nhiên, mù đơn, có nhóm chứng.
Quá trình thực hiện
27 đối tượng chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm (mỗi nhóm 9 đối tượng), đều trải qua 3 lần thử nghiệm với 1 thời kì rửa trước lần thử nghiệm đầu tiên và 2 thời kì rửa xen kẽ. Mỗi thời kì rửa kéo dài 7 ngày. Một tuần trước khi bắt đầu tham gia nghiên cứu, các đối tượng được cung cấp cùng một loại bàn chải lông mềm và kem đánh răng không chứa triclosan, chải răng theo thói quen thông thường của họ và không dùng bất kì loại nước súc miệng nào trong thời gian tham gia nghiên cứu. Trước mỗi lần thử nghiệm, kể từ lần chải răng cuối cùng tối hôm trước đến buổi sáng can thiệp, các đối tượng không sử dụng tất
cả các phương pháp vệ sinh răng miệng cũng như bất kì loại thức ăn và nước uống nào.
Tại mỗi đợt thử nghiệm, mỗi nhóm súc miệng trong 30 giây một trong các loại NSM sau: Listerine Cool Mint (20ml), NSM thảo mộc (60 giọt thuốc pha 20ml nước), nước cất vô trùng (20ml). Mẫu mảng bám trên nướu được lấy tại thời điểm: (1) trước, và (2) ngay sau khi súc miệng.
Lấy mẫu mảng bám
Lần thử nghiệm 1:
‐ Trước súc miệng: sau khi cô lập vùng lấy mẫu bằng gòn cuộn, dùng cây nạo nha chu vô khuẩn lấy mảng bám trên nướu lần lượt ở mặt ngoài RCN2, RCL2 hàm trên một bên ngẫu nhiên và RCN1, RCL1 phần hàm trên bên còn lại (đặt dụng cụ ngang viền nướu, bờ tác dụng ôm sát mặt răng, kéo từ xa đến gần). Cho ngay đầu cây nạo vào ống nghiệm chứa 2ml dung dịch nước cất vô trùng sau mỗi lần lấy mẫu, lắc trong
10 giây để hòa lượng mảng bám dính trên cây nạo vào dung dịch. Sau đó, chuyển các mẫu vào phòng xét nghiệm vi sinh.
‐ Sau súc miệng: thực hiện giống như trước khi súc miệng nhưng lấy ở mặt ngoài các răng
Trang 4còn lại của nhóm RCN và RCL phần hàm trên
hai bên.
Lần thử nghiệm 2: Các nhóm thay đổi loại
NSM sử dụng, thực hiện lấy mẫu như lần thử
nghiệm 1 nhưng thứ tự phần hàm lấy mẫu
ngược lại so với lần 1.
Lần thử nghiệm 3: Các nhóm thay đổi loại
NSM sử dụng, thực hiện lấy mẫu như lần thử
nghiệm 1.
Việc lấy mẫu mảng bám được thực hiện bởi
cùng một người trong suốt quá trình nghiên
cứu. Đồng thời, người lấy mẫu mảng bám và
người phát NSM cho các đối tượng nghiên cứu
là hai người khác nhau, giúp loại bỏ yếu tố chủ
quan và tăng độ tin cậy của kết quả được thu
thập.
Nuôi cấy vi sinh
Các ống nghiệm chứa mẫu mảng bám được
pha loãng 600 lần, lấy 30μl dung dịch đã pha
loãng cấy dàn trải lên đĩa thạch máu, ủ 48 giờ
trong điều kiện hiếu khí (370C, 5‐10% CO2). Sau
đó, đếm tổng số khúm vi khuẩn mọc trên mặt
đĩa thạch và số khúm vi khuẩn tiêu huyết, tính
ra số đơn vị tạo khúm trong 1ml (CFU/ml).
Một vài khúm khuẩn đặc trưng được nhà nghiên cứu vi sinh chọn ra, nhuộm Gram và quan sát dưới kính hiển vi để đánh giá hình dạng và cách sắp xếp của một số loại vi khuẩn trong môi trường miệng.
Xử lí số liệu
Phép kiểm Krusskal‐Wallis, Mann‐Whitney
U, Wilcoxon được sử dụng để xử lí số liệu thu được với phần mềm SPSS 16.0.
KẾT QUẢ
27 sinh viên tham gia (10 nam, 17 nữ) với độ tuổi trung bình là 21,96, đều hoàn thành nghiên cứu một cách thuận lợi và không ghi nhận bất kì tác dụng phụ nào.
Bảng 1 cho thấy số lượng vi khuẩn hiếu khí
và vi khuẩn gây tiêu huyết β trong mảng bám trên nướu của các đối tượng trước mỗi giai đoạn thử nghiệm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều này có nghĩa là quá trình điều chỉnh mẫu kết hợp với các thời kì rửa có ý nghĩa, giúp mẫu nghiên cứu đạt được tình trạng vi khuẩn trong mảng bám trên nướu ổn định trước mỗi giai đoạn thử nghiệm nói riêng và trong suốt quá trình nghiên cứu nói chung.
Bảng 1: Số lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tiêu huyết trong mảng bám trên nướu (x10 4 CFU/ml) trước khi
sử dụng các loại NSM.
(TB ± ĐLC)
NSM thảo mộc (TB ± ĐLC)
Nước cất (TB ± ĐLC)
p (*)
VK hiếu khí
VK tiêu huyết
528,30 ± 537,61 355,78 ± 448,67
510,44 ± 453,70 305,11 ± 359,94
527,85 ± 607,31 314,96 ± 472,96
0,978 0,996
(*): Kiểm định Kruskal Wallis.
Sự thay đổi về số lượng vi khuẩn giữa thời
điểm trước và sau súc miệng được thể hiện
trong Bảng 2 và Bảng 3: TB số lượng vi khuẩn
hiếu khí và vi khuẩn gây tiêu huyết β giảm có ý
nghĩa thống kê ở nhóm dùng NSM tinh dầu (p < 0,001) và NSM thảo mộc (p = 0,001); còn ở nhóm chứng, sự khác biệt về TB số lượng vi khuẩn không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 2: Sự thay đổi số lượng vi khuẩn hiếu khí (x10 4 CFU/ml) trong mảng bám trên nướu trước và sau khi sử dụng từng loại NSM.
NSM chứa tinh dầu
NSM thảo mộc
Nước cất
528,30 ± 537,61 510,44 ± 453,70 527,85 ± 607,31
178,67 ± 273,28 258,22 ± 212,30 377,04 ± 456,32
0,000 0,001 0,075
(*): Test phi tham số Wilcoxon xếp hạng có dấu.
Trang 5Bảng 3: Sự thay đổi số lượng vi khuẩn gây tiêu huyết β (x10 4 CFU/ml) trong mảng bám trên nướu trước và sau khi sử dụng từng loại NSM.
NSM chứa tinh dầu
NSM thảo mộc
Nước cất
355,78 ± 448,67 305,11 ± 359,94 314,96 ± 472,96
80,00 ± 176,12 111,33 ± 117,97 233,70 ± 403,56
0,000 0,001 0,069
(*): Test phi tham số Wilcoxon xếp hạng có dấu.
Tỉ lệ giảm (%) vi khuẩn của các loại NSM
được thể hiện trong Biểu đồ 1 và kết quả so sánh
tỉ lệ giảm vi khuẩn giữa các loại NSM được thể
hiện trong Bảng 4.
68,7
25,4
17,1
74,5
31,2
3,8 0
20
40
60
80
VK hiếu khí
VK tiêu huyết β
Biểu đồ 1: Tỉ lệ giảm (%) vi khuẩn hiếu khí và vi
khuẩn gây tiêu huyết β của các loại NSM.
Biểu đồ 1 cho thấy ngay sau khi súc miệng,
NSM tinh dầu có hiệu quả giảm vi khuẩn cao
nhất, tiếp theo là nhóm NSM thảo mộc, và nhóm
chứng có hiệu quả giảm vi khuẩn thấp nhất.
Nhóm NSM chứa tinh dầu và NSM thảo mộc có
hiệu quả lên vi khuẩn gây tiêu huyết β cao hơn
so với tổng số lượng vi khuẩn hiếu khí, trong khi
đó, nhóm chứng có hiệu quả lên tổng lượng vi
khuẩn hiếu khí cao hơn so với vi khuẩn gây tiêu
huyết β.
Bảng: So sánh tỉ lệ (%) giảm vi khuẩn hiếu khí giữa
các loại NSM.
VK hiếu khí VK gây tiêu
NSM tinh dầu-Nước cất
NSM thảo mộc-Nước cất
NSM tinh dầu-NSM thảo mộc
0,001 0,647 0,001
0,002 0,691 0,003
(*): Phép kiểm Mann‐Whitney U.
Kết quả từ Bảng 4 cho thấy: NSM tinh dầu có
hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí cao hơn so
với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05), hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn của NSM thảo mộc cao hơn nước không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05).
Kết quả nhuộm Gram từ 31 khúm khuẩn được chọn: 12 khúm có hình ảnh cầu khuẩn Gram (+), 9 khúm có cầu khuẩn Gram (‐), 9 khúm có trực khuẩn Gram (‐) và 3 khúm có trực khuẩn Gram (+) với cách sắp xếp đa dạng: riêng
lẻ, từng đôi một, dạng chuỗi, dạng chùm nho hay từng đám Trong tổng số 31 khúm được chọn, có 8 khúm tiêu huyết với kết quả nhuộm cho thấy: 7 khúm là cầu khuẩn Gram (+), 1 khúm là trực khuẩn Gram (‐).
BÀN LUẬN
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, các đối tượng tham gia nghiên cứu lần lượt được thử nghiệm các loại NSM theo thứ tự ngẫu nhiên. Điều này giúp hạn chế tối đa sự khác biệt giữa các cá thể khi so sánh hiệu quả kháng khuẩn của các loại NSM, đặc biệt là đối với các nghiên cứu về vi sinh vùng miệng, khi số lượng
và thành phần vi khuẩn thường có sự dao động đáng kể giữa các cá thể.
Dựa trên mối liên hệ lâm sàng giữa sự tích
tụ mảng bám và bệnh nha chu, mối liên hệ giữa bệnh nha chu và bệnh toàn thân, sự liên
hệ giữa thành phần vi khuẩn trong mảng bám trên nướu và mảng bám dưới nướu, màng sinh học vi khuẩn trên nướu đã trở thành loại màng sinh học được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất với hơn 500 loại vi khuẩn khác nhau (Newman & cs, 2012). Kết quả nhuộm Gram từ nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tính chất đa dạng của vi khuẩn trong màng sinh học: có cầu khuẩn và trực khuẩn Gram (+), cầu khuẩn và trực khuẩn Gram (‐), cùng với cách sắp xếp đa dạng.
Trang 6hiện lấy mẫu mảng bám trên nướu ở mặt ngoài
của các răng sau hàm trên, nhưng thay vì lấy
mẫu mảng bám của các răng trong cùng một
phần hàm trong mỗi lần lấy mẫu như phần lớn
các nghiên cứu khác thì chúng tôi thực hiện lấy
chéo các răng trong cùng một nhóm răng giữa
hai phần hàm với nhau để giảm thiểu tối đa ảnh
hưởng của lượng mảng bám trên bề mặt từng
răng đến kết quả số lượng vi khuẩn trong mảng
bám, giúp đánh giá chính xác hơn về hiệu quả
kháng khuẩn của các loại NSM.
Hiệu quả giảm vi khuẩn của NSM bao gồm
hiệu quả cơ học khi súc mạnh thành tiếng trong
30 giây và hiệu quả hóa học của các thành phần
chứa bên trong.
NSM chứa tinh dầu thể hiện khả năng
kháng khuẩn nhanh chóng lên mảng bám răng,
cao hơn nhóm chứng nước có ý nghĩa thống kê,
cho thấy thành phần hoạt chất trong loại NSM
này có khả năng nhanh chóng thâm nhập vào
sâu trong màng sinh học và tác động lên các vi
khuẩn bên trong. Hiệu quả tức thì này được giải
thích bởi phổ kháng khuẩn rộng và tác dụng
kháng khuẩn cộng hưởng của hỗn hợp các tinh
dầu (thymol, menthol, eucalyptol, methyl
salicylate) (Henri & Juliani, 2012). Đặc tính kị
nước của tinh dầu giúp tăng khả năng thâm
nhập qua lớp màng lipid của tế bào vi khuẩn,
làm biến tính protein màng, gây thủng/biến
dạng màng tế bào, từ đó làm tăng tính thấm dẫn
đến rò rỉ tế bào chất và có thể gây chết tế bào vi
khuẩn(5). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
phù hợp với kết quả của các nghiên cứu khác
trên thế giới khi đánh giá hiệu quả kháng khuẩn
của NSM chứa tinh dầu sau một lần sử dụng
duy nhất: 30 phút sau khi dùng NSM chứa tinh
dầu, 78.7 % vi khuẩn trong mảng bám chết so
với 27.9% khi súc miệng với giả dược(12); 12 giờ
sau khi súc miệng với NSM tinh dầu, lượng vi
khuẩn trong mảng bám trên nướu giảm từ 56,3
đến 87,7%(6).
Hiệu quả kháng khuẩn của NSM thảo mộc
phụ thuộc chủ yếu vào dẫn chất coumarin trong
bạch chỉ và tinh dầu eugenol trong nụ hoa đinh hương. Cấu trúc vòng của coumarin gây ức chế hoạt động tổng hợp ADN của vi khuẩn, nhóm prenyl trong cấu trúc của furanocoumarin làm tăng tính kị nước của phân tử, giúp chúng xâm nhập dễ dàng qua màng tế bào vi khuẩn và phát huy tác dụng kháng khuẩn của hợp chất coumarin(14). Eugenol có khả năng gây biến tính
protein, tương tác với lớp phospholipid màng tế bào và làm tăng tính thấm của màng, dẫn đến
sự chết của vi khuẩn (Sulieman & cs, 2007). Các thành phần hóa học này có tác dụng mạnh mẽ lên nhiều loại vi khuẩn Gram dương và Gram
âm, nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng thể hiện khả năng kháng khuẩn tức thì thấp hơn có ý nghĩa so với NSM chứa tinh dầu
và cao hơn không có ý nghĩa so với nhóm chứng nước, điều này góp phần khẳng định hiệu quả kháng khuẩn nhanh chóng của hợp chất các loại tinh dầu. Tuy nhiên, vì nghiên cứu chỉ thực hiện tại một thời điểm duy nhất và là nghiên cứu đầu tiên khảo sát tác dụng diệt khuẩn của hợp chất chiết xuất toàn phần từ bạch chỉ và đinh hương, đặc biệt là hiệu quả tác động lên vi khuẩn trong màng sinh học, nên chúng tôi chưa thể đưa ra kết luận đầy đủ về hiệu quả diệt khuẩn của loại thuốc thảo mộc này, có thể cần tăng thời gian tiếp xúc với môi trường miệng và cần một khoảng thời gian sau khi súc miệng để thuốc thâm nhập vào màng sinh học và phát huy hiệu quả kháng khuẩn; do đó, cần có những nghiên cứu tiếp theo.
Mặc dù không có điều kiện để định danh thành phần vi khuẩn trong mảng bám để đưa ra kết luận đầy đủ về độc lực và khả năng gây bệnh của chúng, nhưng thông qua sự khảo sát
về thay đổi về số lượng của các vi khuẩn gây tiêu huyết β, nghiên cứu khảo sát được phần nào về hiệu quả của các loại NSM lên một đặc tính liên quan khả năng gây bệnh của vi khuẩn trong mảng bám. Tiêu huyết β là một đặc tính biểu hiện khá thường xuyên của các vi khuẩn gây bệnh và đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của vi khuẩn qua quá trình ly giải sắt trong tế bào hồng cầu và tạo điều kiện cho
Trang 7chủ(15).
Các vi khuẩn gây tiêu huyết β thường thuộc
nhóm Streptoccoci và Staphyloccoci, kết quả
nhuộm Gram trong nghiên cứu của chúng tôi
cũng đưa ra kết quả tương đồng: trong 8 khúm
tiêu huyết β đặc trưng được chọn ra để nhuộm,
7 khúm là cầu khuẩn Gram (+), 1 khúm là trực
khuẩn Gram (‐), đây cũng là một trong những
chủng vi khuẩn đầu tiên bám dính vào màng
thụ đắc của răng trong quá trình hình thành
màng sinh học và là thành phần vi khuẩn chính
trong mảng bám sớm(9). Như vậy, kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cũng giúp giải thích về
cơ chế tác động của NSM tinh dầu: giảm sự bám
dính của các vi khuẩn tiên phong, từ đó ngăn sự
hình thành và trưởng thành của mảng bám vi
khuẩn.
Mảng bám trên nướu được xem là nơi ẩn
náu của các vi sinh vật gây bệnh nha chu, tạo
điều kiện cho chúng xâm nhập và gây tái
nhiễm trùng cho hệ thống mô cận kề bên dưới.
Nghiên cứu này góp phần khẳng định kết quả
của các nghiên cứu in vitro và in vivo trước đây
về hiệu quả diệt khuẩn của NSM chứa tinh
dầu trong môi trường miệng, cung cấp bằng
chứng bổ sung giúp giải thích cơ chế làm giảm
lượng mảng bám và viêm nướu. Từ đó, thêm
lý do cho thấy sự cần thiết của việc bổ sung
NSM kháng khuẩn vào qui trình chăm sóc
răng miệng hằng ngày.
Bên cạnh đó, mảng bám răng là một trong
những nguồn gây ra nhiễm khuẩn không khí
trong phòng nha thông qua các hạt khí dung tạo
ra trong quá trình điều trị (Harell & cs, 2004).
Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi cũng giúp
giải thích một phần kết quả của các nghiên cứu
trước đây về hiệu quả giảm nhiễm khuẩn trong
không khí tạo ra trong quá trình điều trị nha
khoa khi cho bệnh nhân súc miệng với NSM
kháng khuẩn trước thủ thuật(7,10), khẳng định sự
cần thiết của điều này trong việc góp phần tạo ra
môi trường làm việc an toàn cho cả bệnh nhân
và những nhà chăm sóc sức khỏe răng miệng.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo trên 27 sinh viên Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM về tác động tức thì của các loại NSM lên số lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám trên nướu, cho phép rút ra các kết luận sau:
Khi so sánh số lượng vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám trên nướu trước và sau súc miệng
NSM chứa tinh dầu: tổng số lượng vi khuẩn hiếu khí giảm 68,7% và số lượng vi khuẩn tiêu huyết β giảm 74,5%, sự giảm này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
NSM thảo mộc: tổng số lượng vi khuẩn hiếu khí giảm 25,4% và số lượng vi khuẩn tiêu huyết
β giảm 31,2%, sự giảm này có ý nghĩa thống kê (p = 0,001).
Nhóm chứng (nước cất): tổng số lượng vi khuẩn hiếu khí giảm 17,1% và số lượng vi khuẩn tiêu huyết β giảm 3,8%, sự giảm này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Khi so sánh hiệu quả làm giảm vi khuẩn hiếu khí trong mảng bám trên nướu của các loại NSM
NSM chứa tinh dầu có hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tiêu huyết β cao hơn
so với NSM thảo mộc và nước có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05).
NSM thảo mộc có hiệu quả giảm tỉ lệ vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn tiêu huyết β cao hơn so với nước nhưng không có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05).
Kết quả nghiên cứu khẳng định khả năng xâm nhập vào màng sinh học răng một cách nhanh chóng và tác động lên các vi khuẩn chứa bên trong của hợp chất các loại tinh dầu. Nghiên cứu cung cấp lý do cho thấy sự cần thiết của việc
bổ sung NSM kháng khuẩn vào qui trình chăm sóc răng miệng hằng ngày và góp phần khẳng định lợi ích của việc cho bệnh nhân súc miệng
Trang 8với NSM kháng khuẩn trước khi thực hiện các
thủ thuật can thiệp nha khoa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Abdel Moneim ES, El‐Amin AE, et al (2007). Nutritive value
of Clove and detection of antimicrobial effect of its bud oil.
Research of Journal Microbiology, 2(3): 266‐271.
2 Bassolé IH, Juliani HR (2012). Essential oils in combination
and their antimicrobial properties. Molecules, 17: 3989‐4006.
3 DePaola LG, Spolarich AE (2007). Safety and efficacy of
antimicrobial mouthrinses in clinical practice. Journal of
Dental Hygiene (spec suppl): 13‐25.
4 Dodwad V, Kukreja BJ (2012). Herbal mouthwash – gifts of
nature. International Journal of Pharma and Bio Sciences, 3(2):
46‐52.
5 Faleiro ML (2011). The mode of antibacterial action of
essential oils. Science against microbial pathogens: 1143‐1156.
6 Fine DH, Furgang D, Sinatra K, Charles C, McGuire A,
Kumar LD (2005). In vivo antimicrobial effectiveness of an
essential oil‐containing mouth rinse 12 h after a single use and
14 days use. J Clin Periodontol, 32(4):335‐340.
7 Fine H, Mendieta C, Barnett ML (1992). Efficacy of
preprocedural rinsing with an antiseptic in reducing viable
bacteria in dental aerosols. J Periodontol, 63: 821‐824.
8 Gurenlian JR (2009). The role of dental plaque biofilm in oral
health. Journal of Dental Hygiene, (spec sppl): 4‐12.
9 Huang R, Li M, Greogory RL (2011). Bacterial interactions in dental biofilm. Landes Bioscience, Virulence 2(5): 435‐444.
10 Lê Hoàng Lan Anh (2012). Đánh giá tình trạng không khí tại khu điều trị Khoa Răng Hàm Mặt khi cho bệnh nhân súc miệng trước thủ thuật. Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược, thành phố Hồ Chí Minh.
11 Newman MG, Takei HH, Klokkevold PR, Carranza F (2012). Carranza’s Clinical Periodontology. 11 th edition. Elsevier Science Health Science Division.
12 Pan P, Barnett ML, Coelho J, Brogdon C, Finnegan MB (2000). Determination of the in situ bactericidal activity of an essential oil mouthrinse using a vital stain method. J Clin Periodontol, 27(4): 256‐261.
13 Thomas JG, Nakaishi LA (2006). Managing the complexity of
a dynamic biofilm. J Am Dent Assoc, 137 (suppl 3): 10S‐15S.
14 Widelski J, Popova M, Graikou K, Glowniak K, Chinou I (2009). Coumarins from Angelica lucida L. ‐ Antibacterial Activities. Molecules, 14: 2729‐2734.
15 Wilson JW, Schurr MJ, LeBlanc CL, Ramamurthy R, Buchanan KL, Nickerson CA (2002). Mechanisms of bacterial pathogenicity. Postgrad Med J, 78: 216–224.
Ngày nhận bài báo: 22/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo:11/12/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014