1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh trong trường học tại tỉnh Khánh Hòa năm học 2012‐2013

7 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 352,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh theo cấp học và khu vực tại tỉnh Khánh Hòa năm học 2012‐2013. Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Thời gian thực hiện từ 9/2012‐5/2013. Nghiên cứu tiến hành bằng cách phỏng vấn, quan sát và đo đạc trực tiếp tại 100 trường học. Số liệu thu thập được quy về thang điểm tự thiết kế để tính điểm trung bình (ĐTB) cho các hoạt động.

Trang 1

 HỌC SINH TRONG TRƯỜNG HỌC TẠI TỈNH KHÁNH HÒA  

NĂM HỌC 2012‐2013 

Trần Nguyễn Vân Như, Dương Trọng Phỉ, Lê Thị Hồng Hạnh * 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh trong nhà trường hiện nay còn nhiều khó khăn, 

bất cập. Để từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc chăm sóc sức khỏe học sinh tại tỉnh Khánh Hòa,  trước mắt cần xác định vấn đề cụ thể và đối tượng ưu tiên cần can thiệp thông qua việc đánh giá thực trạng quản 

lý chăm sóc sức khỏe học sinh theo từng cấp học và từng khu vực khác nhau trong toàn tỉnh. 

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh theo cấp học và khu vực tại tỉnh 

Khánh Hòa năm học 2012‐2013. 

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Thời gian thực hiện từ 9/2012‐5/2013. Nghiên cứu tiến hành 

bằng cách phỏng vấn, quan sát và đo đạc trực tiếp tại 100 trường học. Số liệu thu thập được quy về thang điểm 

tự thiết kế để tính điểm trung bình (ĐTB) cho các hoạt động.  

Kết quả: Điểm trung bình chung về công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh là 6,9/10 (min = 1,96; max 

= 8,96). Điểm trung bình theo 5 hoạt động chính không đồng đều: như phòng y tế có tỷ lệ đạt chuẩn thấp (ĐTB =  3,9; min = 0, max = 7,8) trong khi hoạt động giáo dục sức khỏe (ĐTB = 9,8; min = 5, max = 10) có điểm trung  bình cao hơn. Có sự khác biệt trong công tác kiểm tra vệ sinh giữa 3 cấp học, cấp trung học phổ thông có ĐTB  thấp nhất (p = 0,001). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các khu vực về Phòng Y tế (p=0,003), quản lý sức  khỏe (p=0,008), giáo dục sức khỏe (p<0,001), giám sát bệnh truyền nhiễm (p<0,001). Công tác quản lý chăm sóc  sức khỏe nói chung ở vùng miền núi có điểm trung bình thấp hơn so với các vùng khác có ý nghĩa thống kê  (p=0,01). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các trường đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn về yếu tố phòng y tế  (p=0,003) và giáo dục sức khỏe (p=0,045). 

Kết  luận: Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh tại tỉnh Khánh Hòa đạt điểm trung bình 6,9/10. 

Phòng Y tế trong trường học là vấn đề thiết yếu cần được cải thiện. Các trường cấp trung học phổ thông, các  trường huyện miền núi và trường chưa đạt chuẩn là nhóm đối tượng ưu tiên cần được can thiệp trong việc cải  thiện công tác chăm sóc sức khỏe học sinh tại trường học.  

Từ khóa: Quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh, sức khoẻ trường học, tỉnh Khánh Hòa. 

ABSTRACT 

SCHOOL HEALTH PROGRAMME MANAGEMENT IN KHANH HOA PROVINCE, 2012‐2013 

Tran Nguyen Van Nhu, Duong Trong Phi, Le Thi Hong Hanh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 682 ‐ 688 

Background:  School  health  management  nowadays  has  been  confronted  with  a  variety  of  difficulties  and 

obstacles.  To  improve  the  quality  and  effectiveness  of  the  school  health  program  in  Khanh  Hoa  province,  it  is  necessary  to  identify gaps and priority issues  by  assessing  the  school  health program  management  in  terms  of  geographic areas and school settings.  

Objectives: To assess the status of school health management in terms of different school levels and regions 

in Khanh Hoa Province between 2012 and 2013. 

* Viện Pasteur Nha Trang 

Trang 2

Method:  A  cross‐sectional  study  was  carried  out  from  September  2012  to  May  2013.  The  study  was 

conducted among 100 schools by using a structured questionnaire, direct observation, and direct measuring. The  status  of  school  health  management  was  measured  based  on  average  score  converted  from  21  criteria  of  the  questionnaire.  

Results:  Mean  score  of  school  health  program  management  was  6.9.  While  mean  score  for  school  health 

facility was only 3.9, the mean score for health promotion activities was much higher at 9.8. The mean score for  school  health  facilities,  school  health  management,  health  promotion  and  monitoring  infectious  disease  were  significantly  different  between  urban  and  rural  areas,  and  types  of  schools  (p<0.001).  The  mean  score  of  the  schools  in  urban  area  was  significantly  higher  comparing  with  that  in  rural  area.  The  mean  score  of  the  standardized schools was also significantly higher than that of the non‐ standardized schools.  

Conclusion: Overall, scores for school health management was average 6.9/10. The results suggested that 

school  health  facility  is  an  issue  needed  to  improve  in  future  interventions.  The  interventions  should  be  significantly concentrated on high schools, schools in rural areas and non‐standardized schools to improve school  health management.  

Key words: School health management, school health, Khanh Hoa province.  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe học sinh 

từ  lâu  đã  được  sự  quan  tâm  của  nhà  nước,  các 

nội  dung  hoạt  động  cụ  thể  đã  được  quy  định 

trong  Quyết  định  số  1221/2000/QĐ‐BYT  ngày 

18/4/2000 quy định về Vệ sinh trường học của Bộ 

Y  tế(1).  Các  bộ  ngành  liên  quan  cũng  đã  nỗ  lực 

không  ngừng  trong  việc  phối  hợp  hoạt  động 

nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác 

y  tế  trường  học  mà  điển  hình  gần  đây  nhất  là 

thông tư liên tịch số 18/2011/TTLT‐BGDĐT‐BYT 

ngày  28/4/2011  quy  định  về  các  nội  dung  đánh 

giá công tác y tế tại các trường tiểu học, trường 

trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và 

trường phổ thông có nhiều cấp học giữa Bộ Giáo 

dục và Đào tạo và Bộ Y tế(2). 

Tuy  nhiên,  công  tác  quản  lý  chăm  sóc  sức 

khỏe  học  sinh  trong  nhà  trường  hiện  nay  vẫn 

còn nhiều khó khăn, bất cập. Nhân lực cho đảm 

nhiệm công tác Y tế tại các trường học còn thiếu 

và  yếu.  Theo  báo  cáo  toàn  quốc  về  y  tế  trường 

học năm 2013, tỷ lệ trường có nhân viên y tế đạt 

78,5%,  trong  đó  số  trường  có  cán  bộ  chuyên 

trách  chỉ  chiếm  43,5%(3).  Nghiên  cứu  của  Chu 

Văn  Thắng năm  2009  cho thấy người thực hiện 

công tác y tế trường học có chuyên môn kém, ít 

được cập nhật và đào tạo về chuyên môn. Theo 

Chu văn Thắng, nhân lực cán bộ y tế trường học 

đa  phần  là  kiêm  nhiệm  (71%),  họ  là  giáo  viên  chưa có chuyên môn y tế, chưa có khả năng thực  hiện công tác y tế trường học. Cũng theo nghiên  cứu này, công tác giáo dục sức khỏe học sinh đạt  51,8%  và  tỷ  lệ  trường  tổ  chức  khám  sức  khỏe  định kỳ cho học sinh là 47,6%(4).  

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của các  phòng y tế rất nghèo nàn. Tỷ lệ trường có phòng 

y  tế  là  55,1%.  Việc  đầu  tư  kinh  phí  để  xây  mới  hay cải tạo cơ sở cũ còn hạn hẹp nên chưa đáp  ứng  được nhu  cầu hoạt động, học  tập  và  chăm  sóc  sức  khoẻ  cho  học  sinh.  Tại  các  trường  học,  46,3% trường phổ thông trung học, 48,3% trung  học  cơ sở  và  48,2% trường  tiểu học có  tủ  thuốc  thiết  yếu  theo  quy  định. Tuy nhiên  cơ  số thuốc  còn thiếu hoặc rất sơ sài, chỉ đủ để sơ cứu bệnh  đơn giản(3).  

Để từng bước khắc phục những khó khăn và  tồn tại trên cần phải có sự nổ lực của tất cả các  cấp.  Cấp  trung  ương  ngày  càng  hoàn  thiện  các  văn bản pháp luật, ban hành các thông tư hướng  dẫn, thông tư liên tịch nhằm nâng cao sự gắn kết  giữa  các  ban  ngành  liên  quan  và  làm  căn  cứ  pháp lý cho các hoạt động y tế trường học. Đối  với địa phương, trong nguồn khi phí cho phép,  trước mắt cần phải xác định nhóm vấn đề và đối  tượng  ưu  tiên  cần  can  thiệp.  Vì  vậy,  chúng  tôi 

Trang 3

thực  hiện  nghiên  cứu  đánh  giá  thực  trạng  y  tế 

trường học tại các vùng địa lý khác nhau ở tỉnh 

Khánh Hòa nhằm xác định những tồn tại chính 

về y tế trường học làm căn cứ cho các giải pháp 

can thiệp phù hợp trong việc nâng cao công tác 

chăm sóc sức khỏe cho học sinh. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Đánh  giá  thực  trạng  công tác  quản  lý  chăm 

sóc sức khỏe học sinh theo cấp học và khu vực 

tại tỉnh Khánh Hòa năm học 2012‐2013. 

Mục tiêu cụ thể 

Đánh  giá  thực  trạng  công tác  quản  lý  chăm 

sóc sức khỏe chung trong toàn tỉnh. 

Xác  định  mối  liên  quan  giữa  các  yếu  tố 

phòng y tế, quản lý chăm sóc sức khỏe, giáo dục 

sức khỏe, kiểm tra vệ sinh, giám sát bệnh truyền 

nhiễm  với  các  yếu  tố  liên  quan  (cấp  học,  khu 

vực, loại trường). 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Các  trường  tiểu  học,  trung  học  cơ  sở,  trung 

học  phổ  thông  thuộc  các  huyện/thị/thành  phố 

của tỉnh Khánh Hòa. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 

Được  tính  dựa  trên  công  thức  áp  dụng  cho 

quần thể hữu hạn 

Tính cỡ mẫu dựa trên ước lượng tỷ lệ trường  học  đạt  tiêu  chuẩn  trong  quần  thể  nghiên  cứu  theo công thức: 

n = z2*p*(1‐p)/d2 

n: cỡ mẫu  z: giá trị của khoảng tin cậy 95% = 1,96. 

p: là tỷ lệ trường đạt các tiêu chuẩn về công tác y tế trường  học = 10% (theo đánh giá của Trung tâm Y tế dự phòng  tỉnh Khánh Hòa về các điều kiện vệ sinh trường học và  kiểm tra công tác Y tế trường học do Sở Giáo dục và đào  tạo Khánh Hòa năm 2011). 

d: độ chính xác mong muốn hay sai số tối thiểu, chọn d =  5%. 

Đưa vào công thức trên ta có n  138. 

Vì cỡ mẫu n = 138 > 10% cỡ quần thể nghiên  cứu  (N=  324)  nên  hiệu  chỉnh  thu  hẹp  cỡ  mẫu  theo công thức: 

nhc = (n*N)/(n+N) 

n hc:  cỡ mẫu hiệu chỉnh. 

n: cỡ mẫu chưa hiệu chỉnh, n=138. 

N: cỡ quần thể nghiên cứu, N=324 (tổng trường công lập 

và ngoài công lập của tỉnh KH). 

Đưa vào công thức ta có nhc  97, làm tròn cỡ  mẫu 100. 

Cỡ  mẫu  theo  từng  cấp  học  và  từng  huyện,  thị xã, thành phố được chọn theo phương pháp  lấy mẫu phân tầng với phân số lấy mẫu chung là  1/3 (vì cỡ mẫu chung xấp sĩ bằng 1/3 cỡ quần thể  nghiên  cứu).  Tuy  nhiên,  phân  số  lấy  mẫu  này  được  điều  chỉnh  tăng  ở  một  số  cấp  học  và  khu  vực vì cỡ quần thể ở các cấp học và khu vực đó  quá nhỏ, cụ thể như sau: 

Cấp học

Huyện/

Tx/TP

Tiểu học (TH) Trung học cơ sở

(THCS) Trung học phổ thông (THPT) Tổng

Số trường Số mẫu Số trường Số mẫu Số trường Số mẫu Số trường Số mẫu

Trang 4

Sau  khi  đã  tính  số  lượng  trường  học  theo 

từng cấp học và từng vùng, các trường sẽ được 

chọn  theo  phương  pháp  ngẫu  nhiên  đơn  dựa 

vào danh sách các trường tiểu học, trung học cơ 

sở  và  trung  học  phổ  thông  của  từng  huyện,  thị 

xã và thành phố. 

Công cụ thu thập dữ liệu 

Bộ câu hỏi tự thiết kế dựa trên các tiêu chuẩn 

đánh  giá  theo  thông  tư  liên  tịch  18/2011/TTLT‐

BYT‐BGDĐT và quy định 1221/2000/QĐ‐BYT. 

Số  liệu  thu  thập  được  quy  về  thang  điểm 

tự  thiết  kế  để  tính  điểm  trung  bình  cho  các 

hoạt động. 

Biến số nghiên cứu 

Ngoài  các  biến  số  về  thông  tin  chung  như 

khu  vực,  cấp  học,  loại  trường  nghiên  cứu  sử 

dụng bộ công cụ gồm 21 tiêu chí thuộc 5 yếu tố: 

phòng  y  tế  (9  tiêu  chí),  quản  lý  chăm  sóc  sức 

khỏe (6 tiêu chí), giáo dục sức khỏe (2 tiêu chí), 

kiểm  tra  vệ  sinh  (2  tiêu  chí),  giám  sát  bệnh 

truyền nhiễm (2 tiêu chí). 

Các  tiêu  chí  được  đánh  giá  dựa  trên  quy 

định 1221/2000/QĐ‐BYT về công tác y tế trường 

học.  Một  tiêu  chí  đúng  sẽ  được  chấm  1  điểm. 

Điểm trung bình các hoạt động được tính bằng 

tổng điểm các tiêu chí và quy về thang điểm 10. 

Điểm  trung  bình  chung  của  công  tác  quản  lý 

chăm  sóc  sức  khỏe  được  tính  bằng  tổng  điểm 

của 5 hoạt động theo tỷ lệ thiết kế và được quy 

về thang điểm 10.  

Phân tích số liệu 

Đánh  giá  chung  về  công  tác  chăm  sóc  sức  khỏe trong trường học dựa trên tỷ lệ đạt của các  tiêu chí và điểm trung bình chung của công tác  chăm  sóc  sức  khỏe.  Đánh  giá  các  hoạt  động  chính trong công tác chăm sóc quản lý sức khỏe  thông  qua  điểm  trung  bình  của  5  yếu  tố.  Xác  định  mối  liên  hệ  giữa  các  hoạt  động  chăm  sóc  quản lý sức khỏe với các yếu liên quan (cấp học,  khu vực và loại trường).  

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Cấp học

Khu vực

Huyện miền núi 10 10 Loại trường

Trường chưa đạt chuẩn 71 71

Nghiên  cứu  này  được  thực  hiện  trên  100  trường thuộc 8 thành phố/huyện/thị xã của tỉnh  Khánh  Hòa.  Cấp  tiểu  học  chiếm  56%  phục  vụ  cho  26209  học  sinh,  cấp  trung  học  cơ  sở  chiếm  32% phục vụ cho 22964 học sinh, cấp trung học  phổ  thông  chiếm  12%  phục  vụ  cho  15115  học  sinh. Tỷ lệ trường chiếm đa số ở các huyện đồng  bằng (54%) và thấp nhất ở vùng miền núi (10%). 

Số trường đạt chuẩn chiếm tỷ lệ 29%. 

Đặc điểm chung về công tác quản lý chăm sóc sức khỏe trường học 

Bảng 2: Đặc điểm công tác quản lý chăm sóc sức khỏe trường học 

Đối với các trường nội trú hoặc bán trú, có phòng cách ly 0 0

Đối với các trường nội trú hoặc bán trú, có nhân viên Y tế trực

trong suốt thời gian học sinh ở trường

3 75

Trang 5

Đặc điểm N Tỷ lệ đạt (%)

Cán bộ làm công tác Y tế trường học có trình độ y sĩ trở lên 28 28

Quản lý sức khỏe

Thông báo cho cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ của học sinh về tình hình sức khỏe học sinh

81 81

Có kế hoạch chăm sóc và điều trị cho học sinh có vấn đề sức khỏe 51 51 Thực hiện sơ cứu, cấp cứu, chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế trong những trường hợp cần thiết 100 100 Giáo dục sức khỏe Có tổ chức truyền thông GDSK cho học sinh 100 100

Có biện pháp xử lý khi phát hiện nguy cơ phát sinh dịch bệnh 76 76 Giám sát bệnh truyền

nhiễm Có theo dõi các trường hợp bệnh ở giáo viên và học sinh Hướng xử trí khi có người bị bệnh truyền nhiễm gây dịch 76 28 28 76

Kết  quả  phân  tích  cho  thấy  chỉ  có  60  % 

trường có phòng y tế nhưng chỉ có 48% trường 

có phòng y tế đạt diện tích tối thiểu 12m2. Tỷ lệ 

phòng y tế có đầy đủ trang thiết bị và thuốc thiết 

yếu theo quy định đạt 11%. 100% các trường bán 

trú và nội trú không có phòng cách ly bệnh theo 

quy  định.  Tỷ  lệ  trường  có  cán  bộ  y  tế  chuyên 

trách là 70% nhưng cán bộ y tế có trình độ từ y sĩ 

trở lên theo quy định chỉ chiếm 28%. Số trường 

được tổ chức khám sức khỏe đầy đủ chiếm 77%. 

Tỷ lệ trường thực hiện sơ cấp cứu ban đầu cho 

học sinh chiếm 92% và 100% các trường đều có 

kế  hoạch  chuyển  học  sinh  lên  tuyến  trên  trong 

những  trường  hợp  cần  thiết.  Công  tác  truyền 

thông sức khỏe cho học sinh chiếm tỷ lệ 100% tại 

các trường. Số trường có tổ chức kiểm tra vệ sinh 

hàng ngày chỉ chiếm 38%. 76% trường có hướng 

xử  trí  phù  hợp  khi  có  người  bị  bệnh  truyền 

nhiễm gây dịch. 

Đặc  điểm  công  tác  quản  lý  chăm  sóc  sức  khỏe theo các yếu tố liên quan 

Bảng 3: Đặc điểm các hoạt động chính trong công tác 

chăm sóc quản lý sức khỏe học sinh 

Đặc điểm Điểm

trung bình

Min Max

Kiểm tra vệ sinh 5,3 0 10 Giám sát bệnh truyền nhiễm 5,2 0 10 Quản lý chăm sóc

sức khỏe chung

6,9 1,96 8,96

Điểm  trung  bình  chung  công  tác  quản  lý  chăm  sóc  sức  khỏe  học  sinh  là  6,9  (min  =  1,96; 

max = 8,96). Điểm trung bình 5 hoạt động chính  không đồng đều, phòng y tế có điểm trung bình  thấp  (ĐTB  =  3,9;  min  =  0,  max  =  7,8)  trong  khi  hoạt động giáo dục sức khỏe có điểm trung bình  rất cao (ĐTB = 9,8; min = 5, max = 10). 

Bảng 4: Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe theo các yếu tố liên quan 

Phòng y tế Quản lý

sức khỏe

Kiểm tra

vệ sinh

Giáo dục sức khỏe

Giám sát bệnh truyền nhiễm

Quản lý chăm sóc sức khỏe chung

Cấp 1 3,4

>0,05

7,4

>0,05

6,1 0,001

9,8

>0,05

5,3

>0,05

6,8

>0,05

Thành thị 4,5

0,002

6,8 0,008

3,9

>0,05

9,6

<0,001

2,9

<0,001

6,6

0,01

Trang 6

Phòng y tế Quản lý

sức khỏe

Kiểm tra

vệ sinh

Giáo dục sức khỏe

Giám sát bệnh truyền nhiễm

Quản lý chăm sóc sức khỏe chung

Đạt chuẩn 4,7

0,003 7,9 >0,05 5,8 >0,05 10,0 0,045 5,3 >0,05 7,3 0,004

Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu như không 

có  sự  khác  nhau  về  công  tác  quản  lý  chăm  sóc 

sức khỏe học sinh ở các cấp học, chỉ có công tác 

kiểm tra vệ sinh có sự khác biệt giữa các cấp học 

(p=0,001). So sánh giữa các khu vực, có sự khác 

biệt có ý nghĩa thống kê ở các yếu tố phòng y tế 

(p=0,003),  quản  lý  sức  khỏe  (p=0,008),  giáo  dục 

sức khỏe (p<0,001), giám sát bệnh truyền nhiễm 

(p<0,001).  Công  tác  quản  lý  chăm  sóc  sức  khỏe 

nói chung ở vùng miền núi có điểm trung bình 

thấp hơn so với các vùng khác có ý nghĩa thống 

kê (p=0,01). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 

giữa các trường đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn về 

yếu tố phòng y tế (p=0,003) và giáo dục sức khỏe 

(p=0,045).  Các  trường  đạt  chuẩn  có  điểm  trung 

bình công tác quản lý chăm sóc sức khỏe chung 

cao  hơn  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  các  trường 

chưa đạt chuẩn (p=0,004). 

BÀN LUẬN 

Tỷ lệ trường có phòng y tế là 60% thấp hơn 

so  với  số  liệu  thống  kê  báo  cáo  các  tỉnh  miền 

trung năm 2013 (70%)(5) và cao hơn tương đương 

bốn  lần  so  với  số  liệu  này  năm  2008  (16,1%)(6). 

Phòng y tế có đầy đủ trang thiết bị và thuốc thiết 

yếu theo quy định chỉ đạt 11%, thấp hơn so với 

số  liệu  báo  cáo  cả  nước  năm  2013  (41,1%)(3).  Đa 

số các phòng y tế có cơ số thuốc rất hạn chế, chỉ 

trang bị thuốc để sơ cứu những bệnh đơn giản. 

Tỷ lệ trường có cán bộ y tế chuyên trách là 70% 

nhưng cán bộ y tế có trình độ từ y sĩ trở lên theo 

quy  định  chỉ  chiếm  28%.  Tỷ  lệ này  cũng  tương 

đồng  so  với  số  liệu  báo  cáo  năm  2013  của  các 

tỉnh miền trung (25,7%)(5). 

Công tác tổ chức khám sức khỏe đầy đủ cho 

học  sinh  tại  các  trường  đạt  tỷ  lệ  77%.  100%  các 

trường  thực  hiện  truyền  thông  giáo  dục  sức 

khỏe  cho  học  sinh  bằng  nhiều  hình  thức  khác 

nhau  như  nói  chuyện  trước  cờ,  sinh  hoạt  ngoại 

khóa  hoặc  lồng  ghép  trong  bài  giảng.  Tỷ  lệ  trường có tổ chức kiểm tra vệ sinh hàng ngày về 

vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và vệ sinh 

An  toàn  thực  phẩm  còn  thấp  (38%).  Một  số  trường tiểu học tổ chức kiểm tra vệ sinh cá nhân  của học sinh hàng ngày tại lớp và các trường có  phục vụ bếp ăn phân công cán bộ y tế kiểm tra 

vệ  sinh  bếp  ăn  hàng  ngày.  Hoạt  động  kiểm  tra 

vệ sinh môi trường chủ yếu được thực hiện hàng  tuần hoặc hàng tháng. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu như không 

có  sự  khác  nhau  về  công  tác  quản  lý  chăm  sóc  sức khỏe học sinh ở các cấp học, chỉ có công tác  kiểm  tra  vệ  sinh  ở  khối  trung  học  phổ  thông  điểm trung bình thấp hơn so với cấp tiểu học và  trung  học  cơ  sở  (p=0,001).  Các  hoạt  động  kiểm  tra vệ sinh hàng ngày được thực hiện tốt nhất ở  cấp tiểu học và giảm dần theo cấp học. 

So sánh giữa các khu vực, có sự khác biệt có 

ý  nghĩa  thống  kê  ở  các  yếu  tố  phòng  y  tế  (p=0,003),  quản  lý  sức  khỏe  (p=0,008),  giáo  dục  sức khỏe (p<0,001), giám sát bệnh truyền nhiễm  (p<0,001). Phòng y tế ở thành phố được trang bị  tốt hơn so với huyện đồng bằng và huyện miền  núi.  Khu  vực  huyện  đồng  bằng  có  điểm  trung  bình  cao  nhất  trong  công  tác  quản  lý  sức  khỏe,  giáo  dục  sức  khỏe  và  giám  sát  bệnh  truyền  nhiễm. Công tác quản lý chăm sóc sức khỏe nói  chung ở vùng miền núi có điểm trung bình thấp  hơn  so  với  các  vùng  khác  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p=0,01).  Đây  là  nghiên  cứu  đầu  tiên  của  tỉnh  Khánh  Hòa  có  sự  so  sánh  hoạt  động  chăm  sóc  quản lý sức khỏe trường học giữa các khu vực. 

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các  trường  đạt  chuẩn  và  chưa  đạt  chuẩn  về  yếu  tố  phòng  y  tế  (p=0,003)  và  công  tác  giáo  dục  sức  khỏe  (p=0,045).  Các  trường  đạt  chuẩn  có  điểm  trung bình công tác quản lý chăm sóc sức khỏe 

Trang 7

chung  cao  hơn  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  các 

trường  chưa  đạt  chuẩn  (p=0,004).  Kết  quả  này 

cho thấy công tác hoạt động chăm sóc sức khỏe 

được quan tâm và thực hiện có hiệu quả hơn ở 

những trường đạt chuẩn. 

KẾT LUẬN 

Kết  quả  nghiên  cứu  thực  tế  cho  thấy  tỷ  lệ 

trường đạt các yếu tố về chăm sóc sức khỏe học 

sinh thấp hơn so với số liệu báo cáo năm về công 

tác  y  tế  trường  học.  Các  hoạt  động  chăm  sóc 

quản lý sức khỏe nói chung trong trường học có 

sự  cải  thiện  hơn  so  với  các  năm  trước.  Có  sự 

khác biệt trong công tác kiểm tra vệ sinh giữa các 

cấp học. Cấp tiểu học thực hiện công tác kiểm tra 

vệ sinh tốt hơn các khối cấp lớn hơn. Đa số các 

hoạt động chăm sóc quản lý sức khỏe được thực 

hiện  tốt  hơn  ở  khu  vực  thành  phố  và  huyện 

đồng bằng. Các trường chuẩn thực hiện công tác 

chăm sóc quản lý sức khỏe tốt hơn. 

KIẾN NGHỊ 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hoạt động 

chăm sóc quản lý sức khỏe học sinh cần được cải 

thiện như trang bị và quản lý phòng y tế, nâng 

cao trình độ cán bộ làm công tác y tế trường học, 

tăng  cường  công  tác  kiểm  tra  vệ  sinh  và  kiểm 

soát  bệnh  truyền  nhiễm  trong  trường  học.  Cần 

ưu  tiên  đầu  tư  về  trang  bị  điều  kiện  cơ  sở  vật  chất phòng y tế cho các khu vực huyện miền núi,  nâng cao công tác quản lý sức khỏe, giáo dục sức  khỏe và giám sát bệnh truyền nhiễm đối với khu  vực miền núi và các trường chưa đạt chuẩn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

18/4/2000 về Quy định về Vệ sinh trường học. Há Nội. Tr. 1‐2. 

số  18/2011/TTLT‐BGDĐT‐BYT  ngày  28/4/2011  về  Quy  định  các  nội  dung  đánh  giá công  tác  y  tế  tại  các  trường  tiểu  học,  trường  trung  học  cơ  sở,  trường  trung  học  phổ  thông  và  trường phổ thông có nhiều cấp học. Hà Nội. Tr. 2‐3. 

trường học năm 2014. Hà Nội. Tr 50‐56. 

trường học ở Việt Nam hiện nay và đề xuất mô hình quản lý  phù hợp. Luận văn BS. CKI. Đại học Y Hà Nội. Tr. 34‐65.  

học 11 tỉnh miền trung. Khánh Hòa. Tr 1. 

học 11 tỉnh miền trung. Khánh Hòa. Tr 1. 

 

Ngày nhận bài báo:       24/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   11/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w