1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người tăng huyết áp từ 50 tuổi trở lên tại xã Phước lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, năm 2013

9 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 402,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người tăng huyết áp từ 50 tuổi trở lên tại xã Phước lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, năm 2013. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

Ở NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP TỪ 50 TUỔI TRỞ LÊN TẠI XàPHƯỚC LỢI, 

HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN, NĂM 2013 

Duy Thị Hoa*, Lê Hoàng Ninh* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Tỉ lệ người mắc bệnh tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, chất 

lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh vẫn chưa được quan tâm. Chúng tôi khảo sát CLCS và các yếu tố liên 

quan ở bệnh nhân THA nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người bệnh. 

Mục tiêu: Xác định điểm trung bình chất lượng cuộc sống (TB CLCS) và các yếu tố liên quan ở người THA 

từ 50 trở lên. 

Phương  pháp  nghiên  cứu:  Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 275 bệnh nhân THA được chọn 

ngẫu nhiên cư trú tại xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An vào tháng 4 năm 2013 bằng phương pháp  phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi CLCS của Tổ chức y tế thế giới. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 

được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa điểm CLCS các lĩnh vực và các biến độc lập. 

Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 66 tuổi (ĐLC=9,9); 59% là nữ giới. Điểm 

TB CLCS về quan hệ xã hội, môi trường sống, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của bệnh nhân THA lần  lượt là: (64,12 ± 14,06), (59,52 ± 10,39), (54,73 ± 14,94) và (49,42 ± 12,73). Các yếu tố liên quan đến CLCS của  bệnh nhân THA gồm tuổi, giới tính, hôn nhân, học vấn, nơi cư trú, vận động thể lực, tuân thủ điều trị, tình  trạng dinh dưỡng và một số bệnh kèm theo như: đái tháo đường, bệnh thận, bệnh tim, bệnh về khớp, tai biến  mạch máu não. 

Kết luận: CLCS bệnh nhân THA thấp ở lĩnh vực SKTT. Vận động thể lực đều đặn ở mức độ vừa phải, tuân 

thủ điều trị theo hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ là các yếu tố cần được khuyến khích thực hiện giúp cải thiện  CLCS người bệnh THA. Bệnh nhân THA là phụ nữ, người lớn tuổi, người suy dinh dưỡng, người có trình độ  học vấn thấp, người bệnh THA mắc kèm thêm bệnh mãn tính là những đối tượng cần được quan tâm và hướng  tới trong các chương trình, hoạt động với mục tiêu cải thiện CLCS người bệnh. 

Từ khoá: Tăng huyết áp, chất lượng cuộc sống, WHOQOL – BREF 

ABSTRACT 

QUALITY OF LIFE AND ITS ASSOCIATED FACTORS   AMONG PATIENTS WITH HYPERTENSION AGED 50 YEARS AND OVER 

 IN PHUOC LOI COMMUNE, BEN LUC DISTRICT, LONG AN PROVINCE, 2013 

Duy Thi Hoa, Le Hoang Ninh 

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 212 – 220 

Background:  The  prevalence  of  hypertension  has  been  increasing  in  Vietnam.  However,  quality  of  life 

(QOL)  among  the  patients  has  not  yet  been  considered.  To  improve  QOL  and  health  care  for  hypertensive 

patients, it is crucial to measure their quality of life and its associated factors. 

Objectives: To determine average score of QOL and its associated factors among hypertensive patients aged 

50 years and over.  

* Viện Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh  

Trang 2

Methods:  A  cross‐sectional  study  was  conducted  at  Phuoc  Loi  commune,  Ben  Luc  district,  Long  An 

province. 275 hypertensive patients were randomly selected. Data were collected by a face‐to‐face interview using  WHOQOL – BREF. Multivariable linear regression analyses were used to measure the association between QOL  and independent variables.  

Result: Mean age of participants was 66 years (SD 9.9); 49% were women. The mean scores in the domains 

of social relation, environmental health, physical health, and psychological health were (64,12 ± 14,06), (59,52 ±  10,39),  (54,73  ±  14,94),  and  (49,42  ±  12,73)  respectively.  Factors  associated  with  QOL  among  hypertensive  patients  were  age,  gender,  marital  status,  education  level,  residence,  physical  activity  level,  adherence  to  treatment,  nutritional  status,  and  presence  of  co‐morbidity  (diabetes,  kidney  diseases,  coronary  heart  disease,  arthritis, and stroke). 

Conclusion: The mean score in the domain of psychological health among the hypertensive patients was low. 

Encouraging physical activities and strengthening treatment adherence should be considered to improve QOL for  hypertensive  patients.  Actions  to  improve  QOL  should  be  targeted  at  hypertensive  patients  female,  elderly,  undernourished, low educated and/or with co‐morbidity.  

Keywords: Hypertension, quality of life, WHOQOL – BREF 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tăng huyết áp là một bệnh phổ biến trên thế 

giới cũng như ở Việt Nam. Theo thống kê của Tổ 

chức y tế thế giới, năm 2000 THA ảnh hưởng sức 

khỏe  của  gần  1  tỉ  người  trên  toàn  thế  giới,  ước 

tính lên tới 1,56 tỉ người vào năm 2025(7, 22). THA 

là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong và 

mắc  bệnh  (12,7%)(12).  Vào  năm  2005,  THA  là 

nguyên  nhân  trực  tiếp  gây  tử  vong  7,1  triệu 

người  trong  số  17,5  triệu  người  tử  vong  vì  các 

bệnh tim mạch(12). Không chỉ vậy, THA còn ảnh 

hưởng  nghiêm  trọng  đến  chất  lượng  cuộc  sống 

(CLCS)  người  bệnh(15),  làm  suy  yếu  đáng  kể 

CLCS bệnh nhân cả về sức khỏe thể chất lẫn tinh 

thần(19). Nhiều nghiên cứu phát hiện CLCS bệnh 

nhân THA giảm rõ rệt do ảnh hưởng bởi nhiều 

yếu tố khác nhau như tuổi tác(8, 10), giới tính và có 

xu hướng giảm ở bệnh nhân THA mắc kèm theo 

các bệnh mãn tính khác(1, 5) 

Tại  khu  vực  phía  Nam  Việt  Nam  chưa  có 

nghiên cứu về CLCS bệnh nhân THA ở khu vực 

nông thôn được thực hiện. Long An là tỉnh có tỉ 

lệ  THA  khá  caoso  với  tỉ  lệ  THA  chung  của  cả 

nước (28,41%)(18), trong đó có xã Phước Lợi là xã 

nông  thôn  thuộc  huyện  Bến  Lức,  đây  là  một 

trong  những  xã  đầu  tiên  của  tỉnh  triển  khai 

chương  trình  tầm  soát  THA  trong  cộng  đồng. 

Theo đó, khảo sát về CLCS bệnh nhân THA tại  địa phương xã Phước Lợi là điều rất quan trọng 

và  cần  thiết  nhằm  cung  cấp  thông  tin  giúp  các  nhà hoạch định chính sách và quản lý y tế lên kế  hoạch cũng như các giải pháp phù hợp phục vụ  công  tác  chăm  sóc,  bảo  vệ,  nâng  cao  sức  khỏe,  nâng cao CLCS người bệnh THA tại xã. Từ lý do  nêu  trên,  nghiên  cứu  được  thực  hiện  với  mục  tiêu đo lường CLCS bệnh nhân THA và các yếu 

tố liên quan đến CLCS cụ thể trên bốn lĩnh vực  sức  khỏe  thể  chất  (SKTC),  sức  khỏe  tinh  thần  (SKTT), quan hệ xã hội (QHXH) và môi trường  sống  (MTS)  bằng  cách  sử  dụng  bộ  công  cụ  WHOQOL‐BREF. Nghiên cứu tập trung vào đối  tượng  là  người  THA  từ  50  trở  lên  vì  theo  các  nghiên cứu thực hiện trước, đây là lứa tuổi có tỉ 

lệ  mắc  THA  cao(2, 3, 13, 14, 18).  Kết  quả  nghiên  cứu  cũng là tiền đề cho các nghiên cứu liên quan sâu  rộng hơn sau này.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác  định  điểm  trung  bình  CLCS  bốn  lĩnh  vực  sức  SKTC,  SKTT,  QHXH  và  MTS  ở  người  THA từ 50 tuổi trở lên. 

Xác định các yếu tố (đặc điểm dân số xã hội,  tình  trạng  THA,  các  bệnh  kèm  theo,  thói  quen  sinh  hoạt)  liên  quan  đến  điểm  CLCS  bốn  lĩnh 

Trang 3

từ 50 tuổi trở lên. 

ĐÓI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  cắt  ngang  với  phương  pháp 

chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thực hiện vào tháng 4 

năm 2013 trên 275 bệnh nhân THA từ 50 tuổi trở 

lên  cư  trú  tại  xã  Phước  Lợi,  một  xã  nông  thôn 

thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An nằm ở đồng 

bằng sông Cửu Long thuộc phía Nam Việt Nam. 

Đây là xã thí điểm triển khai chương trình sàng 

lọc THA, trong đó bệnh nhân THA từ 50 tuổi trở 

lên được ghi nhận, theo dõi và cập nhật. 

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính dựa vào công 

thức  ước  lượng  một  trung  bình  với  khoảng  tin 

cậy 95%, sử dụng độ lệch chuẩn 8,1 theo nghiên 

cứu  được  thực  hiện  tại  Hóc  Môn,  TP.  Hồ  Chí 

Minh năm 2012(6). Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên 

cứu là 252 người.Sau khi dự tính tình trạng thiếu 

mẫu có thể xảy ra với ước đoán khoảng 10%, cỡ 

mẫu tính được gồm 280 đối tượng. 

Thực  hiện  chương  trình  mục  tiêu  Quốc  gia 

phòng chống THA, vào tháng 02 năm 2013, tổng 

cộng  có  389  bệnh  nhân  THA  từ  50  tuổi  trở  lên 

được ghi nhận và quản lý tại Trạm Y tế xã Phước 

Lợi. Danh sách 389 bệnh nhân được sử dụng làm 

khung mẫu nhằm chọn ngẫu nhiên đơn 280 đối 

tượng (bằng phần mềm R) đưa vào nghiên cứu. 

Đối tượng được chọn hoàn thành bộ câu hỏi cấu 

trúc  bằng  phương  pháp  phỏng  vấn  trực  tiếp  tại 

hộ  gia  đình  kết  hợp  đối  chiếu  sổ  khám  bệnh 

nhằm  thu  thập  thông  tin  về  các  bệnh  kèm  theo 

(nếu  có),  cân  nặng  bằng  cân  đo  đã  được  hiệu 

chỉnh  và  đo  chiều  cao.  Điều  tra  viên  gồm  05 

phỏng  vấn  viên  công  tác  tại  Viện  Vệ  sinh  ‐  Y  tế 

công  cộng  thành  phố  Hồ  Chí  Minh,  có  kinh 

nghiệm trong việc thu thập số liệu tại cộng đồng, 

được  tập  huấn  kỹ  về  đối  tượng  nghiên  cứu, 

phương  pháp  thu  thập  số  liệu,  nắm  rõ  các  định 

nghĩa  về  biến  số.  Kết  thúc  đợt  khảo  sát,  số  mẫu 

thực tế thu được là 275 bệnh nhân THA (5 trường 

hợp bị loại do không thể trả lời phỏng vấn). 

WHOQOL‐BREF  là  bộ  công  cụ  đo  lường 

CLCS  miễn  phí  được  Tổ  chức  y  tế  thế  giới  xây 

dựng  và  phát  triển  từ  năm  1991(21),  bao  gồm  26  câu  hỏi  với  2  câu  đánh  giá  sức  khỏe  chung,  SKTC  (7  câu),  SKTT  (6  câu),  QHXH  (3  câu)  và  MTS  (8  câu)(20, 21).  Mỗi  câu  hỏi  tương  ứng  với  5  câu trả lời tương đương thang điểm từ 1 đến 5.  CLCS  của  bệnh  nhân  THA  theo  4  lĩnh  vực  sức  khỏe sẽ được đánh giá theo thang điểm 100 sau  khi  quy  đổi  từ  thang  điểm  thô.  Bốn  lĩnh  vực  SKTC, SKTT, QHXH và MTS là các biến kết quả.  Biến độc lập được thu thập gồm:  

Các đặc điểm dân số xã hội: tuổi tác, giới tính,  học  vấn  (<cấp  2  và  ≥cấp  2),  tình  trạng  đi  làm  (đi  làm và không đi làm), tình trạng hôn nhân, nơi cư  trú (ấp 1, 2, 3A, 3B: dân cư thưa thớt và ấp 4, 5, ấp  Chợ: dân cư đông đúc), tôn giáo (Phật giáo, không  tôn giáo, tôn giáo khác), hôn nhân (có vợ/chồng và  độc thân/góa/ly dị/ly thân), đối tượng sống chung  (người thân và sống một mình). Kinh tế gia đình  được  phân  loại  theo  hộ  nghèo  (có  sổ  hộ  nghèo  hoặc cận nghèo) và hộ không nghèo. Gia đình có  tiền sử mắc bệnh THA khi có ông/bà/cha/mẹ hay  anh/chị em ruột bị THA.  

Tình  trạng  THA:  Thời  gian  phát  hiện  bệnh  THA là thời gian của cá nhân được chẩn đoán bị  THA  cho  đến  thời  điểm  tiến  hành  nghiên  cứu  (<1 năm, từ 1 đến dưới 5 năm, từ 5 đến dưới 10  năm và từ 10 năm trở lên). Tuân thủ điều trị là  khi bệnh nhân tái khám định kỳ theo đúng yêu  cầu của bác sĩ đồng thời nếu được chỉ định dùng  thuốc  THA,  bệnh  nhân  có  uống  thuốc  đều  đặn  mỗi ngày theo đúng chỉ định và hướng dẫn của  bác sĩ.  

Các bệnh kèm theo: Tình trạng dinh dưỡng  gồm  3  giá  trị  (Suy  dinh  dưỡng:  BMI<18,5;  bình  thường: BMI từ 18,5 – 24,99 và thừa cân/béo phì:  BMI≥25). Ngoài ra là các bệnh kèm theo gồm đái  tháo đường, bệnh thận, bệnh tim, khớp, từng bị  tai biến mạch máu não được báo cáo.  

Thói quen sinh hoạt: Hút thuốc lá mỗi ngày  (không  hút,  hút  <10  điếu,  hút  ≥10  điếu).  Uống  rượu  được  tính  khi  tổng  số  đơn  vị  rượu  uống  vào  trong  một  1  lần  ≥1  đơn  vị  chuẩn  (1  đơn  vị  chuẩn  tương  đương  10gram  Ethanol,  tương 

Trang 4

đương 330ml bia, 30ml rượu mạnh, 120ml rượu 

vang), trong đó bệnh nhân lạm dụng rượu là khi 

có ≥5 ngày/tháng uống từ 5 ly chuẩn trở lên đối 

với  nam  hoặc  từ  4  ly  chuẩn  trở  lên  đối  với  nữ. 

Vận động thể lực (cường độ thấp, trung bình và 

cường độ nặng); vận động với cường độ thấp là 

khi người bệnh THA không tập thể dục hoặc tập 

thể dục <30 phút mỗi ngày, cường độ trung bình 

khi  bệnh  nhân  THA  tập  thể  dục  (đi  bộ,  tập 

dưỡng  sinh)  hay  đi  nhanh,  đi  lại  bằng  xe  đạp 

hoặc mang vác vật nhẹ ≥30 phút/ngày, vận động 

với cường độ nặng là khi bệnh nhân vận động, 

làm việc nặng nhọc ≥30 phút/ngày (chạy bộ, làm 

việc nặng nhọc để mưu sinh như nâng đồ nặng, 

cuốc đất, xây dựng). 

Trong nghiên cứu, thống kê mô tả bao gồm 

tần  số,  tỉ  lệ  phần  trăm,  phạm  vi  số  liệu,  trung 

bình và độ lệch chuẩn (ĐLC). Phân tích đơn biến 

gồm  kiểm  định  t.test  độc  lập  xác  định  mối  liên 

quan  giữa  điểm  CLCS  bốn  lĩnh  vực  SKTC, 

SKTT, QHXH, MTS với các biến số giới tính, học 

vấn, tình trạng đi làm, nơi cư trú, tình trạng hôn 

nhân,  đối  tượng  sống  chung,  kinh  tế  gia  đình, 

tiền sử gia đình THA, tuân thủ điều trị, các bệnh 

kèm theo (đái tháo đường, bệnh thận, bệnh tim, 

tai biến mạch máu não, bệnh khớp). Phép kiểm 

ANOVA  xác  định  mối  liên  quan  giữa  điểm 

CLCS bốn lĩnh vực sức khỏe với biến số tôn giáo, 

tình trạng dinh dưỡng, hút thuốc lá, uống rượu, 

hoạt động thể lực, thể thao, thời gian phát hiện 

THA (ngoại trừ mối liên quan giữa điểm CLCS 

lĩnh vực QHXH với thời gian phát hiện THA xác 

định  bằng  kiểm  phi  tham  số  Kruskal‐Wallis). 

Ngoài ra tương quan hồi quy, hồi quy tuyến tính 

đơn  biến  được  sử  dụng  nhằm  xác  định  mối 

tương  quan  giữa  điểm  CLCS  bốn  lĩnh  vực  sức 

khỏe  với  biến  số  tuổi.  Sau  khi  phân  tích  đơn 

biến,  các  biến  số  khi  xét  mối  liên  quan  trong 

phân tích đơn biến có giá trị p≤0,2 được tiếp tục 

đưa  vào  phân  tích  hồi  quy  tuyến  tính  đa  biến 

theo phương pháp backward (phương pháp loại 

bỏ từng bước)nhằm xác định các yếu tố dự báo 

liên  quan  thực  sự  đến  điểm  CLCS  các  lĩnh  vực 

SKTC,  SKTT,  QHXH  và  MTS  của  bệnh  nhân  THA với ngưỡng ý nghĩa p<0,05. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm dân số xã hội 

Tuổi  trung  bình  của  đối  tượng  tham  gia  nghiên cứu là 66 tuổi (ĐLC=9,9); 59% là nữ giới;  60% có trình độ học vấn dưới cấp 2; 36,7% bệnh  nhân THA hiện còn đi làm; 54,5% hiện sinh sống  tại khu vực dân cư thua thớt (ấp 1, ấp 2, 3A và  3B); 45,8% bệnh nhân THA theo đạo Phật, 29,8% 

đã  góa  vợ/chồng,  ly  dị/ly  thân  hoặc  còn  độc  thân;  4%  bệnh  nhân  hiện  đang  sống  một  mình;  4,7% bệnh nhân có gia đình thuộc diện hộ nghèo  của xã.  

Tình trạng THA  

Trong 275 bệnh nhân THA, 41,4% bệnh nhân 

có tiền sử gia đình THA, hầu hết người tham gia  nghiên cứu (73,5%) đã được chẩn đoán phát hiện  bệnh từ 1 năm trở lên; 53,5% bệnh nhân tuân thủ  điều trị THA theo đúng hướng dẫn và chỉ định  của bác sĩ.  

Các bệnh kèm theo 

Thừa cân/béo phì (21,5%), bệnh về tim (15,3%),  bệnh về khớp (14,2%), suy dinh dưỡng (12%), Đái  tháo đường (10,5%) là các bệnh kèm theo phổ biến 

ở đối tượng nghiên cứu; số ít bệnh nhân THA còn  lại mắc kèm bệnh về thận (2,2%), hoặc từng bị tai  biến mạch máu não (MMN) (1,5%). 

Thói quen sinh hoạt 

Tỉ lệ bệnh nhân THA hút thuốc lá mỗi ngày  chiếm  24,4%,  trong  đó  13,1%  bệnh  nhân  hút  thuốc  mỗi  ngày  từ  10  điếu  trở  lên.  Có  23,6%  bệnh  nhân  THA  uống  rượu/bia,  trong  đó  8,3%  bệnh nhân có biểu hiện lạm dụng rượu/bia. Hơn  phân nửa người bệnh THA (52,7%) vận động thể  lực và tham gia luyện tập thể dục, thể thao đều  đặn ít nhất 30 phút mỗi ngày.  

Điểm trung bình CLCS của bệnh nhân THA 

Điểm  trung  bình  CLCS  bốn  lĩnh  vực  sức  khỏe  của  bệnh  nhân  THA  dao  động  từ  49,42  đến 64,12 điểm. Trong đó, điểm TB CLCS lĩnh 

Trang 5

là điểm trung bình CLCS lĩnh vực MTS (59,52 

± 10,39), điểm trung bình CLCS lĩnh vực SKTC 

(54,73  ±  14,94),  thấp  nhất  là  điểm  trung  bình 

CLCS lĩnh vực SKTT (49,42 ± 12,73). 

Bảng 1: Điểm trung bình CLCS của bệnh nhân 

THA (n=275) 

Lĩnh vực GTNN GTLN TB  ĐLC

 

Các yếu tố dự báo liên quan đến CLCS bệnh nhân THA  

Bảng 2: Các yếu tố liên quan đến CLCS bệnh nhân THA sau khi phân tích đa biến(n=275) 

Nội dung

Điểm CLCS

Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95%

Giới tính

Học vấn

Tình trạng đi làm

Nơi cư trú

Ấp 1, 2, 3A, 3B

Tình trạng hôn nhân

Tuân thủ điều trị

Tình trạng dinh dưỡng

Bình thường 1,00 1,00

Bệnh đái tháo đường

Có -8,38*** -13-(-3,24) -5,45* -9,66-(-1,23)

Bệnh thận

Bệnh tim

Từng bị tai biến MMN

Bệnh về khớp

Trang 6

Nội dung

Điểm CLCS

Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95%

Vận động thể lực

* p≤0,05; ** p≤0,01; *** p≤0,001 (Hồi quy tuyến tính đa biến)

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 

cho thấy tình trạng hôn nhân và vận động thể lực 

có liên quan đến CLCS ở cả 4 lĩnh vực sức khỏe 

(p<0,05).  Trong  đó,  bệnh  nhân  THA  đang  có 

vợ/chồng  có  điểm  CLCS  các  lĩnh  vực  sức  khỏe 

đều cao hơn so với nhómbệnh nhânđộc thân, goá, 

ly dị/ly thân; bệnh nhân THA vận động thể lực ở 

mức  độ  trung  bình  có  điểm  CLCS  các  lĩnh  vực 

sức khỏe đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 

bệnh nhân vận động thể lực ở cường độ thấp. 

Tuân thủ điều trị có liên quan đến CLCS lĩnh 

vực  SKTC,  SKTT,  MTS  (p<0,05).  Những  bệnh 

nhân  THA  tuân  thủ  điều  trị  theo  đúng  hướng 

dẫn và chỉ định của bác sĩ có điểm CLCS lĩnh vực 

SKTC, SKTT, MTS đều cao hơn có ý nghĩa thống 

kê so với bệnh nhân không tuân thủ điều trị. 

Tuổi, tình trạng dinh dưỡng,  mắc kèm theo 

bệnh  Đái  tháo  đường  có  liên  quan  đến  CLCS 

lĩnh  vực  SKTC,  SKTT  (p<0,05).  Trong  đó,  bệnh 

nhân  THA  tuổi  càng  cao  có  điểm  CLCS  ở  lĩnh 

vực SKTC, SKTT càng giảm. Bệnh nhân THA bị 

suy  dinh  dưỡng  hoặc  mắc  kèm  theo  bệnh  Đái 

tháo đường có điểm CLCS lĩnh vực SKTC, SKTT 

thấp hơn so với nhóm còn lại. 

Giới  tính  có  liên  quan  đến  CLCS  lĩnh  vực 

SKTT  của  bệnh  nhân  THA  (p<0,05),  trong  đó 

nam giới có điểm CLCS lĩnh vực SKTT cao hơn 

nữ giới. 

Học  vấn  có  liên  quan  đến  CLCS  lĩnh  vực 

MTS  (p<0,05),  trong  đó  bệnh  nhân  THA  có  học 

vấn từ cấp 2 trở lên có điểm CLCS lĩnh vực MTS 

cao  hơn  người  bệnh  THA  có  trình  độ  học  vấn 

dưới cấp 2. 

Nơi  cư  trú  có  liên  quan  đến  CLCS  lĩnh  vực 

QHXH (p<0,05), bệnh nhân THA cư trú tại khu 

vực dân cư đông đúc (ấp 4, 5, ấp Chợ) có điểm  CLCS lĩnh vực QHXH cao hơn bệnh nhân THA 

cư trú tại ấp 1, 2, 3A, 3B. 

Bệnh  kèm  theo  gồm  các  bênh  về  thận,  tim,  tai biến mạch máu não, các bệnh về khớp có liên  quan  đến  CLCS  lĩnh  vực  SKTC  của  bệnh  nhân  THA  (p<0,05).  Người  bệnh  THA  mắc  kèm  theo  một  trong  các  bệnh  về  thận,  tim,  tai  biến  mạch  máu não, các bệnh về khớp có điểm CLCS lĩnh  vực SKTC đều thấp hơn so với nhóm không mắc  kèm một trong các bệnh trên. 

BÀN LUẬN 

Điểm  TB  CLCS  lĩnh  vực  SKTC,  SKTT,  QHXH và MTS của người bệnh THA từ 50 tuổi  trở lên cư trú tại xã Phước Lợi dao động từ 49,42  đến  64,12  điểm,  cao  hơn  kết  quả  nghiên  cứu  được  thực  hiện  tại  Hóc  Môn,  TP.  Hồ  Chí  Minh  vào  năm  2012(6).  Do  nghiên  cứu  tại  Hóc  Môn  chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu nhỏ nên nghiên  cứu của chúng tôi cho kết quả đáng tin cậy hơn.  Tuy  nhiên  CLSC  của  bệnh  nhân  THA  tại  Nam  Brazil là cao hơn (từ 59,7 đến 72,3 điểm)(9). Điều  này  có  thể  do  độ  tuổi  bệnh  nhân  THA  trong  nghiên  cứu  ở  Nam  Brazil  thấp  hơn;  đồng  thời  đây  là  nghiên  cứu  chọn  mẫu  thuận  tiện  tất  cả  bệnh  nhân  đang  dùng  ít  nhất  một  loại  thuốc  kiểm  soát  THA,  tham  gia  các  đơn  vị  chăm  sóc  sức khỏe ban đầu trong thời gian diễn ra nghiên  cứu và được hỗ trợ về chăm sóc y tế; trong khi  nghiên cứu của chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên 

và  thực  hiện  tại  cộng  đồng  trên  cả  bệnh  nhân  đang điều trị và không điều trị THA. Ngoài ra,  điểm TB CLCS lĩnh vực QHXH của người THA 

từ 50 tuổi trở lên tại xã Phước Lợi là cao nhất và  phù  hợp  với  kết  quả  nghiên  cứu  tại  phía  Nam 

Trang 7

người dân Việt Nam vốn thân thiện, luôn đề cao 

mối quan hệ hàng xóm láng giềng, bạn bè, người 

thân  và  gia  đình;  đặc  biệt  ở  những  người  lớn 

tuổi.Tuy  nhiên,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho 

thấy người THA từ 50 tuổi trở lên có điểm trung 

bình CLCS ở lĩnh vực SKTT là thấp nhất. 

Kết  quả  phân  tích  đa  biến  phát  hiện  CLCS 

bệnh  nhân  THA  giảm  dần  theo  tuổi  ở  lĩnh  vực 

SKTC và SKTT. Kết quả này tương đồng với kết 

quả  một  nghiên  cứu  được  thực  hiện  tại  Việt 

Nam  trên  người  dân  từ  50  tuổi  trở  lên(4),  đồng 

thời  phù  hợp  với  kết  quả  các  nghiên  cứu  được 

thực hiện tại Ba Lan(8, 10). Điều này phản ánh đặc 

điểm  tâm  sinh  lý  con  người,  tuổi  càng  cao  sức 

khỏe thể chất và tinh thần càng giảm. 

Nhất quán với kết quả các nghiên cứu thực 

hiện  tại  Việt  Nam(4),  Brazil(1), và  nghiên  cứu 

thực hiện tại Ba Lan(8, 10), nghiên cứu của chúng 

tôi  cho  thấy  điểm  TB  CLCS  của  nam  giới  cao 

hơn  nữ  giới  ở  tất  cả  các  lĩnh  vực  sức  khỏe. 

Điều này phù hợp, vì tại các nước Á Đông cũng 

như Việt Nam và một vài quốc gia trên thế giới 

vẫn còn tồn tại sự phân biệt giới tính; đặc biệt ở 

nông  thôn,  đa  phần  người  phụ  nữ  sống  cuộc 

sống cam chịu, họ thường phải đảm nhiệm đồng 

thời  nhiều  công  việc  trong  khi  ít  có  tiếng  nói 

trong gia đình.  

Trình  độ  học  vấn  cao  là  yếu  tố  dự  báo  tích 

cực liên quan đến tình trạng sức khỏe và CLCS 

của người cao tuổi(4). Nghiên cứu của chúng tôi 

cũng cho thấy học vấn cao hơn tác động tích cực 

lên  CLCS  của  người  THA,  tuy  nhiên  chỉ  ở  lĩnh 

vực  MTS.  Điều  này  khẳng  định  hiệu  quả  của 

công tác giáo dục, kiến thức và sự nhận thức về 

MTS cũng như điều kiện sống của người có trình 

độ học vấn cao hơn có thể tốt hơn nên CLCS lĩnh 

vực MTS của họ từ đó cũng cao hơn. 

Kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy  bệnh  nhân 

THA  cư  trú  tại  khu  vực  dân  cư  đông  đúc  có 

điểm CLCS lĩnh vực QHXH cao hơn bệnh nhân 

cư  trú  tại  khu  vực  dân  cư  thưa  thớt.  Phát  hiện 

này phù hợp với đặc điểm thực tế địa phương xã 

Phước Lợi vốn là một xã thuần nông nhưng hiện  nay theo xu hướng phát triển kinh tế ‐ văn hóa 

xã hội chung của đất nước, nền kinh tế ‐ văn hóa  của  xã  đã  dần  thay  đổi  theo  hướng  ngày  càng  hiện đại hóa và phát triển. Trong đó, các ấp 4, 5 

và ấp Chợ tập trung đông đúc dân cư, gia đình,  hàng  xóm  láng  giềng,  bạn  bè  gần  gũi  chia  sẻ  giúp đỡ lẫn nhau. 

Bệnh nhân THA đang có vợ/chồng có điểm  CLCS tất cả các lĩnh vực sức khỏe đều cao hơn  đáng kể so với nhóm góa vợ/chồng, ly dị/ly thân,  độc thân. Điều này hợp lý vì đối với bệnh nhân  THA  lớn  tuổi,  việc  được  quan  tâm  chăm  sóc,  động  viên  chia sẻ  từ  bạn  đời  là  yếu  tố  vô  cùng  quan  trọng  và  có  lợi,  điều  này  có  thể  tác  động  tích  cực  lên  CLCS  của  bệnh  nhân  về  mọi  mặt.  Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu  trước đó tại Việt Nam(4). 

Nhóm bệnh nhân THA vận động thể lực với  cường  độ  trung  bình  được  phát  hiện  có  điểm  trung bình CLCS tất cả các lĩnh vực đều cao hơn  đáng  kể  so  với  nhóm  bệnh  nhân  vận  động  thể  lực, thể thao với cường độ thấp. Đồng nhất với  nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ(16) và phù hợp  với đặc điểm sức khỏe thực tế của người THA,  vận động thể lực và luyện tập thể thao ở mức độ  vừa phải (ít nhất 30 phút mỗi ngày) sẽ góp phần  tích  cực  trong  việc  kiểm  soát  THA,  giúp  bệnh  nhân  cải  thiện  sức  khỏe  và  nâng  cao  CLCS  về  mọi mặt.  

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  đồng  thời  phát  hiện  bệnh  nhân  THA  tuân  thủ  điều  trị  theo  hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ có điểm CLCS  lĩnh  vực  SKTC,  SKTT  và  MTS  cao  hơn  so  với  bệnh nhân không tuân thủ điều trị. Kết quả này 

là  phù  hợp  vì  bệnh  nhân  THA  khi  tuân  thủ  tái  khám và uống thuốc đều đặn theo hướng dẫn và  chỉ định của bác sĩ có thể dần đưa giá trị HA về  giới  hạn  bình thường  từ  đó  kiểm soát  được  chỉ 

số huyết áp. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của  chúng  tôi  không  đồng  nhất  với  kết  quả  nghiên  cứu  được  thực  hiện  tại Nam  Brazil(9).  Điều này 

có thể do sự khác nhau về định nghĩa tuân thủ 

Trang 8

điều trị, nghiên cứu tại Nam Brazil đánh giá tình 

trạng kiểm soát THA và độ THA của bệnh nhân 

ngay tại thời điểm nghiên cứu, trong khi CLCS 

bệnh nhân THA được đo lường bởi thang đo thu 

thập  thông  tin  đánh  giá  CLCS  của  bệnh  nhân 

trong vòng 1 tháng tính từ thời điểm nghiên cứu 

trở về trước.  

Bệnh  nhân  THA  suy  dinh  dưỡng  trong 

nghiên cứu của chúng tôi có điểm CLCS lĩnh vực 

SKTC và SKTT đều thấp hơn so với bệnh nhân 

THA  có  tình  trạng  dinh  dưỡng  bình  thường. 

Điều này phù hợp với đặc điểm sức khỏe và tinh 

thần  của  người  bệnh  suy  dinh  dưỡng;  thông 

thường, người suy dinh dưỡng có sức khỏe thể 

chất  yếu,  có  thể  ảnh  hưởng  tiêu  cực  đến  sức 

khỏe  tinh  thần.Phát  hiện  của  chúng  tôi  đồng 

nhất  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả  Solah 

Rasheed  và  cộng  sự(17)và  kết  quả  nghiên  cứu 

được thực hiện tại Mỹ(11). 

Nhất  quán  với  các  nghiên  cứu  trên  thế  giới 

phát  hiện  CLCS  bệnh  nhân  THA  bị  ảnh  hưởng 

tiêu  cực  nếu  bệnh  nhân  đồng  thời  mắc  thêm 

bệnh  mãn  tính  khác(8, 9,  10),  kết  quả  nghiên  cứu 

của chúng tôi cũng ghi nhận việc mắc thêm một 

trong các bệnh đái tháo đường, bệnh thận, bệnh 

tim, bệnh khớp hoặc từng bị tai biến MMN đều 

ảnh  hưởng  tiêu  cực  đến  điểm  CLCS  lĩnh  vực 

SKTC  của  người  bệnh  THA.  Một  trong  những 

hạn chế của nghiên cứu ở phần này là chỉ khảo 

sát  CLCS  bệnh  nhân  THA  khi  người  bệnh  mắc 

kèm  theo  các  bệnh  về  thận  hoặc  về  tim  nói 

chung mà chưa đánh giá được CLCS bệnh nhân 

THA theo từng mức độ nặng nhẹ các loại bệnh 

đối  tượng  nghiên  cứu  mắc  phải.  Việc  chỉ  xác 

định mối liên hệ giữa điểm CLCS của bệnh nhân 

THA  với  một  số  bệnh  nhất  định  (đái  tháo 

đường,  bệnh  thận,  bệnh  tim,  bệnh  về  khớp,  tai 

biến  mạch  máu  não)  cũng  là  một  trong  những 

hạn chế của đề tài, vì theo y văn còn nhiều bệnh 

khác ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS người bệnh 

THA đã được ghi nhận(10). 

Nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu cắt 

ngang vì vậy không thể phát biểu về mối liên hệ 

nhân  quả  giữa  các  biến  số,  đây  là  một  hạn  chế  của đề tài. 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 

CLCS bệnh nhân THA đạt mức trung bình ở  hầu  hết  các  lĩnh  vực  sức  khỏe,  ngoại  trừ  khá  thấp ở lĩnh vực SKTT. Do đó cần đẩy mạnh vai  trò của các câu lạc bộ người lớn tuổi, các tổ chức 

xã hội, tổ chức y tế trong việc giúp đỡ, quan tâm  động  viên  tinh  thần  bệnh  nhân  THA  là  người  lớn tuổi.  

Tình trạng hôn nhân và hoạt động thể chất là  hai yếu tố quan trọng tác động lên CLCS ở cả 4  lĩnh  vực  SKTC,  SKTT,  QHXH,  MTS.  Tuân  thủ  điều  trị  tác  động  tích  cực  lên  CLCS  ở  lĩnh  vực  SKTC, SKTT và MTS. Tuổi lớn hơn có liên quan  đến CLCS thấp hơn  ở  lĩnh  vực  SKTC  và  SKTT.  Bên cạnh đó, suy dinh dưỡng và mắc kèm theo  bệnh  Đái  tháo  đường  ảnh  hưởng  tiêu  cực  đến  CLCS lĩnh vực SKTC và SKTT. Phụ nữ bị THA  đánh  giá  CLCS  lĩnh  vực  SKTT  thấp  hơn  so  với  nam  giới.  Bệnh  nhân  THA  có  trình  độ  học  vấn  cao  hơn  có  CLCS  lĩnh  vực  MTS  cũng  cao  hơn.  Nơi  cư  trú  có  liên  quan  đến  CLCS  ở  lĩnh  vực  QHXH. Ngoài ra, mắc kèm theo bệnh mạn tính 

ở bệnh nhân THA là yếu tố quan trọng khác ảnh  hưởng  đến  CLCS  ở  lĩnh  vực  SKTC.  Theo  đó,  chương  trình  can  thiệp  với  mục  tiêu  cải  thiện  CLCS bệnh nhân THA cần thiết được thực hiện.  Trong đó, chú trọng quan tâm đến đối tượng là  bệnh nhân THA lớn tuổi, bệnh nhân THA là nữ  giới, bệnh nhân có trình độ học vấn thấp, bệnh  nhân  cư  trú  tại  khu  vực  dân  cư  thư  thớt,  bệnh  nhân  sống  độc  thân,  góa,  ly  dị/ly  thân,  người  THA bị suy dinh dưỡng hoặc mắc kèm theo các  bệnh  mãn  tính  khác.  Ngoài  ra,  khuyến  khích  động viên bệnh nhân THA thực hiện tốt việc tái  khám  định  kỳ  cũng  như  uống  thuốc  đều  đặn  theo đúng hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ kết  hợp  với  vận  động  thể  lực,  thể  thao  đều  đặn  ít  nhất 30 phút mỗi ngày là việc làm cần thiết.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Figueiredo NJA (2012). Quality of life of hypertensive patients 

Trang 9

and  comparison  of  two  instruments  of  HRQOL  measure. 

Hypertension. 56 (5): 67‐89. 

huyết áp và rối loạn chuyển hóa ở người tăng huyết áp tại xã 

Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ ‐ tỉnh Thái Nguyên. Luận văn 

thạc sỹ Y học. Trường Đại học Y Dược ‐ Đại học Thái Nguyên. 

Tr.36‐41. 

(2004). The burden of adult hypertension in the United States 

1999 to 2000: a rising tide. Hypertension. 44 (4): 398‐404. 

health status and quality of life among older people in rural 

Viet Nam. Global Health Action. Vol 3.23‐65 

hypertension.  its  complications.  and  its  comorbidities. 

Medical care. 39 (6): 599‐615. 

Thu  Trang, Nguyễn  Thị Thu  Sương,  Lê  Anh Tuấn, Mai  Chí 

Công (2012). Độ tin cậy và tính giá trị của WHOQOL‐BREF ở 

người  lớn  tuổi  có  huyết  áp  bình  thường  và  huyết  áp  cao.  Y 

Học TP. Hồ Chí Minh. 16(1)356‐364. 

PK,  He  J  (2005).  Global  burden  of  hypertension:  analysis  of 

worldwide data. Lancet. 365 (9455): 217‐23. 

with  arterial  hypertension.  Part  I:  The  effect  of  socio‐

demographic factors. Przegl Lek. 60.92‐100. 

(2010). Quality of life in hypertensive patients and concurrent 

validity  of  Minichal‐Brazil.  Arquivos  brasileiros  de 

cardiologia. 94 (3): 337‐44. 

10 Monika  Z,  Aleksander  O,  Adam  E,  Jerzy  C  (2012). 

Comorbidities and the quality of life in hypertensive patients. 

Original article. 122(7‐8): 333‐340. 

11 Neva  LC,  Alice  P  (2003).  The  Influence  of  Protein‐Calorie 

Malnutrition on Quality of Life in Nursing Homes. J Gerontol 

A Biol Sci Med Sci. 58(2): 159‐64. 

12 Nguyễn  Lân  Việt  (2011).  Tăng  huyết  áp  ‐  Vấn  đề  đáng  báo 

động  (Chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  phòng  chống  tăng 

huyết  áp).  Viện  Tim  Mạch  ‐  Bệnh  viện  bạch  Mai.  http: 

//huyetap.vn/news/vn/tin‐tuc‐su‐kien/tin‐noi‐bat/danh‐sach‐

21‐bai‐phat‐thanh‐cua‐du‐an.html. Truy cập ngày 4/6/2012. 

13 Nguyễn  Thị  Phương  Lan  (2010).Tỷ  lệ  tăng  huyết  áp  và  các  hành vi nguy cơ tăng huyết áp ở người từ 25‐64 tuổi tại huyện 

Củ Chi – TP. Hồ Chí Minh. Luận án chuyên khoa cấp II. Đại  học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr.44‐48. 

14 Nguyễn Văn Phúc (2011). Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp và các  yếu tố nguy cơ ở người lớn 25‐64 tuổi tại quận 12 thành phố 

Hồ Chí Minh. Luận án chuyên khoa cấp II. Đại học Y Dược 

TP. Hồ Chí Minh. Tr.55‐70. 

15 Phạm Mạnh Hùng. Tìm hiểu và kiểm soát tăng huyết áp. Hội 

//vnha.org.vn/tapchi/TimHieuKiemSoatTHA.indd.pdf.  6/5/2012. Truy cập ngày 4/6/2012. 

16 Phillips SM, Wójcicki TR, McAuley E (2013). Physical activity  and quality of life in older adults: an 18‐month panel analysis.  Qual Life Res.22(7): 1647‐54. 

17 Solah R. Robert TW (March 2013). Malnutrition and quality of  life  in  older  people:  A  systematic  review  and  meta‐analysis.  Ageing Research Reviews. 12(2): 561‐566. 

18 Võ Thị Dễ. Đặng Vạn Phước (2007). Tần suất tăng huyết áp và  các yếu tố nguy cơ ở tỉnh Long An năm 2005. Y Học TP. Hồ  Chí Minh. 11(1)122‐127. 

19 Wang  R,  Zhao  Y,  He  X,  Ma X,  Yan  X,  Sun  Y,  Liu  W,  Gu  Z,  Zhao J, He J (2009). Impact of hypertension on health‐related  quality of life in a population‐based study in Shanghai. China.  Public Health. 123(8)534‐9. 

20 WHO  (1997).  WHOQOL:  Measuring  quality  of  life.  World  Health Organization. Pp. 67‐89. 

21 WHO (2012). WHO Quality of Life‐BREF (WHOQOL‐BREF). 

//www.who.int/substance_abuse/research_tools/whoqolbref/e n/. Accessed on 8/6/2012 

22 WHO  ‐  Regional  Office  for  South  ‐  East  Asia  (2011).  Hypertension  fact  sheet.  Department  of  Sustainable  Development and Healthy Environment.Geneva. Pp 23‐45. 

 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w