1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Rách bể thận do chấn thương thận ứ nước do hẹp phần nối bể thận niệu quản

4 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 400,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu giới thiệu một trường hợp rách bể thận sau chấn thương thận ứ nước do hẹp chỗ nối bể thận niệu quản và kết quả phẫu thuật. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013

Chuyên Đề Ngoại Nhi   148

RÁCH BỂ THẬN DO CHẤN THƯƠNG THẬN Ứ NƯỚC  

DO HẸP PHẦN NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN 

Nguyễn Duy Việt*, Lê Anh Dũng*, Nguyễn Thị Mai Thuỷ* 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Giới thiệu một trường hợp rách bể thận sau chấn thương thận ứ nước do hẹp chỗ nối bể thận 

niệu quản và kết quả phẫu thuật.  

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo ca bệnh, chúng tôi giới thiệu trẻ nữ 4 tuổi, chấn thương thận trái độ V. 

Rách bể thận bên trái/ thận trái ứ nước do hẹp phần nối bể thận niệu quản trái, thận bên phải loạn sản giảm chức  năng, có biểu hiện suy thận cấp. Chụp cắt lớp vi tính để phân loại chấn thương theo hiệp hội chấn thương hoa kỳ,  chụp xạ hình thận đánh giá chức năng thận, xét nghiệm hoá sinh máu và xét nghiệm máu. Bệnh nhân được theo  dõi tình trạng huyết động và nhiễm khuẩn. Phẫu cắt bể thận và tạo hình theo phương pháp Anderson – Hynes’,  lưu sonde JJ 15 cm/4Fr, được rút sau 4 tuần. Xét nghiệm sinh hoá máu, siêu âm và xạ hình thận sau 6 tháng. 

Kết quả: Bệnh nhân nằm viện 24 ngày, xét nghiệm ure và creatinin trước lúc ra viện và ở thời điểm khám 

lại trong giới hạn bình thường. Bệnh nhân không phải truyến máu trong thời gian nằm viện. Xạ hình thận chức  năng, thận trái 78,4% và thận phải 21,6%. 

Kết luận: Một chấn thương nhẹ có biểu hiện suy thận cấp nên được xem xét có dị tật thận cả 2 bên. Phẫu 

thuât ở bệnh nhân rách bể thận là chỉ định tuyệt đối và đồng thời chữa dị tật cho kết quả tốt. 

Từ khóa: Thận ứ nước, phần nối bể thận niệu quản, thận loạn sản. 

ABSTRACT 

A RENAL PELVIC RUPTURE OF HYDRONEPHROSIS DUE TO PUJ STENOSIS 

Nguyen Duy Viet, Le Anh Dung, Nguyen Thi Mai Thuy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 148 ‐ 151 

Objectives:  To  introduce  a  renal  pelvic  rupture  of  hydronephosis  due  to  UPJ  stenosis  and  result  of 

pyeloplasty. 

Methods: Case report, we present a 4 years old female having renal pelvic rupture of hydronephrosis due to 

UPJ stenosis on the left, associated dysplastic right kidney. She occurs acute renal failure. Grade of renal trauma  according to AAST and renal function was calculated by MAC 3. There were some investigations such as urea,  creatinine,  hemoglobin  and  hematocrit.  Hemodynamic  was  followed  by  monitor.  Pyeloplasty  Anderson‐Hynes  technique.  

 With JJ stent that was removed after 4 week operation. The patient was examined 6 months after operation. 

Results: Hospitalization was 24 days, urea and creatinine is normal range. No transfusion with refunction 

is 78.4% on the left kidney and 21.6% on the right kidney. 

Conclusions: Mild renal trauma is associated acute renal failure could be considered both abnormalities of  kidney. Pyeloplasty is indication of renal pelvic rupture due to hydronephrosis with good result. 

Key words: Hydronephrosis, ureteric‐pelvic junction stenosis, dysplastic kidney.  

* Bệnh viện Nhi Trung Ương 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Duy Việt   ĐT: 0904 915 969   Email: vietnhi10@yahoo.com.vn 

Trang 2

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  Nghiên cứu Y học

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Với sự phát triển của  các  phương  tiện  chẩn 

đoán hình ảnh, tỷ lệ bất thường thận bẩm sinh là 

0,1‐23%  trong  nhóm  chấn  thương  thận(1,2,5,7,8,10), 

phần  lớn  là  thận  ứ  nước  do  hẹp  phần  nối  bể 

thận  niệu  quản(1,5,7,8).  Đau  bụng  cấp,  dữ  dội  sau 

một chấn thương thận nhẹ có thể gợi ý bệnh lý 

bất thường bẩm sinh. Chúng tôi giới thiệu bệnh 

nhân nữ 4 tuổi, xuất hiện đau bụng cấp dữ dội 

sau khi ngã từ bậc hè. Chụp cắt lớp vi tính phát 

hiện thận trái ứ nước (74%), thận phải giảm sản 

(26%).  Xét  nghiệm  ure  và  creatinin  biểu  hiện 

tình  trạng  suy  thận.  Lúc  phẫu  thuật  phát  hiện 

vỡ, rách mặt sau của bể thận trái sát chỗ nối, có 

chiều  dại  5  cm,  nhu  mô  thận  không  thấy  dung 

dập,  tụ  máu  hay  rách,  hố  thận  căng  đầy  nước 

tiểu. Bệnh nhân được cắt chỗ hẹp, cắt bể thận và 

tạo hình theo phương pháp Anderson – Hynes, 

lưu sonde JJ 15 cm/4Fr, được rút sau 4 tuần. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Giới thiệu một trường hợp rách bể thận sau 

chấn thương thận ứ nước do hẹp chỗ nối bể thận 

niệu quản và kết quả phẫu thuật.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Nghiên cứu ca bệnh lâm sàng. 

Phương pháp nghiên cứu 

Bệnh nhân Lê Ngọc L, nữ, 4 tuổi, 15 kg, mã 

hồ  sơ:  13565266.  Bệnh  nhân  không  có  triệu 

chứng, chưa được chấn đoán bệnh lý thận trước 

đây. Bệnh nhân xuất hiên đau bụng bên trái dữ 

dội sau khi ngã từ bậc hè. Vào viện theo dõi tại 

phòng hồi sức với tình trạng mạch 117 lần/phút, 

huyết  áp  85/60  mmHg,  nhiệt  độ  36,8.  Bụng 

trướng  căng,  đặc  biệt  hố  thận  trái,  nước  tiểu 

vàng  trong,  không  có  máu.  Bệnh  nhân  được 

theo dõi nước tiểu (bảng 1), xét nghiệm sinh hoá 

máu (bảng 2), xét nghiệm công thức máu (bảng 

3)  và  theo  dõi  huyết  động  (bảng  4).  Bệnh  nhân 

được chụp cắt lớp vi tính (hình 1), cho thấy hình 

ảnh khối dịch lớn chiếm hầu hết nửa bụng trái, 

kích  thước  140  x  104  x  92  mm,  dịch  tỷ  trọng 

thấp. Đài bể thận trái dãn to, đường kính trước  sau  65  mm,  nhu  mô  mỏng,  không  thấy  tổn  thương nhu mô. Xạ hình thận (hình 2), thận trái  74.0 % tắc phần nối bể thận niệu quản trái, thận  phải nhỏ, giảm chức năng 26,0%.  

Bệnh  nhân  được  phẫu  thuật,  phát  hiện  đường rách dài 5 cm, ở mặt sau bể thận, nhu mô  thận mỏng, không phát hiện đụng dập hay tổn  thương  khác  của  nhu  mô  thận.  Phẫu  thuật  cắt  phần  nối  bể  thận  niệu  quản,  cắt  bể  thận  và  tạo  hình  bể  thận  niệu  quản  theo  phương  pháp  Anderson‐Hynes,  đặt  sonde  JJ  và  được  rút  sau 

mổ 4 tuần. 

Bảng 1: Thể tích nước tiểu (ml/h/kg) 

Lúc vào viện Quá trình nằm viện Trước mổ

Bảng 2: Xét nghiệm hoá sinh máu 

Hoá sinh máu Lúc vào viện Quá trình

nằm viện Trước mổ

Creatinin

Bảng 3: Xét nghiệm công thức máu 

Hoá sinh máu Lúc vào viện Quá trình nằm viện Trước mổ

Bảng 4: Tình trạng mạch và huyết áp 

Mạch và huyết

áp Lúc vào viện

Quá trình nằm viện Trước mổ

 

Hình 1: Thận trái nằm trong khối dịch, bể thận giãn, 

thận phải nhỏ 

Trang 3

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013

Chuyên Đề Ngoại Nhi   150

 

Hình 2: Tắc đường bài xuất thận trái, thận phải nhỏ 

chức năng 26% 

KẾT QUẢ 

Bênh nhân được theo dõi truyền dịch, khác 

sinh  trước  mổ  2  tuần  và  làm  các  xét  nghiệm 

thăm  dò.  Cho  đến  trước  mổ,  tình  trạng  nhiễm 

khuẩn  không  giảm,  qua  bảng  3  thấy  số  lương 

bạch cầu và CRP vẫn cao. Xét nghiệm hoá sinh 

máu (bảng 3), thấy chỉ số Ure và Creatinin cao, 

mặc dù thể tích dịch trong giới hạn bình thường 

Hematocrit(3)  và  huyết  áp  được  duy  trì  ổn  định 

trong  quá  trình  điều  trị.  Kết  quả  sau  mổ  và 

khám  lại  sau  6  tháng,  bảng  5  thấy  ure  và 

creatinin về trong giới hạn bình thường. Đường 

kính bể thận giảm sau mổ (bảng 6). 

Bảng 5: Hoá sinh máu sau mổ 

Hoá sinh máu Sau mổ 6 tháng

Bảng 6: Đường kính bể thận sau mổ 

BÀN LUẬN 

Chấn  thương  thận  chiếm  tỷ  lệ  10%  trong 

chấn  thương  bụng  và  cơ  chế  chấn  thương 

thường  gặp  do  vật  tù(9).  Thậm  chí  ở  bệnh  nhân 

nhi  có  cấu  trúc  thận  bình  thường,  vẫn  có  nguy 

cơ  chấn  thương  là  do  cấu  trúc  quanh  thận  ít 

được bảo vệ(5). Bất thường bẩm sinh của thận sẽ 

làm cho thận tổn thương nặng hơn khi có chấn 

thương  mặc  dù  mức  độ  chấn  thương 

độ tổn thương, đặc điểm tổn thương và đánh giá  chức  năng  thận,  cho  thấy  tổn  thương  khác(3).  Phát hiện giãn đài bể thận, nhu mô thận mỏng 

có  thể  gợi  ý  đến  thận  ứ  nước  do  hẹp  phần  nối  trước đây(4). Huyết áp ở bệnh nhi không là yếu 

tố chỉ định phẫu thuật(3). Thể tích máu được theo  dõi  để  quyết  định  lượng  dịch  và  máu  mất,  để  quyết  định  truyền  dịch  và  truyền  máu  hay  không. Bệnh  nhân  có  thể  được  điều  trị  bảo  tồn  hay  can  thiệp  phẫu  thuật  ngay.  Phẫu  thuật  tạo  hình  bể  thận  niệu  quản  được  chỉ  định  ở  bệnh  nhận có xuất hiện vỡ, rách bể thận(4). Tuy nhiên,  một vài thông báo cho thấy phẫu thuật ngay đối  với những trường hợp đái máu sau chấn thương  thận có tỷ lệ cắt thận cao(11,12,13). 

Bệnh nhân của chúng tôi không có đái máu,  nước  tiểu  vàng  trong,  tình  trạng  nhiễm  trùng  không  cải  thiện,  tình  trạng  suy  thận  không  cải  thiện  mặc  dù  bù  đủ  dịch  và  kháng  sinh.  Đồng  thời với thận phải giảm chức năng, vấn đề đặt ra 

là giải quyết tốt nguyên nhân thận bên trái. Bệnh  nhân  được  phẫu  thuật,  phát  hiện  đường  rách  dài 5 cm, ở mặt sau bể thận, nhu mô thận mỏng,  không phát hiện đụng dập hay tổn thương khác  của  nhu  mô  thận.  Phẫu  thuật  cắt  phần  nối  bể  thận niệu quản, cắt bể thận và tạo hình bể thận  niệu  quản  theo  phương  pháp  Anderson  –  Hynes, đặt sonde JJ và được rút sau mổ 4 tuần.  Sau phẫu thuật Ure và creatinin về giới hạn bình  thường, tình trạng nhiễm khuẩn hết. Bệnh nhân 

ra viện sau 1 tuần. 

KẾT LUẬN  

Chấn thương thận, rách bể thận ở bệnh nhân  thận  ứ  nước  do  hẹp  bể  thận  niệu  quản,  có  kết  hợp  với  thận  bên  đối  diện  loạn  sản  giảm  chức  năng,  nên  chỉ  định  phẫu  thuật  ngay  giải  quyết  nguyên nhân cho kết quả tốt. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Brower  P,  Paul  J,  Brosman  SA  (1978).  Urinary  tract  abnormalities  presenting  as  a  result  of  blunt  abdominal  trauma. J trauma, 18: pp 719‐722. 

2 Cass AS (1983). Blunt renal trauma in children. J trauma, 23: 

pp 123‐127. 

3 Chopra  P,  St‐Vil  D,  Yazbeck  S  (2002).  Blunt  renal  trauma  blessing in disguise?. J peadiatric surg, 37: pp 779‐782. 

Trang 4

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  Nghiên cứu Y học

4 Giyanani  VL,  Gerlock  AJ,  Grozinger  KT  (1985).  Trauma  of 

occult hydronephrotic kidney. Urology, 25: pp 8‐12. 

5 Kuzmarov IW, Morehouse DD, Gibson S (1981). Blunt renal 

trauma in pediatric population. J urol,126: pp 648‐649. 

6 Kattan S (2001). Traumatic pelvi‐uretreric junction disruption: 

How can we avoid the delayed diagnosis? Injury, 32: pp 779‐

800. 

7 Lieu  TA,    Fleisher  GR,  Mahboubi  S  (1988).  Hematuria  and 

Clinical Findings as Indications for Intravenous Pyelography 

in Pediatric Blunt Renal Trauma. Pediatrics, 82: pp 216‐222. 

8 Middlebrook  PF,  Schillinger  JF  (1993).  Hematuria  and 

intravenous  pyelography  in  peadiatric  blunt  renal  trauma. 

CJS, 36: pp 59‐62. 

9 McAninch  JW,  Carroll  PR  (1991).  Renal  reconstruction  after 

injury. J Urol, 145: pp 932‐937. 

10 Peterson NE (1989). Complications of renal trauma. Urol Clin 

North Am, 16: pp 221‐236. 

11 Quinlan  DM,  Gearhart  JP  (1990).  Blunt  renal  trauma  in  childhood. Features indicating severe injury. Br J urol, 66: pp  526‐531. 

12 Roy C, Tuchmann C, Pflege D (2001). Post‐traumatic rupture 

of in uretero‐pelvic junction obstruction syndrome: two cases  report. J Radiol, 82: pp 171‐ 173. 

13 Sebatia  MC,  Rodriguez‐Dobao  M,  Quiroga  S  (1999).  Renal  trauma  in  occult  uretero‐pelvic  junction  obstruction:  CT  findings. Eur Radiol, 9: pp 611‐615. 

14 Simith  M,  Johnston  B,  Wessells  H  (2003).  Rupture  of  a  UPJ  obstructed kidney in a 15 years ol boy football player. Am J  Radiol, 180: pp 504. 

  Ngày nhận bài        17/07/2013.  Ngày phản biện nhận xét bài báo     21/07/2013. 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w