1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dẫn truyền thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh

5 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 456,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về đặc điểm dẫn truyền thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân Đái tháo đường tại Phòng khám Thận và Nội tiết – Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổn thương thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân đái tháo đường có tính chất lan tỏa với đặc điểm kéo dài thời gian tiềm, giảm biên độ điện thế, giảm vận tốc dẫn truyền.

Trang 1

TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG   TẠI BV ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH 

Trần Vũ Hoàng Dương*, Nguyễn Thị Lệ** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu: Khảo sát đặc điểm dẫn truyền thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân Đái tháo đường tại Phòng 

khám Thận và Nội tiết – BV Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh. 

Đối tượng và phương pháp: Cắt ngang mô tả 37 trường hợp được chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường.  Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân than phiền về tình trạng rối loạn cảm giác chủ quan ở chi chiếm 35,1%. Khi phân 

tích kết quả đo dẫn truyền thần kinh: tỷ lệ bất thường của dây thần kinh giữa‐vận động 54,1%; dây thần kinh  giữa‐cảm giác 91,9%; dây thần kinh trụ 83,8%; dây thần kinh quay 62,2%; dây thần kinh chày 46,0%; dây thần  kinh mác sâu 91,9%; dây thần kinh mác nông 43,2%. Bất thường về vận tốc dẫn truyền gặp ở tất cả các dây  thần kinh khảo sát. Nhóm bệnh nhân có triệu chứng dị cảm tay có tỷ lệ kéo dài thời gian tiềm và giảm vận tốc  dẫn truyền của dây thần kinh giữa‐cảm giác cao hơn nhóm không có triệu chứng (p <0,05), tương tự ở nhóm  bệnh nhân có dị cảm chân và tỷ lệ giảm vận tốc dẫn truyền của dây thần kinh mác nông (p <0,01).  

Kết luận: Tổn thương thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân đái tháo đường có tính chất lan tỏa với đặc điểm 

kéo dài thời gian tiềm, giảm biên độ điện thế, giảm vận tốc dẫn truyền. Cần lưu ý vai trò của dây thần kinh giữa 

và dây thần kinh mác trong việc phát hiện sớm biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường. 

Từ khóa: đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường, đo dẫn truyền thần kinh, 

thời gian tiềm, biên độ điện thế, vận tốc dẫn truyền. 

ABSTRACT 

CONDUCTION CHARACTERISTICS OF PERIPHERAL NERVES 

IN DIABETIC PATIENTS AT THE HCMC UNIVERSITY MEDICAL CENTER 

Tran Vu Hoang Duong, Nguyen Thi Le  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 448 ‐ 452 

Objective:  To  evaluate  the  conduction  characteristics  of  peripheral  nerves  in  diabetic  patients  at  the 

Nephrology and Endocrinology outpatients department of HCMC University Medical Center. 

Method: This is a cross‐sectional study investigating 37 diabetic patients  

Results:  Rate  of  patients  who  have  sensory  symptoms  was  35.1%.  Rate  of  abnormalities  found  in  nerve 

conduction studies (NCS) involved  the  median  motor  nerve,  median  sensory  nerve,  ulnar  nerve,  radial  nerve,  tibial nerve, peroneal nerve, superficial peroneal nerve was 54.1%, 91.9%, 83.8%, 62.2%, 46.0%, 91.9%, and  43.2%,  respectively.  A  reduction  in  conduction  velocity  were  noted  in  all  of  the  above  nerves  which  were  measured. The median sensory nerve conduction study reveals a higher rate of a prolonged distal latency and a  reduction in conduction velocity in patients with paresthesia of the upper limbs in comparison with those who  have no symptoms (p <0.05). Similarly, the peroneal nerve conduction study reveals a reduction in conduction  velocity in patients with paresthesia of the lower limbs comparison with those who have no symptoms (p <0.01). 

Conclusion: Diabetic peripheral neuropathy is widespread. Its NCS is characterized by a prolonged distal 

* Khóa Y2007, khoa Y, ĐH Y Dược TP. HCM         ** Bộ môn Sinh lý, ĐH Y Dược TP.HCM 

Trang 2

latency, a decrease in action potential amplitude, and a reduction in conduction velocity. Median and peroneal  nerve conduction study plays a role in early detection of diabetic neuropathy. 

Key words: diabetes mellitus, diabetic peripheral neuropathy (DPN), nerve conduction study (NCS), distal 

latency, action potential amplitude, conduction velocity. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

ĐTĐ  là  bệnh  lý  mạn  tính  có  nhiều  biến 

chứng. Tỷ lệ mắc của bệnh ngày càng gia tăng 

song  hành  với  lối  sống  ít  vận  động  và  tình 

trạng  thừa  cân‐béo  phì.  Biến  chứng  thần  kinh 

ngoại  biên  là  một  trong  những  biến  chứng 

xuất  hiện  sớm  và  thường  gặp  ở  bệnh  nhân 

ĐTĐ. Đây là biến chứng ít gây tử vong nhưng 

ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống 

hàng  ngày  của  người  bệnh  do  tình  trạng  rối 

loạn về cảm giác và những tổn thương khó hồi 

phục về vận động như teo cơ, yếu liệt gây ra. 

Bệnh  biểu  hiện  lâm  sàng  rất  đa  dạng  và  tiềm 

ẩn, do đó ít được chú ý khám xét để chẩn đoán 

và điều trị kịp thời. 

Hiện  nay,  với  sự  hỗ  trợ  của  phương  pháp 

chẩn  đoán  điện  sinh  lý  bao  gồm  nhiều  kỹ 

thuật,  trong  đó  quan  trọng  nhất  là  đo  dẫn 

truyền thần kinh, đã đem lại một công cụ hữu 

ích  cho  việc  phát  hiện  sớm  bệnh  thần  kinh 

ngoại biên nói chung và bệnh thần kinh ngoại 

biên do ĐTĐ nói riêng. 

Ở nước ta, đã có  vài  công  trình  nghiên  cứu 

nhằm  tìm  hiểu  đặc  điểm  tổn  thương  thần  kinh 

ngoại biên do ĐTĐ, nhưng vẫn chưa đủ để đánh 

giá một cách chi tiết về biến chứng này, đặc biệt 

là thông qua các chỉ số dẫn truyền thần kinh. Vì 

vậy, chúng tôi thực hiện đề tài  này  nhằm  cung 

cấp  thêm  một  số  thông  tin  về  đặc  điểm  dẫn 

truyền thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân ĐTĐ, 

góp  phần  ứng  dụng  điện  chẩn  đoán  trong  lâm 

sàng. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Bệnh nhân được chẩn đoán Đái tháo đường 

tại phòng khám Thận và Nội tiết – BV Đại học Y 

Dược TP.HCM từ tháng 04/2013 đến 07/2013. 

Tiêu chuẩn chọn vào 

Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  ĐTĐ  theo  tiêu  chí của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) năm 2010,  đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại ra 

Bệnh  nhân  có  bệnh  lý  khác  gây  bệnh  thần  kinh  ngoại  biên:  nghiện  rượu,  bệnh  hệ  thống,  thuốc, suy dinh dưỡng. 

Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang mô tả. 

Cỡ mẫu 

Ước  lượng  cỡ  mẫu  nhằm  xác  định  giá  trị  trung  bình  vận  tốc  dẫn  truyền  của  các  dây  thần  kinh  ngoại  biên  được  khảo  sát  ở  bệnh  nhân ĐTĐ. 

Tính cỡ mẫu theo công thức: 

  Trong đó: 

Z = 1,96 với khoảng tin cậy 95% (α = 0,05). 

σ = độ lệch chuẩn. Theo tác giả Albert (3), độ  lệch  chuẩn  về  vận  tốc  dẫn  truyền  của  dây  TK  mác trên bệnh nhân ĐTĐ là 1,5 m/s. 

d=Khoảng chính xác mong muốn là 0,5 m/s. 

→ Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 35. 

Kỹ thuật chọn mẫu  Liên tục không xác suất. 

Phương pháp thu thập số liệu  Dùng  phiếu  thu  thập  số  liệu  ghi  nhận  kết 

quả qua hỏi bệnh, xét nghiệm và đo dẫn truyền  thần  kinh  bằng  máy  đo  điện  cơ  Neuro‐MEP‐ Micro. 

Xử lý số liệu 

Giá  trị  bình  thường  của  kết  quả  đo  dẫn  truyền thần kinh được tham khảo từ tài liệu của 

Trang 3

tác  giả  Barbara(1).  Các  tính  toán  thống  kê  được 

thực hiện bằng phần mềm STATA 10. 

KẾT QUẢ 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thực  hiện  tại 

phòng  khám  Thận  và  Nội  tiết  –  BV  Đại  học  Y 

Dược  TP.HCM  từ  tháng  04/2013  đến  tháng 

07/2013, số liệu ghi nhận trên 37 bệnh nhân được 

chẩn đoán và điều trị ĐTĐ. 

Bảng 1: Tỷ lệ rối loạn cảm giác chủ quan ở chi 

Rối loạn cảm giác Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Không 24 64,9%

Tổng cộng 37 100%

Trong những bệnh nhân có rối loạn cảm giác 

chủ quan: tỷ lệ dị cảm ở chân là 84,6%, dị cảm ở 

tay là 76,9%. 

Bảng 2: Kết quả đo dẫn truyền thần kinh 

Dây thần kinh

Đặc điểm Thời gian

tiềm

Biên độ điện thế

Vận tốc dẫn truyền

TK giữa-vận động 4,09 ± 0,86 9,34 ± 2,58 51,08 ± 6,2

TK giữa-cảm giác 3,30 ± 0,86 10,93 ± 5,65 44,80 ± 10,47

TK trụ-vận động 2,44 ± 0,31 5,90 ± 1,39 50,93 ± 5,15

TK trụ-cảm giác 2,12 ± 0,39 12,15 ± 5,44 57,27 ± 8,04

TK quay 1,90 ± 0,51 22,22 ± 16,04 58,69 ± 10,46

TK chày 4,53 ± 0,76 9,62 ± 4,62 40,34 ± 5,70

TK mác sâu 4,00 ± 1,00 3,21 ± 1,66 38,33 ± 4,87

TK mác nông 2,80 ± 0,85 10,61 ± 4,76 48,67 ± 12,79

Đơn vị: thời gian tiềm: m/s; biên độ điện thế: 

mV (vận động) hoặc μV (cảm giác); vận tốc dẫn 

truyền: m/s. 

Bảng 3: Tỷ lệ bất thường thời gian tiềm 

Dây thần kinh Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 4: Tỷ lệ bất thường biên độ điện thế 

Dây thần kinh Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Dây thần kinh Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 5: Tỷ lệ bất thường vận tốc dẫn truyền 

Dây thần kinh Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 6: Tỷ lệ bất thường của các dây thần kinh 

Dây thần kinh Số BN (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 7: Liên quan giữa triệu chứng lâm sàng với đặc 

điểm dẫn truyền thần kinh 

Thời gian tiềm

TK giữa-cảm giác

Tê tay

Tổng cộng

Có Không

Bình thường 3 21 24

Khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  tỷ  lệ  bất  thường  thời  gian  tiềm  của  dây  TK  giữa‐cảm  giác  ở  2  nhóm  có  và  không  có  triệu  chứng  tê  tay (p<0,05). 

Bảng 8 

Vận tốc dẫn truyền

TK giữa-cảm giác

Tê tay

Tổng cộng

Có Không

Bình thường 0 11 11

Khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  tỷ  lệ  bất  thường  vận  tốc  dẫn  truyền  của  dây  TK  giữa‐

Trang 4

tê tay (p <0,01). 

Bảng 9 

Vận tốc dẫn truyền

TK mác nông

Tê chân

Tổng cộng

Có Không

Bình thường 4 21 25

Khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  tỷ  lệ  bất 

thường  vận  tốc  dẫn  truyền  của  dây  TK  mác 

nông  ở  2  nhóm  có  và  không  có  triệu  chứng  tê 

chân (p <0,01). 

BÀN LUẬN 

Triệu chứng rối loạn cảm giác chủ quan ở chi 

Tỷ lệ bệnh nhân than phiền về tình trạng dị 

cảm ở chân cao hơn ở tay. Điều này phù hợp với 

y văn khi nhận thấy biến chứng thần kinh ngoại 

biên do ĐTĐ chủ yếu là tình trạng viêm đa dây 

thần  kinh  đối  xứng  ngọn  chi  xảy  ra  ở  chi  dưới 

nhiều hơn chi trên. 

Đặc điểm qua đo dẫn truyền thần kinh 

Bất thường thời gian tiềm 

Tỷ  lệ  bất  thường  cao  nhất  ở  chi  trên  là  dây 

TK giữa‐cảm giác 35,1%, chi dưới là dây TK mác 

nông  5,4%.  Điều  này  củng  cố  quan  điểm  tổn 

thương thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân ĐTĐ 

ảnh hưởng sớm lên các dây TK cảm giác hơn các 

dây TK vận động. 

Bất thường biên độ điện thế 

Tỷ  lệ  bất  thường  cao  nhất  ở  chi  trên  là  dây 

TK giữa‐cảm giác 91,9%, cao hơn so với kết quả 

của  tác  giả  Imada  38%.  Sự  khác  biệt  này  là  do 

chúng tôi chọn giá trị ngưỡng bình thường  cao 

hơn  tác  giả  (chúng  tôi:  >20μV,  Imada:  >12μV). 

Trong  khi  đó  ở  chi  dưới,  tỷ  lệ  bất  thường  cao 

nhất là dây TK mác sâu 24,3%. Kết quả này một 

lần  nữa  cho  thấy  biến  chứng  thần  kinh  ngoại 

biên do ĐTĐ ảnh hưởng nhiều trên các dây TK 

cảm giác. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở 

bệnh  nhân  ĐTĐ,  các  sợi  thần  kinh  có  đường 

kính nhỏ thường dễ bị tổn thương hơn các sợi có 

đường kính trung bình và lớn. 

Bất thường vận tốc dẫn truyền 

Như đã biết, đặc trưng của tổn thương thần  kinh  ngoại  biên  do  hủy  myelin  là  hiện  tượng  giảm vận tốc dẫn truyền. Ở bệnh nhân ĐTĐ có 

sự  hủy  myelin  thứ  phát  xảy  ra  trên  từng  đoạn  của sợi trục do những bất thường về chuyển hóa  sinh ra bởi tình trạng đường huyết tăng cao. Kết  quả  của  chúng  tôi  cho  thấy  bất  thường  vận  tốc  dẫn truyền gặp ở tất cả các dây thần kinh khảo  sát,  thể  hiện  tính  chất  lan  tỏa  của  tổn  thương  thần  kinh  ngoại  biên  do  ĐTĐ  mà  các  tác  giả  Aaron I. Vinik(11) và Lê Quang Cường(6) đã từng  ghi nhận. Trong đó, bất thường về vận tốc dẫn  truyền  của  TK  mác  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (mác  sâu: 91,9%; mác nông: 32,4%). 

Bảng 10: Tỷ lệ bất thường vận tốc dẫn truyền của 

thần kinh mác sâu qua các nghiên cứu 

Tác giả Tỷ lệ Giá trị bình thường

Khi  so  sánh  với  các  nghiên  cứu  khác,  tỷ  lệ  này có sự khác biệt là do khác nhau của quần thể  nghiên  cứu  và  cách  chọn  giá  trị  ngưỡng  bình  thường,  nhưng  đều  cho  thấy  tổn  thương  thần  kinh ngoại biên do ĐTĐ xảy ra ở chi dưới nhiều  hơn  chi  trên  và  ở  chi  dưới  thì  những  thay  đổi  của  TK  mác  gặp  nhiều  hơn  so  với  TK  chày.  Nghiên  cứu  của  tác  giả  Nguyễn  Mai  Hòa  từng  ghi nhận tỷ lệ bất thường vận tốc dẫn truyền của 

TK chày là 6,67%, thấp hơn khá nhiều so với TK  mác  13,33%.  Tác  giả  J.Partanen(8)  nhận  xét  qua  một  nghiên  cứu  sau  10  năm  diễn  tiến  tự  nhiên  của  133  bệnh  nhân  ĐTĐ  type  2,  mức  giảm  vận  tốc dẫn truyền cao nhất là TK mác sâu 3m/s (từ  43,3m/s xuống còn 40,3m/s). 

Đối với chi trên, bất thường về vận tốc dẫn  truyền  gặp  nhiều  ở  dây  TK  giữa  (cảm  giác:  70,3%; vận động: 40,5%). Tỷ lệ này có khác biệt  với nghiên cứu của tác giả Imada 40%, do chúng  tôi  chọn  ngưỡng  bình  thường  khác  tác  giả  (chúng tôi: >50m/s, Imada: >48m/s). 

Trang 5

Liên  quan  giữa  triệu  chứng  lâm  sàng  với 

đặc điểm dẫn truyền thần kinh 

So  sánh  tỷ  lệ  bất  thường  đặc  điểm  dẫn 

truyền  thần  kinh  của  các  dây  thần  kinh  cảm 

giác,  chúng  tôi  nhận  thấy  sự  khác  biệt  có  ý 

nghĩa  thống  kê  ở  2  nhóm  bệnh  nhân  có  và 

không  có  triệu  chứng  rối  loạn  cảm  giác  chủ 

quan. Với những bệnh nhân có triệu chứng dị 

cảm ở tay, tỷ lệ kéo dài thời gian tiềm và giảm 

vận  tốc  dẫn  truyền  của  dây  thần  kinh  giữa‐

cảm  giác  cao  hơn  so  với  nhóm  không  có  dị 

cảm (p <0,05). Kết quả tương tự cũng được ghi 

nhận  ở  chi  dưới,  giữa  triệu  chứng  dị  cảm  ở 

chân với tỷ lệ giảm vận tốc dẫn truyền của dây 

thần kinh mác nông (p <0,01). 

Tuy  nhiên,  có  một  tỷ  lệ  các  bệnh  nhân: 

hoặc  là  đã  ghi  nhận  được  những  bất  thường 

khi  đo  dẫn  truyền  thần  kinh  nhưng  vẫn  chưa 

có than phiền về tình trạng rối  loạn  cảm  giác; 

hoặc là đã có than phiền về tình trạng dị cảm 

nhưng  kết  quả  đo  dẫn  truyền  thần  kinh  còn 

trong giới hạn bình thường. Điều này cho thấy 

có  một  tỷ  lệ  không  tương  xứng  giữa  các  bất 

thường  khi  đo  dẫn  truyền  thần  kinh  với  biểu 

hiện  lâm  sàng  đa  dạng  của  bệnh  thần  kinh 

ngoại biên do ĐTĐ, tương tự như kết quả của 

tác giả Lê Quang Cường(6). Do đó, để phát hiện 

sớm  biến  chứng  thần  kinh  ngoại  biên  trên 

bệnh  nhân  ĐTĐ,  rất  cần  thiết  phối  hợp  giữa 

các triệu chứng lâm sàng và phân tích kết quả 

đo dẫn truyền thần kinh. 

KẾT LUẬN 

Tổn  thương  thần  kinh  ngoại  biên  do  ĐTĐ 

có tính chất lan tỏa với hiện tượng kéo dài thời 

gian tiềm, giảm biên độ điện thế, giảm vận tốc 

dẫn truyền. Trong đó, giảm vận tốc dẫn truyền 

gặp  ở  tất  cả  các  dây  thần  kinh  được  khảo  sát 

cho  thấy  tổn  thương  đặc  trưng  là  tình  trạng 

hủy myelin. 

Tỷ  lệ  bất  thường  cao  nhất  ở  chi  trên  là  TK 

giữa  (cảm  giác:  91,9%,  vận  động:  54,1%)  và  chi 

dưới  là  TK  mác  (mác  nông:  43,2%,  mác  sâu: 

91,9%)  gợi  ý  tính  nhạy  cảm  của  hai  dây  thần  kinh  này  trong  việc  phát  hiện  sớm  biến  chứng  thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân ĐTĐ. 

Có một tỷ lệ phân ly giữa tình trạng rối loạn  cảm  giác  chủ  quan  ở  chi  và  kết  quả  đo  dẫn  truyền  thần  kinh  tương  ứng,  do  đó  cần  thiết  phối hợp giữa triệu chứng lâm sàng và phân tích  kết quả đo dẫn truyền thần kinh để có thể phát  hiện  sớm  biến  chứng  thần  kinh  ngoại  biên  ở  bệnh nhân ĐTĐ. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Barbara  (2005),  Electromyography  and  neuromuscular  disorders:  clinical‐electrophysiologic correlations 2 nd, pp.03‐230. 

2 Diệp Thị Thanh Bình (2006), Nội Tiết Học, Nhà xuất bản Y Học, 

Tp. Hồ Chí Minh, tr.71‐80. 

3 Đỗ  Trung  Quân  (2006),  Biến  chứng  bệnh  Đái  tháo  đường  và  Điều trị. Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, tr.09‐198. 

4 Dyck  PJ,  OʹBrien  PC,  Litchy  WJ,  Harper  CM,  Klein  CJ  (2005), 

“Monotonicity  of  nerve  tests  in  diabetes:  subclinical  nerve  dysfunction  precedes  diagnosis  of  polyneuropathy”,  Diabetes  Care, Vol.28 (9), pp.2192‐2200. 

5 Lamontagne A, Buchthal F (1970), “Electrophysiological studies 

in  diabetic  neuropathy”,  Journal  of  Neurology,  Neurosurgery  and Psychiatry, Vol.33, pp.442‐452. 

6 Lê  Quang  Cường  (1999),  Nghiên  cứu  biểu  hiện  thần  kinh  ngoại  vi  ở  người  trưởng  thành  Đái  tháo  đường  bằng  ghi  điện cơ và đo tốc độ dẫn truyền thần kinh, Luận án tiến sĩ Y  học, Đại học Y Hà Nội. 

7 Nguyễn Thị Lệ và Lê Quốc Tuấn (2013), Khảo sát vận tốc dẫn  truyền  trên  dây  thần  kinh  giữa,  Giáo  trình  thực  hành  Sinh  lý  học, Nhà xuất bản Y học, Tp. Hồ Chí Minh, tr.140‐155. 

8 Partanen J (1995), “Natural history of peripheral neuropathy in  patients  with  non‐insulin‐dependent  diabetes  mellitus”,  New  England Journal Medicine, Vol.333 (2), pp.89‐94. 

9 Tesfaye  S,  Boulton  AJ,  Dyck  PJ,  Freeman  R,  Horowitz  M,  Kempler  P,  Lauria  G,  Malik  RA,  Spallone  V,  Vinik  A,  Bernardi  L, Valensi  P  (2010),  “Diabetic  Neuropathies:  Update 

on Definitions, Diagnostic Criteria, Estimation of Severity, and  Treatments”, Diabetes Care, Vol.33 (10), pp.2285–2293. 

10 Vinik  AI  (1999),  “Diabetic  neuropathy:  pathogenesis  and  therapy”.  The  American  Journal  of  Medicine,  Vol.107  (2B),  pp.17‐26. 

11 Vinik  AI  (2011),  Complications  of  diabetes  mellitus,  Williams  textbook of Endocrinology 12th Ed, Section VIII, pp.1492‐1501. 

12 Vũ Anh Nhị (1996), Nghiên cứu bệnh lý thần kinh ngoại biên 

do Đái tháo đường bằng  phương  pháp  chẩn  đoán  điện,  Luận 

án phó TS khoa học Y dược, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh. 

  Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm