1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình trạng biếng ăn ở trẻ từ 12‐36 tháng tuổi tại phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 6/2012 đến tháng 1/2013

6 162 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 367,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện những mục tiêu sau: (1) xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và phân loại biếng ăn theo IMFeD.(2)Xác định mối liên quan giữa đặc điểm dịch tễ, lâm sàng với tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ biếng ăn, mối liên quan giữa các nhóm biếng ăn. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

 KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG BIẾNG ĂN Ở TRẺ TỪ 12‐36 THÁNG TUỔI   TẠI PHÒNG KHÁM DINH DƯỠNG BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1  

TỪ THÁNG 6/2012 ĐẾN THÁNG 1/2013 

Lê Thị Kim Dung*, Nguyễn Anh Tuấn**, Huỳnh Thị Duy Hương** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Biếng ăn ở trẻ em rất phổ biến. Công cụ IMFeD giúp tiếp cận 6 nhóm biếng ăn ở trẻ. Ở Việt Nam 

chưa có nghiên cứu về phân loại các nhóm biếng ăn. 

Mục tiêu: (1)Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và phân loại biếng ăn theo IMFeD.(2)Xác định mối liên 

quan giữa đặc điểm dịch tễ, lâm sàng với tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ biếng ăn, mối liên quan giữa các nhóm  biếng ăn. 

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, mô tả và phân tích 366 trẻ 12‐36 tháng tuổi có thời gian biếng ăn ≥ 1 

tháng. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, triệu chứng của 6 nhóm biếng ăn theo IMFeD (biếng ăn nhũ nhi, ác cảm với  thức ăn, biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa, sợ ăn, thờ ơ với chuyện ăn, sự quan tâm quá mức của cha mẹ)  được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp.  

Kết quả: Tuổi đến khám nhiều nhất là 12‐<18 tháng tuổi (41%). Tỷ lệ nam:nữ = 1.14:1. Đa số trẻ xuất hiện 

biếng ăn lúc 6‐<12 tháng tuổi (50%). Thời gian biếng ăn trung bình là 11± 6,6 tháng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng là  38,%. Hầu hết trẻ thuộc nhóm biếng ăn nhũ nhi (99,5%). Phần lớn trẻ có ≥ 2 nhóm biếng ăn phối hợp (76%).  Trẻ  có  thời  gian  biếng  ăn  <1  năm  có  tỷ  lệ  suy  dinh  dưỡng  giảm  so  với  trẻ  có  thời  gian  biếng  ăn  ≥1  năm  (PR=0,45; CI: 0,29‐0,70). Trẻ có thể bị sợ ăn nhiều hơn nếu trẻ thuộc một trong hai nhóm: ác cảm với thức ăn  (PR=1,88; CI: 1,11‐3,16); biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa (PR=1,82; CI: 1,07‐3,09). 

Kết luận: Biếng ăn thường xảy ra vào giai đoạn chuyển tiếp thức ăn. Biếng ăn ≥ 1 năm có thể gây suy dinh 

dưỡng. Biếng ăn nhũ nhi phổ biến nhất. Trẻ thường có nhiều nhóm biếng ăn phối hợp. Trẻ ác cảm với thức ăn  hoặc biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa có thể bị sợ ăn nhiều hơn những trẻ không thuộc 2 nhóm này. 

Từ khóa: Biếng ăn, biếng ăn nhũ nhi, ác cảm với thức ăn, phân loại biếng ăn, công cụ IMFeD, suy dinh 

dưỡng. 

ABSTRACT 

FEEDING DISORDERS IN CHILDREN 12‐36 MONTHS OLD AT NUTRITION DEPARTMENT OF 

CHILDREN’S HOSPITAL N 0 1, JUN 2012 – JAN 2013 

Le Thi Kim Dung, Nguyen Anh Tuan, Huynh Thi Duy Huong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 514 ‐ 519 

Background:  Feeding  disorders  are  common  among  children.  IMFeD  tool  helps  pediatricians  identify  6 

kinds of feeding disorders in children. In Vietnam, the classification of feeding disorders has not been researched. 

Objectives: (1) To determine the prevalence of epidemiologic, clinical characteristics and to classify feeding 

disorders based on IMFeD tool. (2)To determine the relations of above characteristics with malnutrition status of  children that had feeding disorders and the relations among feeding disorders. 

Method:  A  descriptive  and  analysis  cross‐sectional  study  enrolled  366  children  of  12‐36  months  old  of 

*Bệnh viện Nhi Đồng 1, **Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP.HCM 

Trang 2

which duration of feeding disorders ≥ 1 month. Epidemiologic, clinical characteristics and symptoms of 6 kinds of  feeding  disorders  based  on  IMFeD  tool  (infantile  anorexia,  sensory  food  aversions,  feeding  disorder  associated  with a concurrent medical condition, fear of feeding, poor appetite in an apathetic and withdrawn child, parental  misperception) were collected by direct interview.  

Results: The most popular children’s age was 12‐<18 months old (41%). Male:female ratio was 1.14:1. Half 

of the children began to have feeding disorders at 6‐<12 months old (50%). Mean duration of feeding disorders  was  11  months  (S.D.=6.6).  The  percentage  of  malnourished  children  was  38.3%.  Most  of  the  children  got  infantile  anorexia  (99.5%).  Lots  of  them  had  more  than  1  kind  of  feeding  disorder  (76%).  Children  of  which  duration  of  feeding  disorders  <  1  year  were  associated  with  decreased  prevalence  of  malnutrition  (PR=0.45;  p<0.001) compared with subjects of which duration of feeding disorders ≥ 1 year. Prevalence of fear of feeding  increased  in  children  involved  in  either  sensory  food  aversions  (PR=1.88;  CI:1.11‐3.16)  or  feeding  disorder  associated with a concurrent medical condition (PR=1.82; CI: 1.07‐3.09). 

Conclusion: Feeding disorders usually appeared in food transition period. Persistent feeding disorders 

may  caused  malnutrition.  The  most  common  feeding  disorder  was  infantile  anorexia.  It  was  likely  that  children  usually  had  complex  feeding  disorders.  Children  with  sensory  food  aversions  or  feeding  disorder  associated with a concurrent medical condition had higher prevalence of fear of feeding than those with none 

of above feeding disorders. 

Key  words:  feeding  disorder,  infantile  anorexia,  sensory  food  aversions,  feeding  disorder  classification, 

IMFeD tool, malnutrition. 

MỞ ĐẦU 

Biếng ăn rất phổ biến trên toàn thế giới và là 

một trong những mối quan tâm lớn nhất của các 

bậc  phụ  huynh.  Hậu  quả  của  biếng  ăn  nếu 

không được điều trị sẽ dẫn đến thiếu chất dinh 

dưỡng, ảnh hưởng sự tăng trưởng, ngoài ra còn 

ảnh  hưởng  xấu  lên  cảm  xúc,  nhận  thức  và  khả 

năng  hòa  nhập  xã  hội  của  trẻ.  Công  cụ  IMFeD 

(Xác  định  và  chẩn  đoán  biếng  ăn)  là  sáng  kiến 

của bác sĩ Benny Kerzner, khoa tiêu hoá và dinh 

dưỡng thuộc trung tâm nhi khoa  quốc  gia  Hoa 

Kỳ,  dựa  theo  phân  loại  các  nhóm  biếng  ăn  của 

bác  sĩ  Irene  Chatoor,  giáo  sư  tâm  thần  và  nhi 

khoa, trung tâm nhi khoa quốc gia Hoa Kỳ, phác 

họa  hướng  tiếp  cận  và  điều  trị  thích  hợp  cho  6 

nhóm  biếng  ăn  ở  trẻ(8).  Ở  Việt  Nam  chưa  có 

nghiên cứu về phân loại các nhóm biếng ăn, do 

đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. 

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các 

mục  tiêu:  (1)  Xác  định  đặc  điểm  dịch  tễ,  lâm 

sàng và phân loại biếng ăn theo IMFeD ở trẻ từ 

12‐36 tháng tuổi; (2) Xác định các mối liên quan 

giữa  đặc  điểm  dịch  tễ,  lâm  sàng  với  tình  trạng 

suy  dinh  dưỡng  ở  trẻ  biếng  ăn,  mối  liên  quan 

giữa các nhóm biếng ăn. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Một  nghiên  cứu  cắt  ngang,  mô  tả  và  phân  tích được tiến hành tiến cứu từ tháng 6/2012 đến  tháng 1/2013 với dân số mục tiêu là những trẻ từ 

12 ‐ 36 tháng tuổi được đưa đến khám biếng ăn  tại  phòng  khám  dinh  dưỡng  bệnh  viện  Nhi  Đồng 1. Cỡ mẫu tính theo công thức là 362 trẻ,  phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Tiêu chuẩn  loại  trừ  là  những  trẻ  có  biểu  hiện  từ  chối  ăn  trong thời gian < 1 tháng, người đưa đến khám  không biết rõ tình trạng biếng ăn của trẻ, trẻ bị  chậm  phát  triển  tâm  thần,  bị  bệnh  lý  cấp  cứu,  bệnh lý thần kinh cơ, bệnh lý ngoại khoa, bệnh 

lý mạn tính như bệnh lý tim mạch, thận, hô hấp,  chuyển  hóa  chưa  kiểm  soát,  dị  tật  bẩm  sinh  đường  tiêu  hóa  chưa  được  điều  trị.  Các  đặc  điểm dịch tễ, lâm sàng, triệu chứng của 6 nhóm  biếng ăn theo IMFeD (gồm: biếng ăn nhũ nhi, ác  cảm  với  thức  ăn,  biếng  ăn  liên  quan  đến  bệnh  nội  khoa,  sợ  ăn,  thờ  ơ  với  chuyện  ăn,  sự  quan 

tâm  quá  mức  của  cha  mẹ) được  thu  thập  bằng 

Trang 3

cách  phỏng  vấn  trực  tiếp  theo  phiếu  thu  thập 

thông tin. 

Thống kê mô tả: tính tỷ lệ phần trăm và tần 

số đối với biến số định tính, tính trung bình và 

độ lệch chuẩn đối với biến số định lượng. Thống 

kê  phân  tích:  phân  tích  đơn  biến  các  mối  liên 

quan  bằng  phép  kiểm  Chi  bình  phương,  phép 

kiểm chính xác Fisher (nếu tần số < 5); phân tích 

đa biến các mối liên quan bằng mô hình hồi quy 

logistic. Ngưỡng thống kê có ý nghĩa khi giá trị 

p < 0,05.  

KẾT QUẢ 

Từ ngày 18/6/2012 đến ngày 16/1/2013 có 366 

trẻ được đưa vào nghiên cứu. 

Đặc điểm dịch tễ 

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu: 21 ± 

7  tháng  tuổi,  trẻ  đến  khám  biếng  ăn  từ  12‐<18 

tháng  tuổi  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (41%).  Tỷ  lệ 

nam:nữ là 1,14:1. Đa số trẻ đến khám biếng ăn là 

con  đầu  lòng  (61%),  thấp  nhất  là  trẻ  thuộc  gia 

đình đông con (≥3 con) (3,5%). 

Đặc điểm lâm sàng 

Thời điểm xuất hiện biếng ăn trung bình là 

10  ±  5,6  tháng  tuổi,  50%  ở  giai  đoạn  6‐<12 

tháng tuổi. 

Thời  gian  biếng  ăn  trung  bình  là  11±  6,6 

tháng,  37,7%  biếng  ăn  từ  6‐<12  tháng,  36,6% 

biếng ăn từ 12‐<24 tháng. 

25%  trẻ  không  được  cho  ăn  thức  ăn  phù 

hợp tuổi. 

60,9% trẻ có cân nặng và chiều cao trong giới 

hạn bình thường, 38,3% suy dinh dưỡng (khi trẻ 

có 1 trong 3 yếu tố cân nặng theo tuổi, chiều cao  theo tuổi, cân nặng theo chiều cao < ‐2SD), 3,5%  thừa cân.  

Các nhóm biếng ăn theo IMFeD 

76% trẻ có ≥ 2 nhóm biếng ăn phối hợp  74,8% phối hợp 2 nhóm biếng ăn nhũ nhi và  biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa. 

Nhóm  biếng  ăn  nhũ  nhi  chiếm  hầu  hết  các  trường hợp (99,5%), nhóm thờ ơ với chuyện ăn  chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,5%). 

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các nhóm biếng ăn 

Các mối liên quan 

Phân  tích  đơn  biến  và  đa  biến  các  mối  liên  quan giữa: 

‐  Đặc  điểm  dịch  tễ,  lâm  sàng  với  tình  trạng  suy dinh dưỡng ở trẻ biếng ăn.  

‐ Giữa các nhóm biếng ăn khác với nhóm sợ 

ăn  (theo  mô  tả  của  tác  giả  Chatoor  trong  cuốn  sách  “Chẩn  đoán  và  điều  trị  các  rối  loạn  nuôi  ăn”(4) thì sợ ăn có thể do các nhóm biếng ăn khác 

khi không được điều trị đúng đắn dẫn đến). 

Phân tích đơn biến 

Bảng 1: Liên quan giữa đặc điểm dịch tễ, lâm sàng với tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ biếng ăn 

1,394 (0,988-1,967) 0,086

1,185 (0,830-1,692) 0,370

0,952 (0,602-1,507) 0,837

Trang 4

SDD n (%) Không SDD n (%) PR (KTC 95%) p

2,038 (1,583-2,622) <0,001

Ăn dặm < 4 tháng tuổi 6(33,3) 12(66,7)

0,866 (0,444-1,686) 0,660

1,231 (0,887-1,708) 0,198 Thức ăn không phù hợp 30(32,6) 62(67,4)

1,4 (1,072-1,830) 0,035

Thời gian biếng ăn < 1 năm 63(29,7) 149(70,3)

0,594 (0,458-0,771) <0,001 Thời gian biếng ăn ≥ 1 năm 77(50) 77(50)

Bảng 2: Liên quan giữa các nhóm biếng ăn khác với 

nhóm sợ ăn 

Sợ ăn

n(%)

Không sợ ăn n(%)

Biếng ăn nhũ nhi

Có 87(23,9) 277(76,1) 0,761

Ác cảm với thức ăn

Có 36(34,3) 69(65,7) 1,755

Không 51(19,5) 210(80,5)

Biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa

Có 61(29,2) 148(70,8) 1,762

Không 26(16,6) 131(83,4)

Sự quan tâm quá mức của cha mẹ

Có 18(28,6) 45(71,4) 1,255

Không 69(22,8) 234(77,2)

Phân tích đa biến  

Bảng 3: Liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng 

với cân nặng lúc sinh, số nhóm biếng ăn và thời gian 

biếng ăn qua phân tích đa biến 

Cân nặng lúc sinh 3,865 1,854-8,057 <0,001

Số nhóm biếng ăn 1,847 1,108-3,079 0,019

Thời gian biếng ăn 0,448 0,287-0,702 <0,001

Bảng 4: Liên quan giữa sợ ăn với ác cảm với thức ăn, 

biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa qua phân tích 

đa biến 

Ác cảm với thức ăn 1,875 1,114-3,156 0,018

Biếng ăn liên quan đến bệnh

nội khoa

1,817 1,069-3,089 0,027

BÀN LUẬN 

Đặc điểm dịch tễ 

Nhóm  tuổi  đến  khám  biếng  ăn  phổ  biến 

nhất  là  12‐<18  tháng  tuổi  (41%),  tương  đương 

với kết quả của tác giả Nguyễn Thanh Danh(9) là 

12‐<24 tháng tuổi, tác giả Đào Thị Yến Phi(6) là 6‐

24 tháng tuổi. 

Tỷ  lệ  nam:nữ  =  1,14:1.  Giống  với  kết  quả  của các tác giả Nguyễn Thanh Danh(9) (1,22:1),  Đào Thị Yến Phi (6) (1,12:1), giống với kết luận  của  các  tác  giả  Carruth  B.R(2),  Chatoor  I.(5)  là  biếng ăn xuất hiện ở cả nam và nữ với tần suất  ngang nhau. 

Đa số trẻ đến khám biếng ăn là con đầu lòng  (61%), thấp nhất là trẻ thuộc gia đình đông con  (≥3  con)  (3,5%).  Gia  đình  ít  con  có  nhiều  thời  gian chăm sóc trẻ và đưa trẻ đến khám biếng ăn  nhiều hơn gia đình đông con. 

Đặc điểm lâm sàng 

Thời điểm xuất hiện biếng ăn  trung  bình  là 

10  ±  5,6  tháng  tuổi,  tập  trung  nhiều  nhất  ở  giai  đoạn 6‐<12 tháng tuổi (50%), là giai đoạn tập ăn  dặm, chuyển tiếp từ thức ăn loãng sang thức ăn  đặc.  Đây  là  giai  đoạn  quan  trọng,  trẻ  học  thêm  những  vị  thức  ăn  mới,  học  cách  nhai,  tiếp  xúc  với muỗng, chén, bàn, ghế khi ăn.  

Thời  gian  biếng  ăn  trung  bình  là  11±  6,6  tháng,  37,7%  biếng  ăn  từ  6‐<12  tháng,  36,6%  biếng  ăn  từ  12‐<24  tháng.  Thời  gian  biếng  ăn  tính  từ  lúc  bắt  đầu  xuất  hiện  biếng  ăn  đến  khi  tham  gia  nghiên  cứu.  Kết  quả  cho  thấy  trẻ  bị  biếng ăn khá lâu chưa được điều trị hoặc điều trị  không hiệu quả. 

25% trẻ không được cho ăn thức ăn phù hợp  tuổi, giống kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả  Đào  Thị Yến Phi(6) (25,8%). 

Đa số trẻ có cân nặng và chiều cao trong giới  hạn  bình  thường  (60,9%),  thậm  chí  có  3,5%  trẻ  thừa cân, có thể do thời gian biếng ăn chưa đủ 

Trang 5

lâu  để  ảnh  hưởng  sự  tăng  trưởng,  có  thể  trẻ 

được bổ sung nhiều sản phẩm dinh dưỡng khác 

hoặc  gia  đình  lo  lắng  quá  mức.  Tuy  nhiên,  có 

38,3% trẻ bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ này thấp hơn 

của  tác  giả  Nguyễn  Thanh  Danh(9)  (77,3%)  và 

Ammaniti M.(1) (51%). 

Các nhóm biếng ăn theo IMFeD 

Nhóm  biếng  ăn  nhũ  nhi  gặp  nhiều  nhất 

(99,5%,  biểu  đồ  1),  giống  với  tác  giả  Ammaniti 

M.(1) (biếng ăn nhũ nhi phổ biến nhất, 62%), khác 

với tác giả Chatoor I.(3) (ác cảm với thức ăn chiếm 

tỷ  lệ  cao  nhất,  36,9%).  Hầu  hết  các  trường  hợp 

biếng ăn là biếng ăn nhũ nhi, cho thấy nhóm này 

rất  phổ  biến  ở  nước  ta.  Nếu  chúng  ta  điều  trị 

được nhóm này thì sẽ giải quyết được phần lớn 

các trường hợp biếng ăn. Thờ ơ với chuyện ăn có 

tỷ  lệ  thấp  nhất  (0,5%),  nhóm  này  rất  hiếm  gặp. 

Một  điểm  đáng  chú  ý  khác  là  17,2%  trẻ  có  sự 

quan tâm quá mức của cha mẹ, những trẻ thuộc 

nhóm này việc điều trị biếng ăn cần kết hợp với 

điều trị tâm lý của cha mẹ. 

Một trẻ có thể có nhiều nhóm biếng ăn phối 

hợp, nghiên cứu thấy 76% có ≥ 2 nhóm biếng ăn 

phối hợp, phản ảnh tình trạng biếng ăn ở trẻ em 

rất phức tạp. 

Trong  các  trường  hợp  biếng  ăn  phức  tạp, 

nhóm  biếng  ăn  nhũ  nhi  phối  hợp  với  biếng  ăn 

liên  quan  đến  bệnh  nội  khoa  chiếm  tỷ  lệ  cao 

nhất (74,8%). 

Các mối liên quan 

Mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ, lâm 

sàng  với  tình  trạng  suy  dinh  dưỡng  qua  phân 

tích đơn biến và phân tích đa biến (bảng 1, bảng 

3), chúng tôi thấy rằng:  

‐ Trẻ biếng ăn có cân nặng lúc sinh <2500g có 

tình trạng suy dinh dưỡng cao hơn gần 4 lần so 

với trẻ có cân nặng lúc sinh ≥2500g (với p<0,001). 

Trẻ có cân nặng lúc sinh thấp là yếu tố nguy cơ 

của tình trạng suy dinh dưỡng(7), nếu những trẻ 

này  bị  biếng  ăn  thì  càng  dễ  bị  suy  dinh  dưỡng 

hơn vì thiếu dưỡng chất. 

‐  Trẻ  có  1  nhóm  biếng  ăn  có  tình  trạng  suy 

dinh dưỡng cao hơn gần 2 lần trẻ có từ 2 nhóm 

biếng  ăn  trở  lên  (p=0,019).  Tuy  nhiên,  số  nhóm  biếng ăn chẩn đoán được trong nghiên cứu của  chúng tôi  là  dựa  vào  sự  nhận  định  của  cha  mẹ 

về các hành vi ăn uống của trẻ, không phản ánh  được  năng  lượng  nạp  vào  của  trẻ  trong  chế  độ 

ăn hàng ngày, vì nếu năng lượng trẻ dung nạp  đáp  ứng  được  nhu  cầu  tăng  trưởng  của  trẻ  thì 

dù  trẻ  biếng  ăn  1  nhóm  hay  phối  hợp  nhiều  nhóm thì vẫn không bị suy dinh dưỡng.  

‐  Trẻ  có  thời  gian  biếng  ăn  <1  năm  có  tỷ  lệ  suy dinh dưỡng giảm 50% so với trẻ có thời gian  biếng ăn ≥1 năm (p<0,001). Những trẻ biếng ăn  được đưa đi khám và điều trị sớm sẽ tránh được 

sự thiếu hụt năng lượng và dưỡng chất kéo dài 

và  sẽ  tránh  được  nguy  cơ  bị  suy  dinh  dưỡng.  Ngược  lại,  trẻ  bị  biếng  ăn  lâu  dài,  đặc  biệt  là  ở  những  trẻ  không  được  bổ  sung  năng  lượng  và  dưỡng  chất  bị  thiếu  hụt  do  biếng  ăn  thì  trẻ  sẽ  không tăng trưởng tốt, dẫn đến suy dinh dưỡng.  Dựa vào các đặc điểm của từng nhóm biếng 

ăn,  chúng  tôi  thấy  rằng  sợ  ăn  là  biểu  hiện  của  tình trạng từ chối ăn quyết liệt, là phản ứng dữ  dội  nhất  đối  với  việc  ăn  uống.  Theo  mô  tả  của  tác giả Chatoor trong cuốn sách “Chẩn đoán và  điều  trị  các  rối  loạn  nuôi  ăn” (4)  thì  sợ  ăn có  vẻ 

như là hệ quả cuối cùng của quá trình biếng ăn, 

sợ  ăn  có  thể  do  các  nhóm  biếng  ăn  khác  khi  không được điều trị đúng đắn dẫn đến. Chúng  tôi  thấy  biếng  ăn  nhũ  nhi  gặp  hầu  hết  ở  các  trường  hợp  biếng  ăn  nên  trẻ  biếng  ăn  nhũ  nhi  đều có thể bị sợ ăn (bảng 2). Trẻ ác cảm với thức 

ăn hoặc biếng ăn liên quan đến bệnh nội khoa bị 

sợ ăn nhiều hơn gần 2 lần so với những trẻ biếng 

ăn  không  thuộc  2  nhóm  biếng  ăn  này  (p<0,05)  (bảng 2, bảng 4). 

KẾT LUẬN 

Biếng  ăn  thường  xảy  ra  vào  giai  đoạn  chuyển tiếp thức ăn. Biếng ăn ≥ 1 năm có thể gây  suy  dinh  dưỡng.  Biếng  ăn  nhũ  nhi  phổ  biến  nhất. Trẻ thường có nhiều nhóm biếng ăn phối  hợp. Trẻ ác cảm với thức ăn hoặc biếng ăn liên  quan  bệnh  nội  khoa  có  thể  bị  sợ  ăn  nhiều  hơn  những trẻ không thuộc 2 nhóm này. 

Trang 6

1 Ammaniti  M,  Lucarelli  L,  Cimino  S,  DʹOlimpio  F,  and 

Chatoor I (2011). Feeding Disorders of Infancy: A longitudinal 

study  to  middle  childhood.  International  Journal  of  Eating 

Disorders, 45 (2): p. 272‐280. 

2 Carruth  BR,  Ziegler  PJ,  Gordan  A,  and  Barr  SI  (  2004). 

Prevalence of  Picky  Eaters  among  Infants  and  Toddlers  and 

Their  Caregivers’  Decisions  about  Offering  a  New  Food. 

Journal of the American Dietetic Association, 104: p. 57‐64. 

3 Chatoor  I  (2009).  Comorbidities  and  complex  feeding 

disorders.  Diagnosis  and  Treatment  of  Feeding  disorders  in 

Infants,  Toddlers,  and  Young  Children,  p.  113.  ZERO  TO 

THREE, Washington DC, USA. 

4 Chatoor  I  (2009).  Posttraumatic  feeding  disorder.  Diagnosis 

and Treatment of Feeding disorders in Infants, Toddlers, and 

Young  Children,  p.  85‐102.  ZERO  TO  THREE,  Washington 

DC, USA.  

5 Chatoor I, Hirsch R, Ganiban J, Persinger M, and Hamburger 

E  (1998).  Diagnosing  infantile  anorexia:  the  observation  of 

mother‐infant interactions. Journal of the American Academy 

of Child and Adolescent Psychiatry, 37(9): p. 959‐967. 

6 Đào Thị Yến Phi (2006). Đặc điểm tình trạng biếng ăn được  gia  đình  nhận  định  của  trẻ  dưới  15  tuổi  khám  tại  TT.  Dinh  dưỡng  TP.HCM.  Luận  văn  Thạc  sĩ  Y  học.  Bộ  môn  Nhi  Đại  học Y Dược TP.HCM. 

7 Ergin F, Okyay P, Atasoylu G, and Beser E (2007). Nutritional  status  and  risk  factors  of  chronic  malnutrition  in  children  under  five  years  of  age  in  Aydın,  a  western  city  of  Turkey.  The Turkish journal of Pediatrics, 49: p. 283‐289. 

8 Kerzner B (2009). Clinical investigation of feeding difficulties 

in  young  children:  a  practical  approach.  Clinical  Pediatrics  (Phila), 48: p. 960‐965. 

9 Nguyễn Thanh Danh (1999). Khảo sát tình hình chán ăn ở trẻ 

em. Tạp chí Y học TP.HCM, 3 (1): p. 44‐48. 

  Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w