1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, sang thương đại thể và vi thể ở bệnh nhi viêm dạ dày tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 05/2012 đến 05/2013

6 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 327,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm tìm hiểu đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, sang thương đại thể và vi thể ở bệnh nhi viêm dạ dày tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 05/2012 đến 05/2013. Nghiên cứu tiến hành mô tả 162 trường hợp viêm dạ dày được chẩn đoán trên mô học theo tiêu chuẩn hệ thống phân loại sydney.

Trang 1

VÀ VI THỂ Ở BỆNH NHI VIÊM DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1  

TỪ THÁNG 05/2012 ĐẾN 05/2013 

Nguyễn Phương Khanh *, Châu Tố Uyên*, Hoàng Lê Phúc*, Nguyễn Anh Tuấn **  

TÓM TẮT 

Mở  đầu: Viêm dạ dày chiếm tỷ lệ 1‐2% dân số chung, bệnh thường có khuynh hướng tái phát làm ảnh 

hưởng chất lượng cuộc sống. Các triệu chứng bệnh ở trẻ em thường rất mơ hồ khiến cho việc chẩn đoán thường  chậm trễ và số ca viêm dạ dày ngày càng tăng dần tại bệnh viện Nhi Đồng.  

Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi mô tả 162 trường hợp viêm dạ dày được chẩn đoán trên mô học theo 

tiêu chuẩn hệ thống phân loại Sydney.  

Kết quả: Độ tuổi thường gặp 7‐10 tuổi (46,9%), số lượng nam nữ tương đương nhau. Đau bụng là triệu 

chứng cơ năng thường gặp nhất (93,2%), kế đến là chán ăn (46,9%) và ói (45,7%). 71% trẻ bị thay đổi cân nặng 

và 15,4% trẻ có thiếu máu. Về nội soi, 24% trường hợp không có sang thương đại thể dạ dày và dạng nốt chiếm 

tỷ lệ cao nhất (45,8%). Về mô học, tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylorilà 82,7%, 100% trường hợp viêm dạ dày mạn  tính. Chúng tôi tìm thấy sự khác nhau giữa hai nhóm viêm dạ dày có và không nhiễm Helicobacter pylori về thời  gian bú mẹ và nơi cư ngụ, sang thương đại thể dạ dày như phù nề, dạng nốt, không sang thương.  

Kết luận: Viêm dạ dày là bệnh cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng nhiều lên sự phát triển của trẻ. Nội soi 

nên kết hợp sinh thiết vì 24% viêm dạ dày có kết quả nội soi bình thường. 

Từ khóa: viêm dạ dày, nội soi 

ABSTRACT  

EPIDEMIC, CLINICAL, MACROLESSION AND MICROLESSION CHARACTERISTICS  

OF GASTRITIS PATIENTS IN CHILDREN HOSPITAL 1 FROM 05/2012 TO 05/2013 

Nguyen Phuong Khanh, Chau To Uyen, Hoang Le Phuc, Nguyen Anh Tuan  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 386‐391 

Background: Gastritis, which has tendency of recurrent and impacts on quality of life, accounts for 1‐2% of 

population.  Its  symptoms  in  children  are  equivocal  resulting  in  late  diagnostics.  The  number  of  gastritis  in  Children Hospital 1 increases more and more.  

Methods: We report 162 cases of gastritis diagnosed in histopathology by the Sydney system standards.   Results: The abundant age‐group is 7‐10 (46.9%), males and females are equivalent. Abdominal pain is the 

most common symptom (93.2%), after that anorexia (46.9%) and vomiting (45.7%). 71% of cases are influenced 

on  weight  and  15.4%  of  patients  have  anemia.  24%  of  cases  are  normal  and  node  is  the  most  common  macrolession ongastric endoscopy (45.8%). The prevalence of Helicobacter pylori infection in our study is 82.7%. 

We found the difference between negative and positive Helicobacter pylori gastritis about the duration of feeding,  accommodation and gastric macrolessions such as oedema, node and no lesion.  

Conclusion:  we  have  to  pay  attention  to  gastritis  because  it  effects  on  growing  of  children.  Gastric 

endoscopy should combine with biopsy because 24% gastritis patients have no lesion on endoscopy.  

Keywords: gastritis, endoscopy  

* Bệnh viện Nhi Đồng 1  ** Bộ Môn Nhi, Đại học Y Dược TP. HCM 

Trang 2

Theo tác giả Quách Trọng Đức, tỷ lệ viêm dạ 

dày  (VDD)  chiếm  1‐2%  dân  số  chung,  bệnh 

thường  có  khuynh  hướng  tái  phát  làm  ảnh 

hưởng chất lượng cuộc sống(16). Các triệu chứng 

VDD ở trẻ em thường rất mơ hồ với  đau  bụng 

(83%),  nôn  kéo  dài  (49%),  chán  ăn  (57,7%), 

không lên cân (61,7%), thiếu máu (21,3%) khiến 

cho việc chẩn đoán thường chậm trễ(10). Ngoài ra 

nguyên nhân VDD  thường  rất  đa  dạng  và  chia 

làm  hai  nhóm:  VDD  cấp  tính  (do  stress,  thuốc 

NSAID, rượu…) và VDD mạn tính (do vi trùng, 

virus,  ký  sinh  trùng,  bệnh  tự  miễn,  dị  ứng ). 

Trong  số  những  tác  nhân  nhiễm  trùng, 

Helicobacter  pylori  (H.pylori)  chiếm  vị  trí  hàng 

đầu gây VDD mạn tính ở trẻ em(6,16,17). Các số liệu 

tại  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  cho  thấy,  số  trường 

hợp  VDD  được  chẩn  đoán  trên  mô  học  năm 

2005 là 330 và tăng lên năm 2011 là 550. Do đó, 

chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  này  với  mục 

đích  khảo  sát  các  đặc  điểm  dịch  tễ,  lâm  sàng, 

sang thương đại thể trên nội soi và sang thương 

vi thể trên mô học của bệnh lý VDD, góp thêm 

những  thông  tin  hữu  ích  cho  các  nhà  lâm  sàng 

trong việc chẩn đoán bệnh. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đây là nghiên cứu hồi cứu mô tả  hàng  loạt 

ca. Tổng số 174 bệnh nhi dưới 15 tuổi được nội 

soi và chẩn đoán xác định VDD trên mô học tại 

bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  theo  tiêu  chuẩn  mô  học 

của hệ thống phân loại Sydney từ tháng 05 năm 

2012 đến tháng 05 năm 2013. Sau khi được giải 

thích về nghiên cứu và ký đồng thuận tham gia 

nghiên cứu, 169 bệnh nhi được phỏng vấn trực 

tiếp và ghi nhận các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng 

và  cận  lâm  sàng  (bao  gồm  công  thức  máu,  kết 

quả nội soi và mô how) theo phiếu thu thập số 

liệu soạn sẵn. Những bệnh nhi không có đủ một 

trong những đặc điểm trên sẽ bị loại khỏi nghiên 

cứu.  Do  đó  tổng  số  bệnh  nhi  còn  lại  trong 

nghiên cứu chúng tôi là 162. 

Thâm  nhiễm  tế  bào  đơn  nhân,  thâm  nhiễm 

bạch  cầu  đa  nhân  trung  tính,  nang  lympho, 

chuyển  sản  ruột,  teo  niêm  mạc  được  xác  định  theo tiêu chuẩn mô học của hệ thống phân loại  Sydney và được phân thành các mức độ: 0 (bình  thường) – 1 (nhẹ) – 2 (trung bình) – 3 (nặng) theo  thang  hình  ảnh  của  hệ  thống  Sydney  cải  tiến.  Viêm  dạ  dày  cấp  tính  được  định  nghĩa  khi  có  thấm  nhập  tế  bào  bạch  cầu  đa  nhân  trung  tính 

và  viêm  dạ  dày  mạn  tính  khi  có  thấm  nhập  tế  bào đơn nhân. 

KẾT QUẢ 

Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi có 162  trường hợp viêm dạ dày mạn tính và không có  trường hợp nào viêm dạ dày cấp tính. 

Đặc điểm dịch tễ 

Tuổi  trung  bình  của  nghiên  cứu  là  9,36,  trong  đó  tuổi  nhỏ  nhất  là  4  và  lớn  nhất  là  15.  Không có bệnh nhi dưới 3 tuổi. Độ tuổi thường  gặp  trong  nghiên  cứu  là  7‐10  tuổi  (46,9%).  Về  giới tính: tỷ lệ nữ (51%) tương đương nam (49%) 

= 1,04  :  1,47.  Có  5%  bệnh  nhi  trong  nghiên  cứu  chúng tôi sống tại TPHCM, trong khi đó tổng số  bệnh  nhi  sống  ở  miền  tây  nam  bộ,  miền  đông  nam bộ và các tỉnh thành khác chiếm 52,5%. Về  hoàn  cảnh  gia  đình:  đa  số  phụ  huynh  học  trên  cấp 3 với tỷ lệ học vấn trên cấp 3 ở cha là 31,5% 

và mẹ là 32,5%. Về nghề nghiệp, phần lớn trẻ có  cha lao động tay chân (72,2%) và mẹ làm việc tại  nhà (64,2%). Tỷ lệ trẻ không bú mẹ là 12,4% và  trẻ bú mẹ trên 6 tháng là 74%. Về đặc điểm môi  trường  sống:  tỷ  lệ  gia  đình  sống  chung  trên  5  người là 30,3 %, số con trên 2 chiếm 87% và đa 

số các trẻ ngủ chung với ba mẹ hoặc anh chị em  ruột (81,5%). 69,8% bệnh nhi có tiền căn gia đình  trong  đó  35,8%  trẻ  có  gia  đình  mắc  bệnh  lý  dạ  dày tá tràng, trong đó 27% do viêm loét dạ dày 

tá  tràng  nhiễm  H.pylori  và  3%  do  ung  thư  dạ 

dày.  Đa  số  bệnh  nhi  khoẻ  mạnh  trước  đó  (50,8%), các tiền  căn  bản  thân  khác  bao  gồm  dị  ứng  (20,3%),  xuất  huyết  tiêu  hoá  trên  (7,5%),  dùng thuốc NSAID (1,1%). 

Đặc điểm lâm sàng  

Đau  bụng  là  triệu  chứng  thường  gặp  nhất  chiếm  93,2%,  kế  đến  là  chán  ăn  (46,9%),  ói 

Trang 3

(46,9%),  buồn  nôn  (40,7%).  Về  tính  chất  đau 

bụng,  đau  trên  1  tháng  chiếm  77,5%,  các  vị  trí 

đau  bụng  thường  gặp  là  thượng  vị  (41,1%)  và 

quanh rốn (45,1%). Các triệu chứng khác như ợ 

hơi,  no  ngang,  oẹ  và  cảm  giác  nóng  rát  sau 

xương  ức  chiếm  tỷ  lệ  thấp  hơn.  Tiêu  phân  đen 

chiếm 21,6%. Về triệu chứng thực thể: 15,4% trẻ 

có  thiếu  máu  trong  đó  60%  thiếu  máu  mức  độ 

nhẹ, 40% mức độ trung bình và không có trường 

hợp  nào  thiếu  máu  nặng.  Đa  số  trẻ  thiếu  máu 

đẳng  sắc  đẳng  bào  và  chỉ  2  trường  hợp  thiếu 

máu  do  thiếu  sắt.  71,4%  bệnh  nhi  VDD  bị  ảnh 

hưởng đến cân nặng, trong đó 29,6% sụt cân và 

41,4% không tăng cân. 

Đặc  điểm  sang  thương  đại  thể  và  vi  thể 

dạ dày 

Sang  thương  đại  thể  dạ  dày:  24%  dạ  dày 

bình  thường  trên  nội  soi.  Dạng  nốt  chiếm  tỷ  lệ 

cao  nhất  45%.  Sang  thương  sung  huyết  và  phù 

nề thường đi đôi với nhau với các tỷ lệ lần lượt 

là 15,5% và 38,7%. Các sang thương dạ dày khác 

như  chấm  xuất  huyết,  chợt  phẳng,  chợt  nổi, 

không tìm thấy trong nghiên cứu chúng tôi. 

Sang thương vi thể dạ dày: 100% trường hợp 

viêm  dạ  dày  mạn  tính.  Nang  lympho  chiếm 

1,2%  các  trường  hợp  và  tỷ  lệ  nhiễm  H.pylori là 

82,7%.  Chúng  tôi  không  tìm  thấy  sang  thương 

teo niêm mạc và chuyển sản ruột. 

Viêm dạ dày và nhiễm H.pylori  

Khi  so  sánh  hai  nhóm  có  và  không  nhiễm 

H.pylori: tỷ lệ các đặc điểm gần như tương đồng 

giữa hai nhóm trừ một số đặc điểm có vẻ khác 

nhau rõ về số lượng.  

Đặc điểm dịch tễ 

Bảng 1: Tỷ lệ % trẻ bú mẹ và nơi cư ngụ giữa hai 

nhóm có và không nhiễm H.pylori 

HP (-) (n = 28) HP (+) (n = 134)

Số ca Tỷ lệ % Số ca Tỷ lệ %

Không bú mẹ 3 7,7 48 92,3

Nơi cư

ngụ

Miền đông nam

Đặc điểm sang thương đại thể dạ dày  Bảng 2: Tỷ lệ % các sang thương đại thể dạ dày giữa 

hai nhóm có và không nhiễm H.pylori 

HP (-)(n = 28) HP (+)(n = 134)

Số ca Tỷ lệ % Số ca Tỷ lệ %

Các dạng viêm dạ dày 

Trong nhóm nhiễm H. pylori, VDD mạn tính 

mức  độ  vừa  nặng  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn  mức  độ  nhẹ (53,2% so với 46,8%). Tuy nhiên trong nhóm 

không  nhiễm  H. pylori, VDD  mạn  tính  mức  độ 

nhẹ  (80%).  Nang  lympho  chỉ  gặp  trong  nhóm 

nhiễm  H.  pylori  (2  trường  hợp).  Tỷ  lệ  %  VDD  hoạt  động  tăng  dần  theo  mưc  độ  nhiễm  H. 

pylori. 

Bảng 3: Tỷ lệ % các dạng VDD và mức độ nhiễm 

H.pylori 

VDDMT (89,3%)25 34

( 44,7%)

13 (22,8%)

0

(10,7%)

42 (45,3%)

44 (77,2%)

3 (100%) 92

BÀN LUẬN  Đặc điểm dịch tễ 

Tuổi  

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không tìm  thấy  trường  hợp  nào  dưới  3  tuổi,  có  thể  triệu  chứng  lâm  sàng  ở  trẻ  nhỏ  còn  nghèo  nàn,  khó  phát  hiện  và  nội  soi  khó  thực  hiện  ở  lứa  tuổi  nhỏ. Tỷ lệ viêm dạ dày tăng cao ở trẻ trên 6 tuổi 

và cao nhất ở nhóm 7‐10 tuổi (46,9%), tương tự  như  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Trọng  Trí  trên 

những  trẻ  nhiễm  H.pylori  tại  bệnh  viện  Nhi 

Đồng 1 và Nguyễn Văn Bàng tại miền Bắc Việt  Nam,  nhóm  7‐10  tuổi  chiếm  tỷ  lệ  lần  lượt  là  53,19%  và  40%.  Sự  tương  đồng  này  có  thể  do  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  số  lượng  trẻ 

viêm  dạ  dày  nhiễm  H.pylori  chiếm  đa  số 

(134/162 trẻ)(8,9,10). 

Trang 4

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tỷ  lệ  nữ  : 

nam  là  tương  đương  nhau  với  tỷ  lệ  1,04  :  1, 

tương tự như ghi nhận của các tác giả khác như 

Nguyễn  Trọng  Trí  (1,2  :  1)(10),  Phạm  Hoàng 

Hưng nghiên cứu tại bệnh viện nhi trung ương 

Huế trên những trẻ đau bụng mạn (1,12 : 1)(15). Ở 

người  lớn,  tác  giả  Quách  Trọng  Đức  cho  thấy 

nam  nhiều  hơn  nữ  với  tỷ  lệ  nam  :  nữ  là  1,4  :  1 

trong khi đó tác giả Nguyễn Đình Hối  và  cộng 

sự ghi nhận với tỷ lệ là 1,7 : 1(16). Sự khác biệt này 

có thể ở người lớn có những yếu tố nguy cơ gây 

viêm dạ dày như: rượu, stress, thuốc. 

Nơi cư ngụ 

Tỷ  lệ  bệnh  nhi  viêm  dạ  dày  sống  tại 

TPHCM  chiếm  47,5%,  số  còn  lại  đến  từ  miền 

tây và miền đông nam bộ, một số ít đến từ các 

tỉnh miền trung và tây nguyên. Tỷ lệ viêm dạ 

dày tập trung cao ở TPHCM trong nghiên cứu 

của  chúng  tôi  có  thể  phần  lớn  do  nhiễm 

H.pylori  và  có  thể  do  bệnh  viện  Nhi  Đồng  ở 

TPHCM.  Nhiễm  H.pylori  được  cho  là  có  liên 

quan tình trạng kinh tế văn hoá, sự đông đúc, 

chật chội, lối sống và TPHCM là nơi có mật độ 

dân  số  dày  đặc.  Những  nghiên  cứu  ở  Việt 

Nam cho thấy số trẻ ở thành thị nhiễm H.pylori 

cao hơn số trẻ ở các tỉnh, điển hình nghiên cứu 

của tác giả Nguyễn Trọng Trí (65,95% trẻ sống 

ở  thành  phố).(10) Tương  tự  như  Hoàng  TT  và 

cộng  sự  khi  tầm  soát  308  trẻ  nhiễm  H.pylori 

bằng huyết thanh chẩn đoán ở Việt Nam, 64% 

trẻ  nhiễm  H.pylori  đến  từ  thành  thị  và  41,2  % 

trẻ từ nông thôn(11). 

Đặc điểm lâm sàng 

Trong  VDD,  các  triệu  chứng  lâm  sàng 

thường không điển hình và có thể biểu hiện tuỳ 

từng  nguyên  nhân  cụ  thể.  Chúng  tôi  ghi  nhận 

triệu chứng cơ năng thường gặp nhất ở trẻ VDD 

trong nghiên cứu là triệu chứng đau bụng chiếm 

93,2%, kế đến là chán ăn và ói với tỷ lệ lần lượt 

là 46,9% và 45,7%. Các triệu  chứng  khác  như  ợ 

hơi, oẹ, no ngang, nóng rát sau xương ức chiếm 

tỷ lệ thấp hơn, và các tỷ lệ này tăng ở các nhóm 

trên 6 tuổi so với các lứa tuổi nhỏ. Điều này phù 

hợp với y văn, có thể đây là các triệu chứng chủ  quan  và  rất  khó  phát  hiện,  tuỳ  thuộc  vào  cảm  nhận và đánh giá của trẻ, mà trong nghiên cứu  của chúng tôi tỷ lệ trẻ VDD cao trong nhóm 7‐10  tuổi.  Theo  y  văn,  các  triệu  chứng  thực  thể  của  bệnh lý VDD thường rất nghèo nàn, có thể là ấn  đau thượng vị, thiếu máu(6)  Trong nghiên cứu  của chúng tôi, 15,4% trẻ có thiếu máu khi đánh  giá  trên  xét  nghiệm  công  thức  máu  và  không  trường  hợp  nào  thiếu  máu  mức  độ  nặng  dù  trong  nghiên  cứu  có  15,4%  tiêu  phân  đen  và  18,9%  bệnh  nhi  ói  máu.  Hầu  hết  tất  cả  các  trường hợp đều là thiếu máu đẳng sắc đẳng bào,  chỉ  2  trường  hợp  thiếu  máu  do  thiếu  sắt.  Như  vậy  thiếu  máu  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

có  thể  do  xuất  huyết  dạ  dày  tá  tràng  và  không 

liên  quan  đến  nhiễm  H.pylori  vì  nhiễm  H.pylori 

có  thể  gây  ra  tình  trạng  thiếu  máu  thiếu  sắt  ở  trẻ(5,14,17).  Ngoài  ra  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi,  71% trẻ bị ảnh hưởng đến cân nặng (41,4% bệnh  nhi không tăng cân và 29,6% bệnh nhi bị sụt cân)  cho  thấy  VDD  cũng  là  một  bệnh  lý  cần  được  quan  tâm  vì  nó  ảnh  hưởng  lớn  đến  sự  tăng  trưởng của trẻ. 

Đặc điểm sang thương đại thể và vi thể dạ  dày 

Sang thương đại thể dạ dày  

Chúng  tôi  ứng  dụng  hệ  thống  phân  loại  Sydney để mô tả sang thương dạ  dày  ở  trẻ  em  qua  nội  soi  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng  1  từ  năm  2003.Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  có  24%  bệnh  nhi  VDD  trên  mô  học  nhưng  hình  ảnh  bình  thường trên nội soi cho thấy sự bất tương xứng  giữa  nội  soi  và  mô  học.  Trong  khi  đó,  tác  giả  Nguyễn  Trọng  Trí  tìm  thấy  tỷ  lệ  dạ  dày  bình  thường trên nội soi là 12,77%, còn Francessco là  43%. Tương tự Hong‐Koh và cộng sự khi nghiên 

cứu nhiễm H. pylori trên dân số đau bụng mạn,  tác  giả  tìm  thấy  có  328  trường  hợp  nhiễm  H. 

pylori  dựa  vào  Clo  test.  Trong  nghiên  cứu  này, 

61 trường hợp (18,6%) có hình ảnh dạ dày bình  thường  trên  nội  soi.  Do  vậy,  mô  học  là  tiêu  chuẩn vàng để chẩn đoán VDD và vấn đề đặt ra 

là sự cần thiết của sinh thiết và xét nghiệm mô 

Trang 5

nốt trong nghiên cứu chúng tôi chiếm 46,8% (71 

trường hợp), trong đó dạng nốt ở thân vị chỉ có 

duy  nhất  1  trường  hợp.  Nốt  là  dạng  sang 

thương rất đặc biệt ở trẻ em vì nó có hình thái rõ 

ràng,  dễ  ghi  nhận.  Theo  y  văn,  đây  là  sang 

thương rất đặc hiệu cho trẻ nhiễm H.pylori, đặc 

biệt ở vị trí hang vị.Tuy nhiên sang thương dạng 

nốt  rất  ít  gặp  ở  người  lớn.  Theo  Quách  Trọng 

Đức và Nguyễn Quang Chung khi đánh giá nội 

soi dạ dày ở người lớn, cả hai tác giả không tìm 

thấy sang thương dạng nốt(16). 

Khi  so  sánh  với  các  nghiên  cứu,  các  sang 

thương đại thể ở dạ dày trong nghiên cứu chúng 

tôi ít đa dạng, chỉ là phù nề, sung huyết và nốt. 

Sự khác biệt này có thể phụ thuộc vào nhận xét 

chủ  quan  của  người  nội  soi  và  thời  gian  xuất 

hiện  các  triệu  chứng,  mà  trong  nghiên  cứu 

chúng tôi thời gian đau bụng trên 1 tháng chiếm 

tỷ lệ thấp hơn (77,5% so với 97,44%). 

Sang thương vi thể dạ dày 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  100% 

trường hợp có thâm nhiễm lympho trên mô học 

từ mức độ nhẹ đến nặng mặc dù 24% hình ảnh 

nội  soi  bình  thường.  Thâm  nhiễm  Neutrophil 

trong nghiên cứu của Kamada chiếm tỷ lệ 100% 

cho thấy viêm dạ dày H.pylori điển hình là viêm 

mạn  tính  hoạt  động,  phù  hợp  với  y  văn.  Còn 

trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tỷ  lệ  này  là 

56,2% so với nghiên cứu của Hong Koh là 74,7% 

mặc dù tỷ lệ nhiễm H.pylori trong nhóm chúng 

tôi cao hơn. Các sang thương khác như teo niêm 

mạc  và  chuyển  sản  ruột  không  tìm  thấy  trong 

nghiên cứu của chúng tôi. Còn trong nghiên cứu 

của tác giả Nguyễn Trọng Trí ghi nhận 8,1% và 

6,52%  teo  niêm  mạc  ở  thân  vị  và  hang  vị.  Sự 

khác  nhau  giữa  hai  nghiên  cứu  có  thể  do  thời 

gian từ lúc xuất hiện bệnh đến khi đi khám khác 

nhau, mà điển hình trong nghiên cứu chúng tôi 

thời gian đau bụng dưới 1 tháng chiếm tỷ lệ cao 

hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng 

Trí  (17,9%  so  với  2,56%).  Theo  y  văn,  viêm  dạ 

dày H.pylori thường tiến triển qua các giai đoạn 

viêm  dạ  dày  mạn  hoạt  động,  sang  teo  dạ  dày, 

rồi đến chuyển sản ruột, loạn sản dạ dày và cuối  cùng  là  ung  thư  dạ  dày.  Như  vậy  hai  sang  thương teo niêm  mạc  và  chuyển  sản  ruột  được  hình  thành  có  thể  do  thời  gian  bệnh  kéo  dài,  hoặc do sự khác biệt về chủng tộc, tuổi cũng như 

các yếu tố độc lực của vi khuẩn H.pylori(2,4,10). 

Viêm dạ dày và nhiễm H.pylori  Đặc điểm dịch tễ  

Sữa mẹ là một yếu tố bảo vệ giúp trẻ tránh  các  tác  nhân  nhiễm  khuẩn  đặc  biệt  là  lứa  tuổi  nhũ  nhi  vì  sữa  mẹ  chưá  rất  nhiều  kháng  thể.  Nhiều nghiên cứu khác nhau đã đề cập đến vấn 

đề  này.  Tác  giả  Nguyễn  Văn  Bàng  và  cộng  sự  ghi nhận thời gian bú mẹ kéo dài trên 6 tháng có 

thể  bảo  vệ  trẻ  tránh  lây  nhiễm  H.  pylori  (OR  = 

0,5).  Tương  tự  như  Rothenbacher  D.  Và  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi,  ở  những  trẻ  nhiễm 

H.pylori, tỷ lệ % trẻ không bú mẹ, bú mẹ dưới và 

trên  12  tháng  giảm  dần.  Trong  khi  đó,  ở  nhóm 

không  nhiễm  H.pylori,  tỷ  lệ  này  tăng  dần  cho 

thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm về bú mẹ và  thời  gian  bú  mẹ  kéo  dài  có  thể  là  yếu  tố  bảo 

vệ(8,9,18). 

Về  nơi  cư  ngụ,  trong  nhóm  nhiễm  H.pylori, 

tỷ lệ % trẻ sống tại TPHCM cao hơn các tỉnh và 

ngược lại, trong nhóm không nhiễm H.pylori, tỷ 

lệ  %  trẻ  sống  tại  miền  tây  nam  bộ  cao  hơn.  Sự  khác biệt này liên quan đến lối sống đông đúc,  chật  chội,  tình  trạng  kinh  tế  xã  hội.  Tương  tự  như tác giả Nguyễn Văn Bàng khi nghiên cứu tỷ 

lệ  nhiễm  H.pylori giữa  các  dân  tộc  khác  nhau  ở  miền Bắc cho thấy,  nhiễm  H.pylori đứng  đầu  là 

dân  tộc  Kinh  (41%),  kế  đến  là  dân  tộc  Giáy  (38,1%) và Dao (20,3%)(8,9). 

Đặc điểm sang thương đại thể  

Trong  nhóm  nhiễm  H.  pylori,  sang  thương 

dạng nốt chiếm tỷ lệ cao nhất (49,6%), kế đến là  phù nề (35,4%) và sung huyết (15%). Ngược lại 

trong nhóm không nhiễm H. pylori, sang thương 

phù  nề  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (59,1%),  tuy  nhiên  vẫn có 22,7% sang thương dạng nốt trong nhóm  này,  cho  thấy  có  sự  khác  biệt  giữa  hai  nhóm.  Theo  y  văn,  nốt  được  cho  là  sang  thương  đặc 

hiệu  cho  tình  trạng  nhiễm  H.pylori,  do  đó  sang 

Trang 6

thương  này  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  trong  nhóm 

nhiễm  H.pylori.  Tuy  nhiên,  trong  nhóm  không 

nhiễm  H.pylori,  sang  thương  này  chiếm  22,7%. 

Điều này có thể do việc điều trị kháng sinh trước 

đó chống các nhiễm khuẩn không đặc hiệu dẫn 

đến  giảm  mật  độ  H.pyloritrên  bề  mặt  gây  âm 

tính  giả  hoặc  do  nhiễm  chủng  Helicobacter 

heilmanii được tìm thấy ở mèo(1,10). 

KẾT LUẬN 

Độ tuổi thường gặp trong nghiên cứu chúng 

tôi  7‐10  tuổi,  số  lượng  nam  nữ  tương  đương 

nhau. Phần lớn bệnh nhi khoẻ mạnh trước đó và 

35,8% trẻ có người thân mắc các bệnh dạ dày tá 

tràng trong đó 27% do viêm loét dạ dày tá tràng 

nhiễm  H.pylori và  3%  do  ung  thư  dạ  dày.  Đau 

bụng  là  triệu  chứng  cơ  năng  thường  gặp  nhất 

(93,2%), kế đến là chán ăn (46,9%) và ói (45,7%). 

71%  trẻ  bị  thay  đổi  cân  nặng  và  15,4%  trẻ  có 

thiếu  máu.  Về  nội  soi,  24%  trường  hợp  không 

phát  hiện  tổn  thương  đại  thể  dạ  dày  mặc  dù 

100% trẻ VDD mạn tính. Phù nề và sung huyết 

thường đi đôi với nhau và dạng nốt chiếm tỷ lệ 

cao  nhất  (45,8%).  Về  mô  học,  tỷ  lệ  nhiễm 

H.pylorilà 82,7%, không có VDD cấp tính, 100% 

trường hợp VDD mạn tính. Chúng tôi tìm thấy 

sự khác nhau giữa hai nhóm VDD có và không 

nhiễm H.pylori về thời gian bú mẹ và nơi cư ngụ, 

sang  thương  đại  thể  dạ  dày  như  phù  nề,  dạng 

nốt, không sang thương. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Kalach N, Papadopoulos S, Asmar E, et al (2009), “In French 

Children,  Primary  Gastritis  is  more  frequent  than 

Helicobacter pylori Gastritis”, Dig Dis Sci; 54:1958‐1965. 

2 Kamada T, Sugiu K, Hata J, Kusunoki H, Hamada H, Kido S, 

et  al  (2006),  “Evaluation  of  endoscopic  and  histological 

findings  in  Helicobacter  pylori  –  positive  Japanese  young 

adults”, J Gastroenterol Hepatol; 21: 258‐61. 

3 Kato S, Nakajima S, Nishino Y, Ozawa K, Minoura T, Konno 

M,  et  al  (2006),  “Association  between  gastric  atrophy  and 

Helicobacter  pylori  infection  in  Japanese  children:  a 

retrospective multicenter study”, Dig Dis Sci; 51: 99‐104. 

4 Koh  H,  Noh  TW,  Baek  SY,  Chung  KS  (2007),  “Nodular 

Gastritis  and  Pathological  Findings  in  Children  and  young 

adults  with  Helicobacter  pylori  infection”,  Yonsei  Medical 

Journal. 48(2): 240‐246. 

5 Koletzko  S,  Jones  NL,  Goodman  KJ,  Gold  B,  Rowland  M,  Cadranel  S,  Chong  S,  Colletti  RB,  Casswall  T,  Elitsur  Y,  Guarner  J,  Kalach  N,  Madrazo  A,  Megraud  F,Oderda  G  (2011),  “Evidence‐based  Guidelines  from  ESPGHAN  and  NASPGHAN for Helicobacter pylori infection in children”, J  Pediatr Gastroenterol Nutr.; 53(2):230‐43 

6 Longo D, Fauci  A,  Kasper  D,  Hauser  S,  Jameson  J,  Loscalzo  J(2000),  Harrison  ‘s  principles  of  Internal  Medicine  13th  edition_Volume 3, MCGRAW‐ HILL: p720‐729.  

7 Luzza  F,  Pensabene  L,  Imeneo  M,  et  al  (2001),  “Antral  nodularity  identifies  childrens  infected  with  H.pylori  with  higher  grades  of  gastric  inflammation”,  Gastrointestinal  endoscopy,53(1): 60‐4. 

8 Nguyễn  Gia  Khánh,  Nguyễn  Văn  Bàng,  Phùng  Đắc  Cam,  Hoàng  Thị  Thu  Hà  (2010),  “Đặc  điểm  dịch  tễ  học  nhiễm  Helicobacter  pylori  ở  trẻ  em  Việt  Nam”,  Tạp  chí  Nhi  Khoa,  3(1): 33‐38. 

9 Nguyễn  Gia  Khánh,  Nguyễn  Văn  Bàng,  Phùng  Đắc  Cam,  Hoàng  Thị  Thu  Hà  (2007),  “Đặc  điểm  dịch  tễ  học  nhiễm  Helicobacter pylori ở trẻ em Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu y  học, 55(6): 146‐153. 

10 Nguyễn  Trọng  Trí  (2003),  “  Đặc  điểm  nhiễm  Helicobacter  pylori tại Bệnh viện Nhi Đồng 1”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ  nội trú chuyên ngành nhi khoa.  

11 Nguyen  V  Bang,  Nguyen  G  Khanh,  Phung  D  Cam,  et  al  (2006),  “Prevalence  of  and  factors  associated  with  Helicobacter  pylori  infection  in  children  in  the  north  of  Vietnam”, Am. J. Trop. Med. Hyg 74(4), pp: 536‐539. 

12 Nguyễn  Văn  Bàng,  Nguyễn  Gia  Khánh  và  cộng  sự  (2006), 

“Nhiễm Helicobacter pylori và biểu hiện  lâm  sàng  ở  trẻ  em  nằm viện”, Tạp chí tiêu hoá Việt Nam; 1(2): 74‐80. 

13 Nguyễn  Văn  Bàng,  Nguyễn  Gia  Khánh  và  cộng  sự  (2006), 

“Nhiễm Helicobacter pylori và biểu hiện  lâm  sàng  ở  trẻ  em  nằm viện”, Tạp chí tiêu hoá Việt Nam; 1(2): 74‐80. 

14 Pacifico L, Anania C, Osborn JF, Ferraro F, Chiesa C. (2010), 

“Consequences  of  Helicobacter  pylori  infection  in  children”,  World J Gastroenterol; 16(41): 5181‐5194. 

15 Phạm  Hoàng  Hưng  và  cộng  sự  (2002),  “Tình  hình  nhiễm  Helicobacter pylori ở bệnh nhân đau bụng  tái  diễn  tại  khoa  nhi Bệnh viện Trung Ương Huế”,  Nhi  Khoa  số  đặc  biệt  tập  10_Hội nghị nhi khoa toàn quốc: tr 264‐268. 

16 Quách  Trọng  Đức  (2001),  “Khảo  sát  đặc  điểm  viêm  dạ  dày  mạn  theo  phân  loại  Sydney  và  mối  liên  quan  giữa  các  đặc  điểm này và Helicobacter pylori “, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ  nội trú.  

17 Ronald  E.  Kleinman,  Oliver  J  Goulet  et  al  (2008),  “Walker’s  Pediatric  Gastrointestinal  Disease”  5  th  Edition  _Volume  1,  People’s Medical Publishing House USA: Chapter 9 Gastritis, 

pp 140‐174. 

18 Rothenbacher  D,  Bode  G  and  Brenner  H  (2002),  “History  of  breastfeeding and Helicobacter pylori infection in pre‐school  children: results of a population‐based study from Germany”,  International Journal of Epidemiology;31:632‐637. 

Ngày nhận bài báo      : 30/10/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo  : 05/11/2013  Ngày bài báo được đăng    : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w