1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình điều trị xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa tại một số bệnh viện lớn

6 143 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 324,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa là một cấp cứu thường gặp và đã có các hướng dẫn điều trị được cập nhật gần đây. Vì vậy, nghiên cứu nhằm khảo sát tình hình điều trị xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa theo hướng dẫn điều trị tại một số bệnh viện lớn ở phía Nam.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA TRÊN KHÔNG DO TĂNG ÁP TĨNH MẠCH CỬA

TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN LỚN

Quách Trọng Đức*, Đào Hữu Ngôi**, Đinh Cao Minh***, Nguyễn Hữu Chung*, Hồ Xuân Linh****,

Nguyễn Thị Nhã Đoan*, Lê Đình Quang*, Võ Hồng Minh Công****, Lê Kim Sang*****

TÓM TẮT

Mở đầu: Xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa (XHTHTKTAC) là một cấp cứu thường

gặp và đã có các hướng dẫn điều trị được cập nhật gần đây

Mục tiêu: Khảo sát tình hình điều trị XHTHTKTAC theo hướng dẫn điều trị tại một số bệnh viện lớn ở phía

Nam

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu không can thiệp trên các trường hợp XHTHTKTAC điều trị tại

khoa Nội Tiêu hóa của 5 bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Trưng Vương và Đa khoa Đồng Nai trong thời gian từ 01/2013 – 12/2013

Kết quả: Có 405 bệnh nhân được khảo sát với tuổi trung bình 50,4 ± 19,4 và tỉ lệ nam: nữ là 3:1 Loét dạ dày

– tá tràng là nguyên nhân gây xuất huyết thường gặp nhất chiếm tỉ lệ 71,9% 70,1% trường hợp XHTHTKTAC được nội soi trong vòng 24 giờ sau nhập viện 98,6% loét dạ dày – tá tràng có Forrest nguy cơ cao được can thiệp qua nội soi, trong khi có 46,6% trường hợp loét Forrest IIc được điều trị can thiệp quá mức bằng nội soi Phương pháp điều trị nội soi phổ biến nhất vẫn là đơn thuần chích cầm máu với Adrenalin 1/10.000 Phương pháp dùng kẹp cầm máu / đầu dò nhiệt chỉ được dùng trong 32,8% 91,6% trường hợp đường dùng PPI đường tĩnh mạch trước khi nội soi, tuy nhiên tỉ lệ áp dụng khuyến cáo sử dụng PPI sau điều trị nội soi chỉ đạt 78%: có 23,3% loét nguy cơ cao và 21,1% loét nguy cơ thấp được điều trị không thích hợp bằng PPI tĩnh mạch liều thấp

Kết luận: Điều trị thực tế XHTHTKTAC tại các bệnh viện lớn phù hợp với hướng dẫn điều trị trong

khoảng 2/3 trường hợp Khảo sát này cho thấy nhu cầu cần tiếp tục tổ chức các chương trình đào tạo y khoa liên tục về phương pháp điều trị nội, và đặc biệt là đẩy mạnh các chương trình huấn luyện nội soi về cách sử dụng kẹp cầm máu và đầu dò nhiệt nhằm đạt được hiệu quả điều trị tốt hơn

Từ khoá: Xuất huyết tiêu hóa.

ABSTRACT

A SURVEY ON THE MANAGEMENT OF ACUTE NON-VARICEAL UPPER GASTROINTESTINAL

BLEEDING AT SEVERAL TERTIARY HOSPITALS

Quach Trong Duc, Dao Huu Ngoi, Dinh Cao Minh, Nguyen Huu Chung, Ho Xuan Linh,

Nguyen Thi Nha Doan, Le Dinh Quang, Vo Hong Minh Cong, Lê Kim Sang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 74 - 79

Background: Acute non-variceal upper gastrointestinal bleeding (ANVUGIB) is a common emergency with

recently updated guidelines

Aim: To make a survey on the management of ANVUGIB at several tertiary hospitals

Methods: This is a prospective observational cohort study conducted at Gia-Dinh people’s,

Nguyen-Tri-* Bộ môn Nội, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** BV An Bình *** BV Đa khoa Đồng Nai

**** BV Nhân dân Gia Định ***** Trung tâm cấp cứu Trưng Vương

Trang 2

Phuong, An-Binh, Trung-Vuong and Dong-Nai General hospitals The treatments on patients with ANVUGIB admitted to the Gastroenterology departments of these hospitals from Jan 2013 – Dec 2013 were collected and analyzed

Results: There were 405 patients in this survey (mean age: 50.4 ± 19.4, Male: female ratio = 3:1) Peptic

ulcer diseases were the most common causes 70.1% of patients were performed upper gastrointestinal endoscopy within 24 hours from admission 98.6% of high-risk ulcers were treated endoscopic treatment while 46.6% Forest IIc ulcers were over-treated with endoscopic injection therapy The most common endoscopic treatment was injection with Adrenaline 1/10.000 Endoscopic treatment with Clipping / heat probe with or without injection were performed in only 32.8% patients with Forrest I or IIa ulcers 91.6% patients received intravenous PPI before endoscopy However, after endoscopy, only 78% of patients were prescribed PPI according the updated guidelines Inappropriately treatment with low dose intravenous PPI were prescribed in 23.3% high-risk ulcers (undertreatment) and 21.1% low-risk ulcers (overtreatment)

Conclusion: The mangement of ANVUGIB at several tertiary hospitals was followed updated guidelines in

two third of patients This survey showed a requirement to continue further continous medical education on the issue and especially, futher endoscopic hands-on training on the use of hemostatic modalities (especially clips and heat probes

Key words: Gastrointestinal bleeding

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp

tĩnh mạch cửa (XHTHTKTAC) là một cấp cứu

nội ngoại khoa thường gặp Mặc dù tần suất

bệnh loét dạ dày – tá tràng cần phải nhập viện có

khuynh hướng giảm dần nhưng tỉ lệ xuất huyết

tiêu hóa do loét dạ dày – tá tràng, nhóm nguyên

nhân chính gây XHTHTKTAC không hề có xu

hướng giảm đi(3,11) Đây cũng là một trong các

vấn đề thực hành lâm sàng nhận được nhiều sự

quan tâm và được cập nhật liên tục hàng năm: từ

khuyến cáo của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt

Nam (2009), đến Khuyến cáo của Hội nghị đồng

thuận quốc tế về xử trí XHTHTKTAC (2010),

Đồng thuận của vùng Châu Á – Thái Bình

Dương (2011) và Hướng dẫn của Hội Tiêu hóa

Mỹ (2012)(1,4,6,9) Nghiên cứu này được thực hiện

nhằm mục đích khảo sát tình hình điều trị

XHTHTKTAC theo khuyến cáo tại một số bệnh

viện lớn ở khu vực phía Nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân  18 tuổi bị XHTHTKTAC được

chẩn đoán và điều trị tại Khoa Nội Tiêu hóa của

năm bệnh viện lớn là Nhân Dân Gia Định, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Trưng Vương và

Đa khoa Đồng Nai trong khoảng thời gian từ

tháng 01/2013 đến tháng 12/2013

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đồng ý nội soi tiêu hóa trên để xác định chẩn đoán và điều trị

Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu và không can thiệp (prospective observational cohort study) Các can thiệp và điều trị cho bệnh nhân hoàn toàn dựa trên quyết định thực tế của các bác sĩ có trách nhiệm điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện Các định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu như sau:

Độ nặng của tình trạng xuất huyết tiêu hóa được đánh giá theo 3 mức độ nhẹ, vừa và nặng(10)

Xuất huyết tái phát: nếu:

- Bệnh nhân ói ra máu đỏ, đi cầu phân đen

và/hoặc ra máu hoặc cả hai kèm theo sốc

- Mạch > 100 lần/phút, Huyết áp tâm thu <

100 mmHg, hoặc cả hai

- Ống thông mũi - dạ dày ra máu tươi trở lại

Trang 3

- Cần truyền > 3 đơn vị máu trong vòng 4 giờ

- Nội soi tiêu hóa trên ghi nhận tổn thương

ban đầu xuất huyết trở lại

Tử vong: tất cả các trường hợp

XHTHTKTAC bị tử vong trong quá trình nằm

việc có hoặc không có liên quan đến tình trạng

mất máu

Xử lý thống kê

Các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

12.0 Xử dụng thống kê mô để tính toán các tần

suất, tỉ lệ

KẾT QUẢ

Từ 01/2013 đến 11/2013, chúng tôi tiến

hành khảo sát các trường hợp xuất huyết tiêu

hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa được

điều trị tại khoa Nội tiêu hóa của năm bệnh viện:

Nhân Dân Gia Định, Nguyễn Tri Phương, An

Bình, Trưng Vương và Đa khoa Đồng Nai Có

405 bệnh nhân được thu dung trong nghiên cứu

với tuổi trung bình là 50,4 ± 19,4 Tỉ lệ nam: nữ là

3:1 Số lượng bệnh nhân được khảo sát ở mỗi

bệnh viện được trình bày ở bảng 1 Nguyên

nhân gây xuất huyết được trình bày ở bảng 2

Mức độ xuất huyết tiêu hóa cũng như các biến cố

xuất huyết tái phát, cần phải phẫu thuật hoặc tử

vong được trình bày ở bảng 3

Bảng 1: Số trường hợp được nghiên cứu tại các bệnh

viện

Nhân Dân Gia Định 78 19,3

Nguyễn Tri Phương 66 16,3

An Bình 82 20,2

Trưng Vương 86 21,2

Đa khoa Đồng Nai 93 23

Nhận xét: Số lượng bệnh nhân tham gia

nghiên cứu phân bố tương đối đồng đều tại các

bệnh viện

Bảng 2: Nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa

Loét dạ dày 149 36,8

Loét tá tràng 142 35,1

Hội chứng Mallory-Weiss 38 9,4

Viêm trợt dạ dày xuất huyết 21 5,2

Ung thư dạ dày 7 1,7 Loét thực quản 7 1,7 Dieulafoy 3 0,7 Không biết 38 9,4 Total 405 100.0

Nhận xét: Loét dạ dày – tá tràng vẫn là nhóm

nguyên nhân thường gặp hàng đầu gây xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa

Bảng 3: Mức độ xuất huyết và tỉ lệ các biến cố lâm

sàng

Mức độ xuất huyết Nhẹ Vừa Nặng

140

201 64

34,6 49,6 15,8 Tái phát 14 3,4 Phẫu thuật 2 0,5

Tử vong 2 0,5 Truyền máu 161 39,8

Về thời điểm thực hiện nội soi tiêu hóa trên tính từ lúc nhập viện và các phương pháp can thiệp được sử dụng trong nghiên cứu, kết quả được trình bày ở bảng 4 và 5 Trong bảng 5, chúng tôi chỉ trình bày kết quả phân tích về phương pháp điều trị nội soi ở các trường hợp loét dạ dày tá tràng được xác định trong nhóm nghiên cứu do các hướng dẫn về phương pháp điều trị nội soi cho các nguyên nhân khác gây xuất huyết tiêu hóa không do tăng áp tĩnh mạch cửa cũng chưa được đề cập một cách rõ ràng

Bảng 4: Thời điểm nội soi tính từ lúc nhập viện

< 6h 166 41

< 12h 39 9,6

12 - 24h 79 19,5

> 24h 121 29,9 Tổng cộng 405 100

Bảng 5: Sự tương hợp giữa tổn thương loét dạ dày –

tá tràng và dạng can thiệp nội soi

Dạng can thiệp nội soi

Loét dạ dày – tá tràng (phân loại Forrest) Tổng

cộng

Ia Ib IIa IIb IIc III

Không can thiệp 0 0 1 1 16 141 159 Chích Adrenaline

pha loãng 11 22 15 45 14 0 107

Trang 4

Dạng can thiệp nội

soi

Loét dạ dày – tá tràng (phân loại Forrest) Tổng

cộng

Ia Ib IIa IIb IIc III

Kẹp cầm máu 1 0 1 0 0 0 2

Kẹp cầm máu +

chích Adrenaline 0 10 9 1 0 0 20

Nhiệt đông + chích

Adrenaline 2 1 0 0 0 0 3

Tổng cộng 14 33 26 47 30 141 291

Cách sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI)

trong nghiên cứu dựa trên đánh giá ban đầu khi

chưa có kết quả nội soi và sau khi đã có kết quả

nội soi được trình bày ở bảng 6 và 7

Bảng 6: Cách sử dụng PPI dựa trên đánh giá lâm

sàng bước đầu

Loại PPI

Esomeprazole

Pantoprazole

Omeprazole

Rabeprazole

Không dùng

200

164

39

1 1

49,4 40,5 9,6 0,2 0,2 Đường dùng

Tĩnh mạch

Chỉ đường uống

Không

398

6 1

98,3 1,5 0,2 Thời điểm khởi động

Trước nội soi

Sau khi nội soi

Không

371

22 1

91,6 5,5 0,2

Bảng 7: Cách sử dụng PPI tiếp tục khi kết quả nội soi

có loét DD-TT

Nguy cơ cao

Ia, Ib, IIa, IIb

TM liều cao 92/120 76,7

TM liều thấp 28/120 23,3 Nguy cơ thấp F IIc,

III

Uống TM

135/171 36/171

78,9 21,1

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, số lượng bệnh nhân ở

mỗi bệnh viện tham gia nghiên cứu cũng gần

tương đương nhau (bảng 1) Cho đến nay tỉ lệ

phân bố của tổn thương gây XHTHTKTAC ở

Việt Nam được công bố chủ yếu chỉ từ một số

nghiên cứu riêng lẻ ở từng bệnh viện, chưa có số

liệu chính thức trên nghiên cứu đa trung tâm

Một số các tài liệu nghiên cứu của các trường đại

học Y trong nước vẫn cần phải sử dụng đến số

liệu của các nghiên cứu nước ngoài Do đó, nghiên cứu này góp phần cho thấy bức tranh tổng thể thực tế tình trạng XHTHTKTAC tại một

số bệnh viện lớn ở Việt Nam Trong nghiên cứu

đa trung tâm này, loét dạ dày – tá tràng là nhóm nguyên nhân thường gặp nhất, tương tự như kết quả của một số các nghiên cứu trước đây(2,5) Tỉ lệ không tìm được nguyên nhân gây xuất huyết vẫn còn chiếm gần 10%

Về chỉ định truyền máu, quan điểm được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất trong xử trí XHTHTKTAC ở cả năm bệnh viện tham gia nghiên cứu là nâng Hct của bệnh nhân lên tối thiểu 20% (riêng với các trường hợp người ≥ 65 tuổi, có tình trạng bệnh tim thiếu máu cục bộ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thì cần nâng lên tối thiểu là 25%)(10) Điều này cũng không khác biệt đáng kể so với khuyến cáo 2012 của Hội Tiêu hóa Mỹ về chỉ định truyền máu khi Hb < 7g/dl và có thể cân nhắc ngưỡng truyền máu cao hơn ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ(6) Một điểm quan trọng nữa là đã có những bằng chứng khá thuyết phục là việc truyền máu quá mức (khi Hb < 9g/dl) có thể làm tăng tỉ lệ tái xuất huyết và tỉ lệ tử vong(12) Tỉ lệ bệnh nhân bị xuất huyết mức độ nặng trong nghiên cứu này chỉ chiếm 15,8% Tuy nhiên, có đến 39,8% trường hợp được chỉ định truyền máu Như vậy có đến gần 25% trường hợp trong nghiên cứu được truyền máu với mức độ xuất huyết cấp không phải ở mức độ nặng Phạm vi dữ liệu của khảo sát đa trung tâm này không cho phép phân tích sâu về truyền máu, tuy nhiên với số liệu nhưng chúng tôi cho rằng cần cẩn trọng xem xét lại đánh giá mức độ xuất huyết khi nhập viện cũng như chỉ định truyền máu Một khảo sát sâu hơn

về thực hành truyền máu trong xử trí XHTHTKTAC là cần thiết nhằm làm sáng tỏ vấn

đề này

Về chỉ định nội soi tiêu hóa trên, các khuyến cáo hiện hành đều đề xuất thực hiện nội soi trong vòng 12 – 24 giờ sau nhập viện(1,4,6,9) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nội soi tiêu hóa trên tại các bệnh viện được thực hiện đúng

Trang 5

theo hướng dẫn điều trị trong 2/3 trường hợp

với 50,6% bệnh nhân được nội soi trong vòng 12

giờ, và 70,1% được nội soi trong vòng 24 giờ sau

nhập viện Về phương pháp nội soi can thiệp,

các khuyến cáo hiện hành chủ yếu chỉ đề cập

đến tổn thương loét dạ dày – tá tràng, các

phương pháp can thiệp dành cho các tổn thương

khác gây XHTHTKTAC vẫn chưa được hệ thống

hóa và đề xuất cụ thể Do đó, chúng tôi chỉ tiến

hành phân tích phương pháp điều trị nội soi

trong 291 trường hợp xuất huyết tiêu hóa do loét

dạ dày – tá tràng trong nghiên cứu Các tổn

thương loét có phân loại Forrest Ia, Ib và IIa

được các hướng dẫn điều trị thống nhất khuyến

cáo là có chỉ định điều trị bằng nội soi, trong khi

loét Forrest IIc và III được xem là có nguy cơ tái

xuất huyết thấp, không cần điều trị nội soi và có

thể xem xét xuất viện sớm nếu không có bệnh

phối hợp quan trọng(1,4,6,9) Nghiên cứu của chúng

tôi cho thấy 98,6% (72/73) trường hợp loét

Forrest Ia, Ib và IIa được can thiệp nội soi, tuy

nhiên vẫn còn 46,6% (14/30) trường hợp Forrest

IIc được can thiệp quá mức cần thiết Đối với loét

Forrest IIb (loét có cục máu đông bám trên đáy

loét), các hướng dẫn điều trị hiện hành vẫn chưa

hoàn toàn thống nhất về quyết định xử trí trên

nội soi: khuyến cáo của vùng Châu Á -Thái Bình

Dương là cần rửa trôi cục máu đông để đánh gía

chính xác hơn tổn thương phía dưới và ra quyết

định điều trị thích hợp(9) Khuyến cáo của Hội

Tiêu hóa Mỹ năm 2012 dành cho Forrest IIb là

tùy quyết định của bác sĩ nội soi có thể điều trị

hoặc không điều trị tùy trường hợp(6) Nghiên

cứu này cho thấy 95,7% (45/47) trường hợp loét

Forrest IIb được can thiệp bằng chích cầm máu

đơn thuần quanh cục máu đông Chúng tôi cho

rằng đây là cách tiếp cận uyển chuyển, hợp lý vì

tình hình thực tế tại các bệnh viện Việt Nam

thường có trang thiết bị cầm máu tương đối

chưa đầy đủ và kinh nghiệm của người trực can

thiệp nội soi cũng khá khác nhau do đó quyết

định chiến lược điều trị cũng nên uyển chuyển

tùy tình huống thực tế ở mỗi trường hợp

Về phương pháp can thiệp nội soi, tất cả các khuyến cáo nêu trên đều cho rằng can thiệp bằng chích Adrenalin đơn thuần không đạt hiệu quả tối ưu và khuyến cáo nên phối hợp thêm với phương pháp cơ học hoặc nhiệt Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương pháp điều trị phổ biến nhất hiện tại ở các bệnh viện lớn vẫn là chích cầm máu với Adrenalin pha loãng 1/10.000 với tỉ lệ 65,8% (48/73) trường hợp được can thiệp

Tỉ lệ sử dụng kẹp cầm máu có kèm / không kèm chích cầm máu là 28,7% (21/73) và tỉ lệ sử dụng đầu dò nhiệt là 4,1% (3/73) Tỉ lệ sử dụng đầu dò nhiệt khá thấp do chỉ có một trong năm bệnh viện tham gia nghiên cứu được trang bị phươn

g tiện này Tuy nhiên, kẹp cầm máu là phương tiện sẵn có ở cả năm bệnh viện nhưng chưa được sử dụng thường xuyên Điều này cho thấy trong tương lai cần có các chương trình huấn luyện cầm tay (hands-on training) về cách thức sử dụng các phương pháp này một cách hiệu quả hơn trong điều trị loét dạ dày – tá tràng xuất huyết

Về việc sử dụng PPI trước khi bệnh nhân được nội soi, các khuyến cáo gần đây đều thống nhất quan điểm sử dụng có thể sử dụng PPI liều cao đường tĩnh mạch, đặc biệt là khi không có điều kiện làm nội soi can thiệp hoặc khả năng can thiệp nội soi trễ > 24 giờ, nhằm làm giảm khả năng xuất huyết tiến triển(6,9) Nghiên cứu của Lau và cộng sự cho thấy việc điều trị sớm bằng PPI tĩnh mạch trước nội soi có thể làm giảm tỉ lệ các ổ loét dạ dày – tá tràng có nguy cơ cao trên nội soi, cần phải can thiệp nội soi(7) Tuy nhiên các khuyến cáo cũng khẳng định nội soi can thiệp vẫn phải đóng vai trò chủ đạo, do phương pháp sử dụng PPI liều cao đơn thuần mà không kèm can thiệp nội soi cũng không cải thiện được tình trạng tái xuất huyết, phẫu thuật và tử vong

ở bệnh nhân XHTHTKTAC Khuyến cáo của vùng Châu Á – Thái Bình Dương đặc biệt nhấn mạnh hiệu quả của việc sử dụng PPI liều cao tĩnh mạch trước điều trị là rõ ràng nhất nếu không thể nội soi can thiệp sớm trong vòng 24 giờ(9) Trong khảo sát của chúng tôi, 91,6% trường

Trang 6

hợp được điều trị bằng PPI trước nội soi trong

khi có đến 70,1% trường hợp được nội soi sớm

trong vòng 24 giờ đầu Điều này cho thấy thái độ

điều trị hết sức tích cực góp phần giải thích tỉ lệ

tái xuất huyết, phẫu thuật và tử vong tương đối

thấp ở các bệnh viện trong nghiên cứu Tuy

nhiên vấn đề hiệu quả thực tế của việc điều trị

PPI trước nội soi trong trường hợp bệnh nhân

được nội soi sớm trong vòng 24 giờ cũng cần chờ

vào những bẵng chứng y học thuyết phục hơn

Về việc điều trị với PPI sau khi bệnh nhân

có kết quả nội soi, các khuyến cáo thống nhất

rằng cần tiếp tục PPI liều cao truyền tĩnh mạch

liên tục trong 72 giờ kế tiếp đối với loét dạ dày –

tá tràng Forrest Ia, Ib, IIa và IIb; trong khi đó loét

Forrest IIc và III có nguy cơ thấp nên có thể sử

dụng PPI đường uống Đối chiếu với kết quả

khảo sát tại năm bệnh viện, chúng tôi nhận thấy:

chỉ có 78% (227/291) trường hợp được loét được

điều trị đúng hướng dẫn (bảng 7) Có 23,3%

trường hợp loét nguy cơ cao được điều trị kém

tích cực với PPI liều thấp đường tĩnh mạch; và

ngược lại có 21,1% trường hợp loét nguy cơ thấp

được điều trị tích cực quá mức với PPI tĩnh

mạch Một nghiên cứu gộp của Sachar và cộng

sự mới được công bố năm 2014 cho thấy hiệu

quả của PPI liều thấp tĩnh mạch và PPI liều cao

đường tĩnh mạch có thể cũng không khác biệt

khi đã điều trị bằng nội soi khi xét các tiêu chí về

tỉ lệ tái xuất huyết, truyền máu, can thiệp cấp

cứu, thời gian nằm viện và tỉ lệ tử vong(8) Công

trình này có thể góp phần quan trọng tạo ra thay

đổi trong các khuyến cáo điều trị về

XHTHTKTAC trong tương lai

KẾT LUẬN

Khảo sát phương pháp điều trị

XHTHTKTAC tại một số bệnh viện lớn cho thấy

việc tuân thủ khuyến cáo hiện hành nhìn chung

đạt được trong khoảng 2/3 trường hợp Nghiên

cứu này cho thấy nhu cầu cần tiếp tục tổ chức các chương trình đào tạo y khoa liên tục về phương pháp điều trị nội, và đặc biệt là nhu cầu đẩy mạnh các chương trình huấn luyện nội soi

về cách sử dụng kẹp cầm máu và đầu dò nhiệt nhằm đạt được hiệu quả điều trị tốt hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barkun A, Bardou M, Kuipers EJ, et al (2010) International consensus recommendations on the management of patients with nonvariceal upper gastrointestinal bleedings, Ann Intern Med; 152(2):101-13

2 Đào Xuân Lãm, Trần Xuân Linh, Bùi Nhuận Quý, Trần Thị Hoàng Yến (2010) Nhận xét thang điểm Rockall và Blatchford trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên Y Học TP Hồ Chí Minh; tập 14 (phụ bản của số 2): 8 - 13

3 El-Serag H, Sonnenberg A (1998) Opposing time trends of peptic ulcer and reflux disease Gut; 43: 327-333

4 Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam(2009), Khuyến cáo xử trí xuất huyết tiêu hóa trên cấp tính không do tăng áp tĩnh mạch cửa,

Hà Nội

5 Huỳnh Nguyễn Đăng Trọng, Quách Trọng Đức (2014) Các yếu

tố dự đoán tổn thương trên nội soi có nguy cơ cao trong xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa Y Học TP

Hồ Chí Minh; tập 18 (phụ bản của số 1, chuyên đề Nội khoa):

584 – 588

6 Laine L, Jensen D (2012) Management of Patients With Ulcer Bleeding Am J gastroenterol Am J Gastroenterol; 107: 345– 360

7 Lau J, Leung K, Wu J, et al (2007) Omeprazole before Endoscopy in Patients with Gastrointestinal Bleeding N Engl J Med; 356:1631-1640

8 Sachar H, Vaidya K, Laine L (2014) Intermittent vs Continuous Proton Pump Inhibitor Therapy for High-Risk Bleeding Ulcers:

A Systematic Review and Meta-analysis JAMA Intern Med [Epub ahead of print] doi: 10.1001/jamainternmed.2014.4056

9 Sung JJ, Chan FK, Chen M, et al (2011) Asia-Pacific working group on non-variceal upper gastrointestinal bleeding Gut 2; 60(9): 1170-1177

10 Trần Kiều Miên (2012), Xuất huyết tiêu hóa Trong: Châu Ngọc Hoa, Điều trị học Nội khoa, tr: 198 – 209 Nhà xuất bản Y học

11 Van Leerdam ME, Vreeburg EM, Rauws EA, et al (2003) Acute upper GI bleeding: did anything change? Am J Gastroenterol; 98:1494-1499

12 Villanueva C, et al (2013) Transfusion Strategies for acute upper gastrointestinal bleeding N Engl J Med; 368:11-21

Ngày nhận bài báo: 27/10/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm