1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng kỹ thuật PCR định lượng huỳnh quang trong chẩn đoán trước sinh nhanh phát hiện bất thường số lượng nhiễm sắc thể ở người

6 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 321,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm ứng dụng thành công kỹ thuật PCR định lượng huỳnh quang phát hiện dị bội NST 13, 18, 21, X, Y trong các mẫu dịch ối. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH NHANH PHÁT HIỆN  

BẤT THƯỜNG SỐ LƯỢNG NHIỄM SẮC THỂ Ở NGƯỜI 

Hoàng Hiếu Ngọc*, Phạm Thị Huyền Trang**, Phạm Hùng Vân**, Nguyễn Vạn Thông***,  

Khổng Hiệp***  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Vài năm trở lại đây, nhiều kỹ thuật sinh học phân tử mới được phát triển với mục đích phát 

hiện các bất thường số lượng các nhiễm sắc thể và giúp chẩn đoán trước sinh các thai kỳ nguy cơ với thời gian  nhanh hơn mà vẫn đảm bảo độ chính xác như kỹ thuật làm nhiễm sắc thể đồ. Xuất phát từ nhu cầu trên, nhóm  nghiên cứu của chúng tôi tiến hành ứng dụng kỹ thuật PCR định lượng huỳnh quang (QF – PCR) để chẩn  đoán nhanh bất thường số lượng nhiễm sắc thể 13, 18, 21, X, Y ở người. 

Mục tiêu: Ứng dụng thành công kỹ thuật PCR định lượng huỳnh quang phát hiện dị bội NST 13, 18, 21, 

X, Y trong các mẫu dịch ối. 

Phương pháp: Tách chiết DNA từ các mẫu dịch ối của các thai kỳ nguy cơ (bất thường double test, triple 

test) và có chỉ định của bác sĩ lâm sàng. Sau đó, thực hiện phản ứng PCR định lượng huỳnh quang và cuối cùng  điện di sản phẩm khuếch đại trên hệ thống điện di mao quản. Dữ liệu thô thu được sẽ được phân tích trên phần  mềm chuyên dụng để tìm ra bất thường trong mẫu ối. 

Kết  quả: Từ tháng 03/2010 đến tháng 01/2011 chúng tôi thu thập được 64 mẫu ối từ thai kỳ nguy cơ. 

Trong đó phát hiện được 10 trường hợp bất thường (16,9%). Các kết quả này đều tương đồng với kết quả nhiễm  sắc thể đồ được thực hiện song song tại bệnh viện Hùng Vương. 

Kết luận: Bằng việc ứng dụng kỹ thuật QF‐PCR, chúng tôi đã xây dựng thành công qui trình xét nghiệm 

chẩn đoán bất thường số lượng nhiễm sắc thể với độ chính xác cao và tiết kiệm thời gian, cung cấp một phương  tiện chẩn đoán cho bác sĩ sản khoa trong việc xác định bất thường số lượng nhiễm sắc thể ở những thai kỳ nguy 

cơ cao. 

Từ khóa: QF‐PCR, chẩn đoán trước sinh, dị bội thể 

ABSTRACT 

RAPID PRENAL DIAGNOSIS BY QUANTITATIVE FLUORESCENT POLYMERASE  

CHAIN REACTION TO DETECT HUMAN ANEUPLOIDIES IN AMNIOTIC FLUIDS 

Hoang Hieu Ngoc, Pham Thi Huyen Trang, Pham Hung Van, Nguyen Van Thong, Khong Hiep,  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 144 ‐ 149 

Background:  Previously,  aneuploidies  were  usually  diagnosed  by  karyotype.  But  this  technique  is  time 

consuming and hardly avoid the concern for pregnant women. Based on the development of molecular biology in  medicine, we apply quantitative fluorescent polymerase chain reaction technique (QF‐PCR) to detect aneuploidies 

in amniotic fluids from high risk pregnancy with reducing time. 

Objective: Detecting aneuploidies in amniotic fluids from high risk pregnancy.  

Method:  DNA  from  amniotic  cells  were  extracted  and  then  performed  QF‐PCR.  The  fluorescent‐labeled 

amplicons were detected by capillary electrophoresis system. Then, these raw data were analyzed by specific software. 

* Bộ môn Hoá Sinh, Khoa Y, Đại học Y Dược TPHCM, ** Công ty Nam Khoa, *** Bệnh viện Phụ Sản Hùng Vương 

Trang 2

Results: From 03/2010 to 01/2011, we have 64 amniotic fluid samples.  There  are  10  cases  (16.9%)  with 

aneuploidies  including  3  cases  of  trisomy  21,  3  cases  of  trisomy  18,  1  case  of  Turner  syndrome,  3  cases  of  Klinfelter syndrome. These results share the similarity of karyotype that also performed simultaneously at Hung  Vuong Hospital. 

Conclusions: By applying QF‐PCR, we have built up the examination to detect aneuploidies from amniotic 

fluids successfully. Since, we open up the new trend of rapid prenatal diagosis in Vietnam. 

Keywords: QF‐PCR, prenatal diagnosis, aneuploidy. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bất  thường  số  lượng  nhiễm  sắc  thể  là 

nguyên  nhân  thường  gặp  nhất  của  dị  tật  bẩm 

sinh, ảnh hưởng lên 1 trong 165 trẻ sơ sinh(7). Sự 

bất thường nhiễm sắc thể ảnh hưởng lên thai kỳ, 

gây  dị  tật  bẩm  sinh  hoặc  sẩy  thai.  Khoảng  một 

nửa các trường hợp sẩy thai tự nhiên ở ba tháng 

đầu  là  do  nguyên  nhân  nhiễm  sắc  thể.  Bất 

thường  nhiễm  sắc  thể  phát  hiện  bằng  chọc  ối 

chiếm  30  –  35%  theo  sau  việc  siêu  âm  thấy  bất 

thường(11, 14). Bất thường nhiễm sắc thể được chia 

thành bất thường về cấu trúc và số lượng nhiễm 

sắc  thể.  Bất  thường  về  số  lượng  có  thể  là  thêm 

hẳn một bộ nhiễm sắc thể (đa bội) hoặc là thừa, 

thiếu  một  nhiễm  sắc  thể  (dị  bội)  thì  gặp  nhiều 

hơn  là  bất  thường  về  cấu  trúc  nhiễm  sắc  thể  ‐ 

chiếm đến khoảng 95% các trường hợp(13). 

Các trường hợp đa bội có thể là do rối loạn 

trong quá trình phân chia của trứng hay thường 

gặp hơn là 2 tinh trùng được thụ tinh vào cùng 

một trứng. Trái lại, dị bội vẫn là do không phân 

ly nhiễm sắc thể trong quá trình tạo giao tử của 

trứng, cho thấy nguyên nhân liên quan đến tuổi 

mẹ cao là chủ yếu. Đa số các trường hợp thụ thai 

tam  bội  là  do  một  trứng  được  thụ  tinh  với  hai 

tinh trùng. Vì vậy, thể tam bội thường có dạng 

nhiễm  sắc  thể  đồ  là  69,XXX;  69,XXY;  hay 

69,XYY. Hầu hết các thai kỳ tam bội đều bị sẩy 

vào  ba  tháng  đầu  hoặc  thời  điểm  đầu  của  ba 

tháng giữa. Khoảng 7% trường hợp sẩy thai xác 

định trên lâm sàng là do tam bội. Lượng alpha – 

fetoprotein  trong  huyết  thanh  mẹ  thường  được 

lượng giá cho thai kỳ nghi ngờ tam bội(10). 

Dị  bội  nhiễm  sắc  thể  thường  là  dư  hay 

thiếu  một  chiếc  nhiễm  sắc  thể  (nhiễm  sắc  thể 

thường  hay  nhiễm  sắc  thể  giới  tính)  gây  ra 

dạng  trisomy  hay  monosomy.  Hấu  hết  các  dạng  trisomy  nhiễm  sắc  thể  thường  hay  một  vài  loại  trisomy  của  nhiễm  sắc  thể  X  là  do  không  phân  ly  nhiễm  sắc  thể  trong  quá  trình  tạo  trứng  và  tỉ  lệ  mắc  các  loại  bất  thường  nhiễm  sắc  thể  này  thường  liên  quan  đến  tuổi 

mẹ(9). Đối với hội chứng Kleinfelter 47, XXY thì 

tỉ  lệ  không  phân  ly  nhiễm  sắc  thể  ở  tế  bào  trứng hay tinh trùng thì chiếm tỉ lệ bằng nhau, 

có khi tỉ lệ gặp ở tinh trùng chiếm tỉ lệ hơi cao  hơn  (57%).  Không  giống  như  trisomy  các  loại  nhiễm  sắc  thể  thường  khác,  monosomy  X  lại  thường gặp ở những phụ nữ trẻ(13). 

Vài năm trở lại đây, nhiều kỹ thuật sinh học  phân tử mới được phát triển với cùng một mục  đích  phát  hiện  các  bất  thường  số  lượng  các  nhiễm sắc thể và giúp chẩn đoán trước sinh các  thai kỳ nguy cơ với thời gian nhanh hơn mà vẫn  đảm bảo độ chính xác như kỹ thuật làm nhiễm  sắc  thể  đồ.  Hiện  tại,  kỹ  thuật  QF  –  PCR  được  dùng  trong  chẩn  đoán  nhanh  bất  thường  số  lượng  nhiễm  sắc  thể  13,  18,  21,  X,  Y  ở  người.  Trong  phạm  vi  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  tiến  hành ứng dụng kỹ thuật trên để chẩn đoán bất  thường dị bội thể 13, 18, 21, X, Y trên các mẫu ối  được  thu  thập  tại  thành  phố  Hồ  Chí  Minh.  Từ 

đó,  đánh  giá  khả  năng  phát  triển  của  kỹ  thuật  chẩn đoán trước sinh nhanh này tại Việt Nam. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Mẫu bệnh phẩm 

Mẫu  dịch  ối  từ  các  thai  kỳ  nguy  cơ  có  chỉ  định chọc ối làm nhiễm sắc thể đồ từ bác sĩ lâm  sàng.  Mẫu  được  để  ở  nhiệt  độ  2  –  8oC  cho  đến  khi làm xét nghiệm. Tiêu chuẩn loại trừ là mẫu 

đã được trữ đông. 

Trang 3

Phương  pháp  tách  chiết  DNA  được  thực 

hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Lấy 1000 

μl  dịch  ối  cho  vào  1  tube  Eppendorf,  ly  tâm 

14.000  rpm  trong  3  phút  để  làm  lắng  tế  bào  ối. 

Dịch  nổi  được  bỏ  đi,  thêm  vào  200  μl  PBS  để 

thuần nhất tế bào ối trở lại. Sau đó, chúng tôi sử 

dụng  bộ  tách  chiết  DNA  bằng  kit  thương  mại 

QIAGEN  DNA  Blood  Mini  kit.  Nồng  độ  DNA 

thích hợp cho phản ứng QF‐PCR là 1 – 10 ng nên 

sau khi đo nồng độ DNA, có thể tiến hành pha 

loãng  nếu  DNA  mẫu  có  nồng  độ  cao  hơn  tiêu 

chuẩn đề ra. 

Thực hiện kỹ thuật QF‐PCR.  

Kỹ  thuật  QF  –  PCR  giúp  khuếch  đại,  phát 

hiện, phân tích trình tự đoạn lặp lại ngắn (STR) 

nằm trên các cặp nhiễm sắc thể 13,  18,  21,  X,  Y 

dựa trên các cặp mồi đặc hiệu được thiết kế sao 

cho  vùng  trình  tự  lặp  lại  được  nằm  giữa  hai  đoạn mồi xuôi và ngược. Ngoài ra, ở đầu ở của  các đoạn mồi xuôi cũng được gắn thêm các màu  huỳnh  quang  nhằm  giúp  phát  hiện  sản  phẩm  khuếch  đại  bằng  phương  pháp  điện  di  mao  quản.  Trong  giai  đoạn  lũy  thừa  sớm  của  phản  ứng  khuếch  đại,  lượng  sản  phẩm  khuếch  đại  được  tạo  ra  tỉ  lệ  với  lượng  DNA  có  trong  mẫu  ban  đầu.  Yếu  tố  tiên  quyết  cho  sự  thành  công  của  kỹ  thuật  là  lượng  DNA  thích  hợp  cho  vào  trong một phản ứng và số chu kỳ nhiệt của phản  ứng PCR. 

Chúng tôi sử dụng bộ kit AneufastTM QF –  PCR  kit  của  hãng  Molgentix  gồm  có  6  loại  master  mix  là  S1,  S2,  MXY,  M13,  M18,  M21  khuếch đại các marker trên từng loại nhiễm sắc  thể như sau: 

Bảng 1: Các loại dấu ấn được sử dụng trong bộ kit QF‐PCR 

D21S1446 DXYS218 HPRT D21S1437* D18S858* D13S742*

D13S305 D21S1411 DXS6803* D21S1008* D18S1002*

D18S535 D21S1435 DXS6809*

D18S391 D13S634 DXS8377*

D13S258

D18S386

D18S390

Hai bộ mix S1, S2 cho phép phân tích đồng 

thời  bốn  dấu  ấn  của  mỗi  nhiễm  sắc  thể  số  13, 

21, 18, hai trình tự lặp lại ngắn trên giả nhiễm 

sắc  thể  thường  (X22,  DXY218),  Amelogenin 

(AMXY) và SRY. Sau khi chạy PCR trên 2 loại 

mix S1, S2, sản phẩm khuếch đại sẽ được trộn 

chung và điện di mao quản cùng một lượt. Bốn 

loại master mix còn lại (còn gọi là dấu ấn phụ) 

dùng  để  chạy  bổ  sung  khi  kết  quả  phân  tích 

S1S2 cho biết bốn dấu ấn của từng loại nhiễm 

sắc thể đều ở dạng đồng hợp. Khi đó, kết quả 

của  marker  phụ  tương  ứng  sẽ  cho  kết  quả  rõ 

ràng  hơn  hoặc  là  củng  cố  thêm  kết  quả  bất 

thường  có  được  từ  phân  tính  S1S2.  QF‐PCR 

được  thực  hiện  theo  chu  kỳ  nhiệt  như  sau: 

hoạt  hóa  men  Taq  polymerase  95oC/15  phút,  biến  tính  95oC/40  giây,  bắt  cặp  60oC/90  giây,  kéo  dài  72oC/40  giây,  kéo  dài  cuối  cùng 

60oC/60 phút. Sản phẩm có thể được giữ ở 4oC  đến khi bắt đầu điện di mao quản. 

Điện di mao quản sản phẩm khuếch đại.  

Sản phẩm QF – PCR là những đoạn DNA có  chiều  dài  khác  nhau,  được  đánh  dấu  huỳnh  quang  ở  một  mạch  đơn  theo  nguyên  tắc  như  sau:  Nếu  chiều  dài  đoạn  DNA  khác  nhau  giữa  các  dấu  ấn  thì  màu  huỳnh  quang  giống  nhau. 

Nếu  chiều  dài  DNA  được  khuếch  đại  giống  nhau  ở  hai  loại  dấu  ấn  khác  nhau  thì  sẽ  đánh  dấu bằng các màu huỳnh quang khác nhau. Khi  điện  di,  đoạn  ngắn  sẽ  chạy  đển  đầu  đọc  laser 

Trang 4

trước  và  đoạn  dài  sẽ  chạy  đến  sau.  Tín  hiệu 

được  ghi  nhận  bằng  phần  mềm  chuyên  dụng 

Data Collection Version 3.0 của hãng ABI. 

Phân tích kết quả QF‐PCR.  

Sử dụng phần mềm phân tích Gene Marker 

phiên  bản  1.91.  Mẫu  được  xem  là  đạt  khi  xuất 

hiện đủ các tín hiệu của thang chuẩn, phân tích 

rõ các tín hiệu của các đoạn khuếch đại,  cường 

độ  huỳnh  quang  cao.  Phần  mềm  sẽ  tính  toán 

dựa trên diện tích và cường độ huỳnh quanh để 

tính ra tỉ lệ của các dấu ấn tương ứng của từng 

loại  nhiễm  sắc  thể  13,  18,  21,  X,  Y.  Mẫu  được 

xem  là  không  đạt  khi  không  xuất  hiện  đầy  đủ 

các  tín  hiệu  của  thang  chuẩn  hay  các  tín  hiệu 

huỳnh quang khuếch đại của dấu ấn các allele bị 

thiếu. 

KẾT QUẢ 

Từ  tháng  03/2010  đến  tháng  01/2011  chúng 

tôi thu thập được 64 mẫu ối từ thai kỳ nguy cơ. 

Trong  đó  phát  hiện  được  10  trường  hợp  bất  thường  (16,9%).  Tỉ  lệ  thực  hiện  kỹ  thuật  QF  –  PCR thành công là 100% trên tất cả 64 mẫu dịch 

ối. Tất cả 64 mẫu này khi được ly trích DNA tế  bào ối, thực hiện phản ứng QF – PCR và điện di  mao quản cho tín hiệu huỳnh quang đẹp. Thực  hiện  chế  độ  phân  tích  bằng  phần  mềm  GeneMarker phiên bản 1.91 đều thành công với 

64 mẫu. 

Trong số 64 mẫu được thực hiện QF – PCR, 

có 26 mẫu cho kết quả là nữ bình thường chiếm 

tỉ  lệ  40,6%,  29  mẫu  cho  kết  quả  là  nam  bình  thường chiếm tỉ lệ 45,3%. QF – PCR đã phát hiện  được  10  trường  hợp  bất  thường  gồm  3  mẫu  trisomy  21,  3  mẫu  mang  hội  chứng  Klinefelter  (XXY), 3 mẫu trisomy 18 (hội chứng Edward), 1  mẫu phát hiện monosomy X (hội chứng Turner).  Khi  so  sánh  với  kết  quả  nhiễm  sắc  thể  đồ  thì  chúng  tôi  thấy  QF‐PCR  đạt  độ  nhạy  và  độ  đặc  hiệu là 100%. 

 

Hình 1: Kết quả trisomy 21 của một mẫu ối được thực hiện bằng kỹ thuật QF‐PCR 

Trang 5

Hình 2: Kết quả trisomy 21 trên dấu ấn phụ 

Bảng 2: Kết quả so sánh giữa QF‐PCR và nhiễm sắc thể đồ 

(40,6%) 29 (45,3%) 3(4,7%) 3(4,7%) 1 (1,6%) 3(4,7%)

Nhiễm sắc thể đồ 64 26 (40%) 29 (45%) 3(4,7%) 3(4,7%) 1 (1,6%) 3 (4,7%)

BÀN LUẬN 

Chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật QF‐PCR cho 

kết quả tương đồng với kỹ thuật nhiễm sắc thể 

đồ 100%. Đồng thời, kỹ thuật QF‐PCR đưa ra kết 

quả  nhanh  và  đáng  tin  cậy  trong  vòng  24  giờ. 

Những  bất  thường  dị  bội  thể  thường  gặp  đã 

được phát hiện thành công trong tất cả các mẫu. 

Các  thao  tác  trong  kỹ  thuật  QF  khá  đơn  giản, 

thực hiện nhanh. Vì vậy, ưu điểm đầu tiên của 

kỹ  thuật  QF  là  ít  tốn  thời  gian  hơn  so  với  kỹ 

thuật nhiễm sắc thể đồ. 

Kỹ  thuật  QF  cơ  bản  được  dựa  trên  là  kỹ 

thuật  PCR  kinh  điển  trong  đó  cải  tiến  thêm  về 

khả năng khuếch đại được nhiều loại DNA đích 

khác nhau trong 1 phản ứng PCR đồng thời các 

loại mồi xuôi được đánh dấu bởi các màu huỳnh 

quanh khác nhau giúp phát hiện được sản phẩm 

khuếch đại bằng hệ thống điện di mao quản và 

phân biệt từng nhóm sản phẩm khuếch đại dựa 

trên  màu  huỳnh  quang  và  chiều  dài  đoạn  khuếch đại. Kết quả điện di phát hiện các đỉnh  huỳnh  quang  được  ghi  nhận  bằng  phần  mềm  đọc  tín  hiệu  chuyên  dụng.  Bên  cạnh  đó,  phần  mềm  phân  tích  (GeneMarker  phiên  bản  1.91)  giúp  ta  tính  toán  được  cường  độ  màu  huỳnh  quang và diện tích các đỉnh từ đó tính ra được tỉ 

lệ  bình  thường  hay  bất  thường  của  mẫu.  Điều  này giúp cho việc nhận định kết quả QF vô cùng  khách quan, không phụ thuộc vào cái nhìn cảm  quan của người làm thí nghiệm. 

Dịch ối có đôi khi không tránh khỏi bị lẫn tế  bào  máu  mẹ;  tùy  thuộc  vào  lượng  máu  mẹ  bị  nhiễm  vào  nhiều  hay  ít  mà  kết  quả  QF  không  hoặc có thể sai lệch. Nếu lượng máu mẹ nhiễm  chỉ chiếm khoảng dưới 20% tổng lượng tế bào ối  thu  thập  được  thì  kết  quả  QF  sẽ  không  bị  ảnh  hưởng. Đối với những mẫu ối bị nhiễm máu mẹ  nhiều, ta có thể nuôi cấy để loại đi tế bào máu. 

Trang 6

kỹ thuật QF – PCR. 

Kỹ thuật QF‐PCR chỉ khảo  sát  5  loại  nhiễm 

sắc thể là nhiễm sắc thể số 13, 18, 21, X, Y bởi vì 

tỉ lệ dị tật bẩm sinh liên quan đến bất thường số 

lượng  nhiễm  sắc  thể  của  5  loại  này  chiếm  tỉ  lệ 

cao nhất (95%). So với tác giả Maj A.Hulten(8) đã 

thực nghiên cứu trên dịch ối bằng kỹ thuật QF‐

PCR thì kết quả của chúng tôi cũng cho thấy có 

sự  tương  đồng  về  độ  tin  cậy,  nguy  cơ  của  việc 

chẩn  đoán  sai  là  rất  thấp.  Một  tác  giả  khác  là 

Chrysanthy  Bili(1)  đã  tiến  hành  nghiên  cứu  trên 

1100 mẫu ối thuộc dân số Hy Lạp và cũng đưa 

ra  được  kết  luận  là  kỹ  thuật  QF‐PCR  rất  hiệu 

quả trong chẩn đoán trước sinh và nên đựa vào 

thực hiện như một xét nghiệm thường qui. Tuy 

nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên cỡ mẫu 

nhỏ  nhưng  cũng  giúp  xác  định  ban  đầu,  kỹ 

thuật QF‐PCR hoàn toàn có thể thực hiện được 

thành công tại Việt Nam. 

KẾT LUẬN 

Việc  ứng  dụng  kỹ  thuật  sinh  học  phân  tử 

vào  lĩnh  vực  chẩn  đoán  trước  sinh  nhanh  dần 

trở nên hiệu quả và ngày càng được tin cậy. Kỹ 

thuật QF‐PCR có độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ lệ 

thất  bại  tương  đương  với  kỹ  thuật  karyotype 

trong chẩn đoán dị bội các nhiễm sắc thể thường 

gặp nên có thể sử dụng đối với các thai phụ do 

tuổi  mẹ  cao  hay  bất  thường  trên  siêu  âm  mà 

không cần thực hiện tầm soát sinh hoá. Với thời 

gian trả kết quả ngắn trong 1 đến 2 ngày, chính 

xác và khả năng tự động hoá cao, kỹ thuật QF‐

PCR  có  thể  ứng  dụng  thường  quy  trong  chẩn 

đoán trước sinh để có kết quả chẩn đoán lệch bội 

sớm giảm tình trạng lo lắng cho thai phụ. 

Do  thời  gian  và  kinh  phí  có  hạn  nên  đề  tài 

chỉ  được  thực  hiện  trên  cỡ  mẫu  nhỏ  và  cách 

chọn mẫu là thuận tiện. Tuy nhiên, kết quả thu 

được chứng minh rằng đề tài đã được thực hiện 

thành công. Chúng tôi mong muốn thực hiện đề 

tài  này  với  phạm  vi  mẫu  lớn  hơn  trên  sản  phụ 

Việt Nam để từ đó tìm ra những kinh nghiệm có 

thể  áp  dụng  trên  người  Việt  Nam,  nâng  khả  năng  chẩn  đoán  trước  sinh  bằng  kỹ  thuật  sinh  học phân tử nói chung lên một tầm cao mới. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bili  C,  Divane  A,  Apessos  A,  Konstantinos  T,  Apostolos  A,  Ioanmis  B,  et  al  (2002).  Prenatal  diagnosis  of  common  aneuploidies  using  quantitative  fluorescent  PCR.  Prenatal  Diagnosis, 22: 360 ‐ 365.  

2 Cirigliano  V,  Ejarque  M,  Canadas  MP,  Lloveras  E,  Plaja  A,  Perez  Md,  et  al  (2011).  Clinical  application  of  multiplex  quantitative fluorescent polymerase chain reaction (QF ‐ PCR)  for  the  rapid  prenatal  detection  of  common  chromosome  aneuploidies. Molecular Human Reproduction, 7: 1001 ‐ 1006. 

3 Cirigliano V, Sherlock J, Conway G, Quilter C, Rodeck C, &  Adinolfi  M  (1999).  Rapid  detection  of  chromosome  X  and  Y  aneuploidies  by  quantitative  fluorescent  PCR.  Prenatal  Diagnosis, 19: 1099 ‐ 1103. 

4 Cirigliano  V,  Voglino  G,  Ordonez  E,  Marongiu  A,  Canadas 

M,  Ejarque  M,  et  al  (2009).  Rapid  prenatal  diagnosis  of  common chromosome aneuploidies by QF ‐ PCR, results of 9  years of clinical experience. Prenatal Diagnosis, 29: 40 ‐ 49. 

5 Dupont  A, Vaeth  M, Videbech  P  (1986).  Mortality  and  life  expectancy  of  Down’s  synfrome  in  Denmark.  J  Ment  Defic  Res, 30: 111 ‐ 120. 

6 Hook  EB  (1981).  Rates  of  chromosomal  abnormalities  at  different maternal ages. Obstet Gynecol, pp.58 ‐ 292. 

7 Hsu  LYF  (1986).  Prenatal  diagnosis  of  chromosome  abnormalities; in Milunsky A (ed): Genetic Disorders and the  Fetus, ed 2. New York, Plenum Press,, pp 115–183.  

8 Hulten  NA,  Dhanjal  S,  &  Pertl  B  (2003).  Rapid  and  simple  prenatal  diagnosis  of  common  chromosome  disorders:  advantages  and  disadvantages  of  the  molecular  methods  FISH and QF ‐ PCR. Reproduction, 126: 279 ‐ 297.  

9 Kalousek  DK, Barrett  IJ, McGillivray  BC  (1989).  Placental  mosaicism  and  intrauterine  survival  of  trisomies  13  and  18. 

Am J Genet, 44(3): 338‐43 

10 OʹBrien WF, Knuppel RA, Kousseff B, Sternlicht D, Nichols P  (1988).  Elevated  maternal  serum  alpha  ‐  fetoprotein  in  triploidy. Obstet Gynecol, 71: 994‐995.  

11 Platt  LD, DeVore  GR, Lopez  E, Herbert  W, Falk  R, Alfi  O  (1986).  Role  of  amniocentesis  in  ultrasound  detected  fetal  malformations. Obstet Gynecol, 68(2): 153‐155. 

12 Warburton D (1987). Chromosomal causes of fetal death. Clin  Obstet Gynecol, 30: 268‐277. 

13 Warburton D, Kline J, Stein Z, Susser M (1980). Monosomy X. 

A  chromosomal  anomaly  associated  with  young  maternal  age. Lancet, 1: 167‐169.  

14 Williamson  RA, Weiner  CP, Patil  S, Benda  J, Varner 

MW, Abu‐Yousef  MM.  (1987).  Abnormal  pregnancy  sonogram.  Selective  indication  for  fetal.  Obstet  Gynecol,  69:  15‐20.  

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w