1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lâm sàng và điều trị áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn ở trẻ em

9 98 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 385,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh áp xe cạnh hậu môn (AXCHM), rò hậu môn (RHM) ở trẻ em. Nghiên cứu tiến hành trên tất cả bệnh nhi bị AXCHM và/hoặc RHM được chẩn đoán, điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng 1 ‐Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2012 đến 30/03/2013.

Trang 1

Ở TRẺ EM 

Nguyễn Thị Bích Uyên*, Trương Nguyễn Uy Linh *  

TÓM TẮT  

Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị và những yếu tố ảnh hưởng đến 

kết quả điều trị của bệnh áp xe cạnh hậu môn (AXCHM), rò hậu môn (RHM) ở trẻ em.  

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca tất cả bệnh nhi bị AXCHM và/hoặc RHM 

được chẩn đoán, điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng 1‐Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2012 đến 30/03/2013.  

Kết  quả: Tổng cộng có 74 bệnh nhi.  Tại lần khám đầu có 28 bệnh nhi bị AXCHM và 46 bệnh nhi bị RHM   Nam chiếm ưu thế ( 97,3%)  Có 56 (75,6%) bệnh nhi dưới 12 tháng tuổi, 5,7 (77%) bệnh nhi khởi phát bệnh  trước 6 tháng tuổi. Lỗ rò ngoài chủ yếu nằm ở vị trí 3 giờ và/hoặc 9 giờ; ở nửa trước đường ngang nhiều hơn  nửa sau. Lỗ rò trong đều tương ứng lỗ rò ngoài theo vị trí giờ; 87,5% nằm trên đường lược và tại xoang hậu  môn tương ứng. Đường rò thẳng, nông, đơn giản; 90% xuyên qua phần dưới da của cơ thắt ngoài hậu môn;  88,9% được lót bởi biểu mô. 28 bệnh nhi bị AXCHM có 19 (67,9%) hình thành rò. Những trường hợp (TH)  được rạch thoát mủ có tỉ lệ hình thành rò cao hơn không rạch thoát mủ (87,5% so với 59%, p = 0,044). 65 bệnh  nhi bị RHM (46 RHM ban đầu và 19 từ AXCHM) có 50 TH được điều trị bảo tồn. Tỉ lệ khỏi bệnh sau điều trị  bảo tồn là 76%, không ghi nhận tái phát trong thời gian theo dõi 10,9 ± 3,1 tháng (6,6 – 15 tháng). Các yếu tố  ảnh hưởng đến kết quả điều trị bảo tồn: mật độ của lỗ rò ngoài và đường rò, tiền căn thoát mủ, tuổi khởi phát  bệnh. Có 17 TH được phẫu thuật cắt hoặc mở đường rò, tỉ lệ tái phát sau mổ lần lượt là 66,7% và 12,5% (p =  0,05). Những TH không được tìm hoặc tìm nhưng không thấy lỗ rò trong có tỉ lệ tái phát là 71,4% so với những 

TH tìm thấy được lỗ rò trong là 20% (p = 0,058). Có 23,5% bị bón sau mổ và phần lớn cải thiện khi vết mổ lành. 

Kết luận: Bệnh AXCHM/RHM ở trẻ em thường xảy ra ở trẻ nhỏ, chủ yếu ở bé trai, tính chất sang thương 

đơn giản và có khả năng khỏi bệnh cao sau điều trị bảo tồn, do đó cần tránh can thiệp phẫu thuật ngay. 

Từ khóa: Áp xe cạnh hậu môn, rò hậu môn, điều trị bảo tồn, cắt đường rò, mở đường rò. 

ABSTRACT 

CLINICAL CHARACTERISTIC, MANAGEMENT OF PERIANAL ABSCESS  

AND FISTULA‐IN‐ANO IN CHILDREN 

Nguyen Thi Bich Uyen, Truong Nguyen Uy Linh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 520 ‐ 528 

Objectives:  To  describe  the  clinical  characteristics  of  perianal  abscess  (PA)  and  fistula‐in‐ano  (FIA)  in 

children, to evaluate the results of treatment and to identify factors affected the clinical outcome. 

Method: The authors retrospectively reviewed the clinical data and treatment procedure of all patients with 

PA and/or FIA, who were treated at Children’s Hospital 1 from 01/01/2012 to 03/30/2013.  

Results: The study consisted of 74 patients. At the first examination there were 28 patients with PA and 46 

patients with FIA. Most of the patients were male ( 97.3%)  There were 56 (75.6%) children under 12 months‐old, 

57 (77%) children had age of onset under 6 months. The most commonly affected site of external opening was at 

9  and  3  oʹclock;  anterior  openings  more  than  posterior  openings  of  the  transverse  anal  line.  All  the  internal  openings were correspondent to their external openings, 87.5% of them was on the dentate line and on the anal 

* Bộ môn Ngoại nhi – Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

crypt. All the fistulas were direct, superficial and simple. 90% of the fistulas was through the lowest fibers of the  external sphincter and 88.9% of them was lined by epithelium. There were 19 (67.9%) of 28 patients with PA  developed  fistula.  We  found  that  FIA  development  percentages  were  higher  in  surgical  drainages  than  in  spontaneous drainages (87.5% vs. 59%, p = 0.044). Fifty of 65 patients with FIA (46 patients with FIA at the  first examination and 19 patients from PA group) were applied the conservative treatment and 38 of them (76%)  were  cured.  No  recurrence  was  recorded  with  a  mean  duration  of  10.9  ±  3.1  months  (6.6  –  15  months).  The  factors affected the results of nonoperative treatment were the density of the external opening and the fistula, type 

of  drainage,  age  of  onset.  Seventeen  patients  with  FIA  underwent  fistulectomy  or  fistulotomy.  There  was  no  significant  difference  in  FIA  recurrence  between  fistulectomy  and  fistulotomy  (66.7%  vs.  12.5%;  p=  0.05);  between the cases whose the internal openings not be found and the cases whose the internal openings be found  (71.4% vs. 20%; p = 0.058). 23.5% of patients had a constipation after the operation.  

Conclusion:  PA/FIA  in  children  often  affects  in  male  infants.  The  lesions  are  simple,  direct  and  have  a 

chance of spontaneous resolution thus the immediate surgical intervention should be avoided. 

Key words: Perianal abscess, fistula‐in‐ano, conservative/nonoperative treatment, fistulectomy, fistulotomy. 

MỞ ĐẦU 

AXCHM và RHM là bệnh thường gặp ở trẻ 

em.  Tỉ  lệ  hình  thành  rò  sau  AXCHM  ở  trẻ  em 

sưng tấy, đau vùng hậu môn, cản trở sinh hoạt. 

RHM tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng 

nhưng khi hình thành gây nên tình trạng rỉ dịch 

dai  dẳng  qua  một  hay  nhiều  lỗ  cạnh  hậu  môn 

hoặc  hình  thành  ổ  nhiễm  trùng  tái  đi  tái  lại 

khiến  bệnh  nhi  khó  chịu,  người  nhà  lo  lắng. 

Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy 

bệnh AXCHM và RHM ở trẻ em, nhất là ở nhũ 

nhi, có những đặc điểm về lâm sàng và điều trị 

bệnh  xảy  ra  sớm  với  khoảng  76%  ‐  87,5%  xuất 

hiện  trước  1  tuổi,  chủ  yếu  xảy  ra  ở  bé  trai. 

Đường rò thường thẳng, nông và có khả năng tự 

lành trước khi can thiệp phẫu thuật. Do đó, thái 

độ điều trị hiện nay còn gây nhiều tranh cãi và 

cũng khác so với những gì chúng ta đã biết đối 

với thể bệnh này ở người lớn. 

Tại  Việt  Nam,  một  số  ít  tài  liệu  nghiên  cứu 

có ghi nhận bệnh xảy ra ở trẻ em. Theo Nguyễn 

Bá  Sơn,  trên  135  bệnh  nhân  điều  trị  RHM  tại 

bệnh viện Quân y 103 năm 1987 có 3 bệnh nhi, 

4 bệnh nhi trong 120 trường hợp bị bệnh áp xe 

hậu  môn  từ  tháng  1/1999  đến  tháng  6/2003, 

nhiên  các  tác  giả  trên  không  mô  tả  rõ  thể  lâm 

sàng cũng như điều trị cụ thể ở những bệnh nhi 

và  cho  đến  nay  vẫn  chưa  có  một  nghiên  cứu  riêng biệt nào về bệnh này ở trẻ em.  

Vậy  đặc  điểm  lâm  sàng  của  bệnh  AXCHM,  RHM ở trẻ em Việt Nam như thế nào? Kết quả  điều trị và những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả  điều  trị  bệnh  này  ở  trẻ  em  trong  thời  gian  vừa  qua ra sao? 

Mục tiêu nghiên cứu 

Từ  thực  tế  đã  nêu,  chúng  tôi  thực  hiện  nghiên cứu với những mục tiêu sau:  

‐  Mô  tả  đặc  điểm  lâm  sàng  của  bệnh  AXCHM, RHM ở trẻ em. 

‐  Xác  định  tỉ  lệ  và  khảo  sát  những  yếu  tố  ảnh  hưởng  đến  việc  hình  thành  rò  sau  AXCHM ở trẻ em. 

‐ Đánh giá kết quả điều trị và những yếu tố  ảnh hưởng đến kết quả điều trị của RHM ở trẻ 

em sau điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật. 

PHƯƠNG PHÁP – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Hồi cứu mô tả loạt ca. 

Dân số nghiên cứu 

Dân số mục tiêu 

Tất  cả  bệnh  nhi  bị  AXCHM  và/hoặc  RHM  được  chẩn  đoán,  điều  trị  và  theo  dõi  tại  bệnh 

viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh.  

Trang 3

Tất  cả  bệnh  nhi  bị  AXCHM  và/hoặc  RHM 

được  chẩn  đoán,  điều  trị  và  theo  dõi  tại  khoa 

Ngoại  và  phòng  khám  Ngoại‐Bệnh  viện  Nhi 

Đồng  1‐Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  từ  01/01/2012 

đến 30/03/2013. 

Tiêu chí chọn bệnh 

Tất  cả  bệnh  nhi  dưới  16  tuổi  bị  bệnh 

AXCHM và/hoặc RHM được chẩn đoán, điều trị 

và  theo  dõi  ít  nhất  06  tháng  tại  khoa  Ngoại  và 

phòng  khám  Ngoại‐Bệnh  viện  Nhi  Đồng  1‐

Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  từ  01/01/2012  đến 

30/03/2013. 

Tiêu chí loại trừ 

Những bệnh nhi có kèm theo các bệnh: lao, 

viêm ruột mạn tính, bệnh Crohn, HIV, đái tháo 

đường, các bệnh lí ác tính vùng hậu môn‐trực 

tràng. 

Những bệnh nhi bị chấn thương vùng  tầng 

sinh  môn;  những  bệnh  nhi  được  phẫu  thuật 

vùng hậu môn trực tràng do dị dạng hậu môn‐

trực tràng, bệnh Hirschsprung.  

Phương pháp thu thập số liệu 

Ghi  nhận  theo  mẫu  bệnh  án  lúc  chẩn  đoán 

lần  đầu  và  ở  các  thời  điểm  tái  khám  đối  với 

những bệnh nhi bị AXCHM/RHM được điều trị 

bảo tồn tại phòng khám:  

Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới, nơi cư trú. 

Bệnh  sử:  Tuổi  khởi  phát,  triệu  chứng  ban 

đầu,  dấu  hiệu  tụ  mủ,  cách  thoát  mủ,  cách  biểu 

hiện  rò,  triệu  chứng  đi  kèm  (nhiệt  độ,  nứt  hậu 

môn, tiêu chảy, bón), điều trị trước đó, tiền căn 

bản thân và gia đình. 

Khám: Số lượng và vị trí sang thương quanh 

hậu môn (giờ, đường ngang), đường kính áp xe, 

tính  chất  lỗ  rò  ngoài  (miệng  lỗ  rò,  mật  độ, 

khoảng cách đến bờ hậu môn), tính chất đường 

rò  (dấu  hiệu  sờ  thấy  đường  rò,  mật  độ,  hướng 

rò), sẹo cũ. 

Điều  trị:  Kháng  sinh  (thời  gian,  số  đợt),  vệ 

sinh và ngâm hậu môn, rạch thoát mủ. 

Kết quả điều trị bệnh 

Đối với AXCHM: Khỏi bệnh, hình thành rò. 

Đối  với  RHM  điều  trị  bảo  tồn:  Khỏi  bệnh,  không khỏi bệnh, tái phát, tái diễn.  

Riêng  đối  với  những  bệnh  nhi  được  nhập  viện để rạch thoát mủ (AXCHM), cắt/mở đường 

rò (RHM), ghi nhận thêm:  

+ Khám: Phân loại đường rò; cách tìm, vị trí 

và tính chất lỗ rò trong.  

+ Điều trị: 

‐  Đối  với  AXCHM:  hình  thức  thoát  mủ  và  dẫn lưu, kết quả cấy mủ. 

‐  Đối  với  RHM:  Phương  pháp  mổ,  kết  quả 

mô học đường rò. 

+ Kết quả điều trị: 

‐ Đối với AXCHM: Khỏi bệnh, hình thành rò.  

‐  Đối  với  RHM  sau  mổ:  Lành  vết  mổ,  thời  gian  lành  vết  mổ;  không  lành  vết  mổ;  tái  phát,  điều trị sau tái phát, thời gian lành tái phát; biến  chứng sau mổ. 

KẾT QUẢ  

Trong  thời  gian  15  tháng  từ  01/01/2012  đến  30/03/2013 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1‐ Thành phố 

Hồ Chí Minh có 74 bệnh nhi bị AXCHM và/hoặc  RHM thỏa các tiêu chí chọn bệnh được đưa vào  nghiên cứu với các đặc điểm sau: 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ học và một số đặc điểm lâm 

sàng chung 

Đặc điểm Kết quả

Giới: Nam/Nữ 72 (97,3%) / 2 (2,7%) Nơi cư trú:

Thành phố/Ngoài TP HCM 23 (31,1%)/ 51 (68,9%) Chẩn đoán ban đầu: AXCHM/RHM 28 (37,8%)/ 46 (62,2%) Tuổi trung vị chẩn đoán (th*) 4,8 (23 ngày–167 th) Tuổi trung vị khởi phát (th) 1,6 (5 ngày–126 th) Tiền căn có AXCHM/RHM 2 (2,7%) Tổng sang thương 110 Sang thương tối đa trên 1 BN 4

Triệu chứng

đi kèm Tiêu chảy/ Bón Nứt hậu môn 5 (6,8%)/ 4 (5,4%) 0

*th = tháng 

Trang 4

Biểu đồ 1. Phân bố theo tuổi chẩn đoán 

Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng, điều trị và kết quả điều 

trị của AXCHM 

Đặc điểm Kết quả

Đặc điểm lâm sàng

Tổng:

Bệnh nhi/ Sang thương 28 / 46

Giới: Nam/ nữ 26 (93%) / 2(7%)

Nhóm tuổi:

≤ 24 th/ > 24 th 27 (96,4%) / 1 (3,6%)

Thời gian trung vị từ lúc khởi phát

đến lần khám đầu (ngày) 10 ( 3- 31)

Vị trí sang

thương

3& 9 giờ 37 (80,4%) Trước/Sau đường

ngang 4 (8,7%) / 5 (10,9%) Đường kính trung vị ổ áp xe

Dấu hiệu tụ

mủ

(số sang

thương)

Chưa tụ mủ 10 (21,7%)

Đã tụ mủ, chưa thoát

mủ 15 (32,6%)

Đã được rạch 3 (6,5%) Thân nhiệt trên 38 độ C 3(10,7%)

Điều trị

Kháng sinh

Tổng (TH) 19 (67,8%) Đường dùng: uống/ tiêm

mạch 15 (79%) / 4 (21%) Thời gian điều trị trung

bình (ngày) 7 ± 3,9 (5-21) Rạch thoát

mủ

Tổng (TH) 18 (64,3%) Rạch tại phòng khám/

rạch và dẫn lưu tại

phòng mổ

15 (83,3%) / 3 (16,7%)*

Kết quả điều trị

Khỏi bệnh

Thời gian khỏi bệnh

trung bình (tuần) 4 ± 1,1 (2-6)

Hình thành rò (TH) 19 (67,9%)

*Hai trong ba TH này được cấy mủ, kết quả gồm: 

Klebsiella pneumoniae và Morganella morganii.  

Tuổi khởi phát bệnh nhỏ nhất là 5 ngày, lớn  nhất là 126 tháng, trung vị là 1,6 tháng. Bệnh nhi  khởi  phát  bệnh  dưới  6  tháng  tuổi  chiếm  đa  số,  gồm 57 trường hợp (77%). 

Đa  số  bệnh  nhi  có  từ  1  đến  2  sang  thương  (89,2%). Từ 2 sang thương trở lên chỉ gặp trong  nhóm bệnh nhi ≤ 24 tháng tuổi. 

Bảng 3. Đặc điểm lâm sàng, điều trị của RHM 

Tổng:

Bệnh nhi/ Sang thương 65 / 99 Giới: Nam/ nữ 65 (100%) / 0 Nhóm tuổi:

≤ 24 th/ > 24 th 56 (86,1%) / 9 (13,4%)

Lỗ rò ngoài (số sang thương)

Trước/Sau đường ngang 19 (19,2%) / 15(15,2%) Khoảng cách trung vị

đến bờ hậu môn (cm) 1,5 (0,5 -3) Mật độ: mềm/chắc 44 (45,4%) / 53 (54,6%) Đường rò

(số sang thương)

Rỉ dịch/ sưng tái lại 34 (40%) / 51 (60%)

Sờ thấy đường rò 80 (80,8%) Mật độ: mềm/cứng 47(58,8%) / 33(41,2%) Hướng rò thẳng 80(100%)

Lỗ rò trong*

(Số TH)

Tìm thấy/ tìm không thấy/ không tìm

10(58,8%) / 2(11,8%) / 5(29,4%) Cách tìm: que thăm/

chất chỉ thị màu/ quan

sát

5(41,7%) / 6(50%)/ 1 (8,3%)

Vị trí theo giờ -tương ứng lỗ rò ngoài 10 (100%)

Vị trí tại đường lược 7 (87,5%) Phân loại rò

Xuyên phần dưới da

cơ thắt ngoài 9 (90%) Dưới da 1 (10%)

Điều trị và kết quả

Bảo tồn

Tuổi chẩn đoán trung

vị (th) 3,7 (23 ngày – 13 th) Kháng sinh: có / không 28 (56%) / 22 (44%) **

Hỗ trợ: điều trị bón / tiêu chảy 1(2%) / 1(2%)

Thời gian khỏi bệnh (th) 5,5 ± 2,0 (3 – 10) Tái phát 0***

Phẫu thuật

Tổng (TH) 17****

Tuổi mổ trung vị (th) 22,6 (9-167) Thời gian bị bệnh

trung vị (th) 8,9 (3 tuần – 54 th)

Trang 5

Đặc điểm lâm sàng Kết quả

cắt đường rò/ mở

đường rò 9 (52,9%) / 8 (47,1%) Lành vết mổ 16 (94,1%) Thời gian lành vết mổ

(tuần) 3,3 ± 0,9 (2 - 5) Tái phát (TH) 6 (35,3%)*****

Thời gian theo dõi sau

mổ (th) 10,1 ± 5,1 (1,1 – 19,2).

Mô học

đường rò

Biểu mô chuyển tiếp 7 (77,8%)

Biểu mô gai có sừng 1 (11,1%)

Mô viêm mạn tính 1 (11,1%)

*Chỉ mô tả tính chất lỗ rò trong của những bệnh nhi được 

phẫu thuật. **Trong những bệnh nhi này có những bệnh 

được điều trị kháng sinh từ nơi khác. Thực tế, chúng tôi 

chỉ điều trị kháng sinh kết hợp rạch thoát mủ cho 7 (14%) 

bệnh nhi. *** Không bệnh nhi nào bị tái phát trong thời 

gian theo dõi trung bình là 10,9 ± 3,1 th (6,6 – 15 th). 

****Gồm 15 TH được chỉ định phẫu thuật trong lần khám 

đầu nhưng 1 TH không đồng ý mổ, 3 TH còn lại là RHM 

thất bại sau điều trị bảo tồn. *****6 TH tái phát và 1 TH 

không lành vết mổ được điều trị bảo tồn sau đó. Kết quả: 6 

TH khỏi bệnh trong thời gian trung bình là 3 ± 0,8 th (1 – 

6 th), 1 TH tái phát và sau đó vết mổ cũng không lành 

người nhà không đồng ý phẫu thuật lại.  

Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị  

Đối với AXCHM 

Chúng tôi xét mối liên quan giữa các yếu tố 

lâm  sàng  và  điều  trị  hình  thành  RHM  sau 

AXCHM  và  ghi  nhận  việc  thoát  mủ  có  ảnh 

hưởng đến kết quả điều trị với sự khác biệt có ý 

nghĩa  thống  kê.  Theo  đó,  những  TH  được  rạch 

thoát mủ có tỉ lệ hình thành rò cao hơn các TH 

áp xe tự vỡ (87,5% so với 59%; Fisher, p = 0,044). 

Đối với RHM 

Chúng tôi ghi nhận các yếu tố mật độ đường 

rò và lỗ rò ngoài, tiền căn thoát mủ và tuổi khởi 

phát bệnh có ảnh hưởng đến kết quả điều trị bảo 

tồn theo bảng 4.  

Những  TH  được  cắt  rò  và  không  được  tìm 

hoặc được tìm nhưng không thấy lỗ rò trong có 

tỉ lệ tái phát hoặc không lành vết mổ cao hơn so 

với những TH được mở rò (66,7% so với 12,5%) 

và tìm thấy được lỗ rò trong (71,4% so với 20%), 

tuy  nhiên  sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống 

kê (Fisher; p > 0,05). 

Bảng 4. Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị bảo 

tồn RHM 

Các yếu tố

Kết quả

Phép kiểm Khỏi bệnh khỏi bệnh Không

Mật độ đường rò

Mềm 41 5 Fisher; p =

0,014 Chắc 8 6 Mật độ lỗ

rò ngoài Mềm 42 1 Fisher;

p<0,001 Chắc 22 14 Tiền căn

thoát mủ

Tự vỡ 45 5

Fisher; p=0,015 Rạch/

Tuổi trung vị khởi phát bệnh (tháng)

1,03 (0,2 – 12,9)

2,7 (0,7 – 8,2)

Mann-Whitney U=126,5; p=0,021

BÀN LUẬN 

Hiện  nay  suất  độ  chính  xác  của  bệnh  AXCHM/RHM  ở  trẻ  em  chưa  rõ  nhưng  trong  khoảng  thời  gian  15  tháng  tại  bệnh  viện  Nhi  Đồng 1, chúng tôi thu thập được số lượng gồm 

74  bệnh  nhi  cho  thấy  đây  không  phải  là  bệnh  hiếm gặp ở trẻ em. Có đến 68,9 % bệnh nhi đến 

từ  các  nơi  khác  ngoài  Tp  HCM,  phần  nào  cho  thấy sự lo lắng của người nhà cũng như áp lực  đối  với  bệnh  viện  tuyến  trung  ương  như  bệnh  viện Nhi Đồng 1. 

AXCHM  gặp  ở  cả  hai  giới,  nam  chiếm  ưu  thế  so  với  nữ,  còn  RHM  chủ  yếu  gặp  ở  nam.  Phần  lớn  bệnh  nhi  trong  nghiên  cứu  dưới  12  tháng tuổi và có tuổi khởi phát bệnh sớm trước 6  tháng.  Kết  quả  này  tương  tự  với  kết  quả  của  nhiều tác giả khác và ủng hộ cho giả thuyết về  nguyên nhân sinh bệnh là do bất thường những  xoang tuyến hậu môn bẩm sinh và những xoang  tuyến này được hình thành ở  những  bé  trai  do 

sự  tăng  quá  mức  Androgen  trong  thời  kì  bào  thai  hoặc  mất  thăng  bằng  giữa  Androgen‐ Estrogen(9,13,15,17). 

Phần lớn các TH có từ 1 đến 2 sang thương  (89,8%)  tương  tự  như  ghi  nhận  của  nhiều  tác  giả(2,6). Sự xuất hiện nhiều sang thương trên một  bệnh  nhi  thường  gợi  ý  đến  nguyên  nhân  thứ  phát  như  do  bệnh  Crohn,  bệnh  lao…nhưng  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  như  của 

Trang 6

Chang(2)  và  Watanabe(17)  không  ghi  nhận  bệnh 

kèm theo.  

Lỗ rò ngoài tập trung chủ yếu ở vị trí 3 giờ 

và/hoặc 9 giờ, vị trí 9 giờ gặp nhiều hơn (Bảng 2, 

bảng 3); nửa trước đường ngang nhiều hơn nửa 

sau (Bảng 3). Kết quả này tương tự với kết quả 

của đa số các tác giả và cho thấy sự khác biệt của 

RHM ở trẻ em với RHM ở người lớn (lỗ rò tập 

Áp xe cạnh hậu môn 

Phần lớn bệnh nhi bị AXCHM trong nghiên 

cứu được rạch thoát mủ tại phòng khám, có thể 

kết hợp với kháng sinh uống hoặc không, quan 

trọng là được hướng dẫn vệ sinh và ngâm  hậu 

môn với nước ấm sau đó. Những bệnh nhi này 

không được tìm đường rò cũng như không mở 

đường rò lúc rạch thoát mủ vì có nguy cơ tạo ra 

đường rò giả.  

Tỉ lệ hình thành RHM của chúng tôi là 67,9% 

gần tương đương khi so với kết quả từ 73% đến 

85,7%  của  Ezer(4),  Rosen(13),  Piazza(12) và  cao  hơn 

nghĩa  RHM  là  lỗ  cạnh  hậu  môn  tồn  tại  trên  3 

như  vậy  sẽ  làm  tỉ  lệ  hình  thành  rò  tăng  cao( 2 ). 

Nhận  định  này  có  lẽ  đúng  với  kết  quả  hình 

thành  rò  mà  chúng  tôi  thu  thập  được  nhưng 

không  giải  thích  được  vì  sao  trong  nghiên  cứu 

có  một  phần  ba  số  trẻ  AXCHM  hình  thành  rò. 

Một số tác giả cho rằng tỉ lệ hình thành rò thấp 

Điều  này  không  đúng  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi vì có  đến  67,8%  trẻ  bị  AXCHM  được 

điều trị kháng sinh mà tỉ lệ rò vẫn cao, cũng như 

trị  kháng  sinh  tuy  nhiên  có  đến  85%  TH  hình 

thành rò sau đó. Tương tự khi xét về yếu tố rạch 

thoát  mủ,  chúng  tôi  có  64,3%  TH  được  rạch 

cho  23%  bệnh  nhi  nhưng  tỉ  lệ  hình  thành  rò  là 

77%.  

Chúng  tôi  ghi  nhận  những  TH  được  rạch  thoát  mủ  có  tỉ  lệ  hình  thành  rò  cao  hơn.  Kết  quả  này  tương  tự  với  kết  quả  của  Christison‐ Lagay, ghi nhận rằng rò xuất hiện nhiều hơn ở  nhóm  AXCHM  được  rạch  thoát  mủ  so  với 

lại, những TH áp xe tự vỡ có tỉ lệ hình thành rò  cao hơn (27,8% so với 20%) nhưng sự khác biệt 

thấy  rằng  tỉ  lệ  hình  thành  rò  là  35%  dù  tự  vỡ 

Rò hậu môn 

Điều trị bảo tồn 

Trong  khoảng  hơn  10  năm  trở  lại  đây  điều  trị bảo tồn RHM ở trẻ từ 24 tháng tuổi trở xuống 

cả những tác giả không áp dụng điều trị bảo tồn 

nhất một phần ba số trẻ tự khỏi bệnh trong thời  gian từ 1 đến 3 tháng do đó không cần can thiệp  phẫu thuật ngay. Tại bệnh viện Nhi Đồng 1, trẻ 

bị RHM ở lứa tuổi nhũ nhi được ưu tiên điều trị  bảo  tồn.  Thời  gian  áp  dụng  ngắn  nhất  cho  quá  trình điều trị này là 6 tháng với mong đợi đường 

rò  có  thể  tự  lành  và  quan  trọng  hơn  là  tránh  những  biến  chứng  do  phẫu  thuật  trên  trẻ  nhỏ.  Bệnh nhi được điều trị bảo tồn trong nghiên cứu  của chúng tôi đa số dưới 12 tháng tuổi (Biểu đồ  1),  tuổi  khởi  phát  và  tuổi  chẩn  đoán  bệnh  sớm  hơn  nhưng  thời  gian  bệnh  tương  đương  các 

khác biệt trên những bệnh nhi RHM ở Việt Nam 

và là điều kiện ủng hộ cho việc điều trị bảo tồn  trên những đối tượng này. 

Tỉ  lệ  khỏi  bệnh  sau  điều  trị  bảo  tồn  của 

kết  quả  khả  quan.  Chúng  tôi  chỉ  ghi  nhận  có  3 

TH tái diễn thường xuyên trong quá trình điều  trị  bảo  tồn:  2  TH  không  khỏi  bệnh  và  thường  xuyên  gây  khó  chịu  cho  bệnh  nhi  đã  được  tiến  hành  phẫu  thuật,  1  TH  triệu  chứng  xảy  ra  thường  xuyên  trong  vòng  2  tháng  đầu  nhưng  sau đó ổn định dần và khỏi bệnh sau 4 tháng kể 

Trang 7

có đến 58% RHM tái diễn thường xuyên nhưng 

việc điều trị bảo tồn ở những bệnh nhi này cũng 

dễ dàng được gia đình chấp nhận mà không gây 

Tác  giả  khuyên  nên  áp  dụng  điều  trị  bảo  tồn 

trong ít nhất 1 năm đầu chỉ với giữ gìn vệ sinh 

vùng  hậu  môn  và  rạch  thoát  mủ  khi  áp  xe  tái 

diễn(17). 

sẽ  đáp  ứng  với  điều  trị  bảo  tồn  trong  khi  có 

những  thể  khác  cần  được  phẫu  thuật.  Kết  quả 

mà  chúng  tôi  thu  được  cho  thấy  những  TH  có 

mật độ lỗ rò ngoài và đường rò mềm, những TH 

sang  thương  tự  vỡ  trước  đó,  cũng  như  những 

TH  có  tuổi  khởi  phát  bệnh  sớm  sẽ  có  tỉ  lệ  khỏi 

bệnh sau điều trị bảo tồn cao hơn (Bảng 4). 

Không có biến chứng nào được các tác giả 

tác  giả  không  đồng  ý  điều  trị  bảo  tồn  thì  cho 

rằng việc này sẽ kéo dài thời gian điều trị cũng 

nghiên cứu của chúng tôi, chỉ trừ 2 TH có triệu 

chứng tái diễn thường xuyên phải phẫu thuật, 

ở tất cả các TH còn lại, người nhà đều hài lòng 

với điều trị bảo tồn vì phương pháp này không 

xâm  hại  đến  bệnh  nhi.  Trong  giới  hạn  của 

nghiên cứu là 15 tháng, chúng tôi ghi nhận có 

12  TH  không  khỏi  bệnh  sau  điều  trị  bảo  tồn 

nhưng  thực  sự  trong  số  này  chỉ  có  3  TH  đã 

được chúng tôi phẫu thuật sau đó. Các TH còn 

lại  bao  gồm:  3  TH  người  nhà  không  muốn 

phẫu thuật, 4 TH muốn điều trị bảo tồn thêm, 

vẫn mong đợi sang thương rò có thể khỏi sau 

đó.  Thời  gian  bị  bệnh  của  những  bệnh  nhi 

trong  số  này  dài  nhất  là  13  tháng,  tuổi  bệnh 

nhi  lúc  chấm  dứt  nghiên  cứu  lớn  nhất  là  19 

bệnh dài nhất của bệnh nhi khỏi bệnh sau điều 

trị  bảo  tồn  là  22  tháng  và  tuổi  bệnh  nhi  lớn 

nhất  lúc  khỏi  bệnh  là  27,2  tháng.  Như  vậy, 

chúng tôi có cơ sở để tiếp tục điều trị bảo tồn 

và theo dõi trên những bệnh nhi này. 

Điều trị phẫu thuật 

bệnh nhi của chúng tôi có tuổi mổ và thời gian bị  bệnh trước mổ dài. Kết quả này do chúng tôi áp  dụng điều trị bảo tồn cho những bệnh nhi dưới 

12 tháng tuổi bị RHM. Đối với những bệnh nhi  trên 12 tháng tuổi chúng tôi có chỉ định mổ sớm  hơn, có thể mổ ngay khi xác định rò mà không 

có sự viêm nhiễm cấp tính tại vùng quanh hậu  môn,  nhưng  bệnh  nhân  vẫn  đến  bệnh  viện  mổ  trễ do người nhà chưa muốn mổ hoặc người nhà  chờ cho đến đợt nghỉ của những trẻ đi học, hoặc 

do nhà xa của 68,9 % bệnh nhi trong nghiên cứu  (Bảng 1). TH có thời gian bị bệnh dài nhất trước 

mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là 54 tháng. 

Oh ghi nhận TH có thời gian bị bệnh trước mổ  dài  nhất  là  120  tháng,  bệnh  nhi  không  có  triệu  chứng gì đặc biệt, cũng không được ghi nhận có  bất  thường  khi  phẫu  thuật  so  với  những  TH 

thường  đơn  giản,  có  thể  kéo  dài  nhiều  tháng  thậm  chí  nhiều  năm  mà  không  gây  tổn  hại  gì  thêm. 

Có  58,8%  bệnh  nhi  được  tiến  hành  phẫu  thuật được tìm thấy lỗ rò trong. Vị trí lỗ rò trong  đều tương ứng với vị trí giờ của lỗ ngoài, phần  lớn  nằm  tại  đường  lược  và  tại  xoang  hậu  môn  tương  ứng  (Bảng  3),  điều  này  phù  hợp  với  kết  quả của nhiều nghiên cứu khác và phù hợp với  nguyên nhân sinh bệnh của RHM. Ghi nhận này 

có thể giúp định hướng cho thăm  dò  bằng  que  khi  tìm  lỗ  trong  hoặc  giúp  định  hướng  cắt  đường  rò  ở  những  TH  lỗ  rò  trong  không  được  tìm thấy.  

Về  phân  loại  rò,  chúng  tôi  không  ghi  nhận 

TH  nào  rò  giữa  cơ  thắt  như  nghiên  cứu  của  Festen(5),  Longo(6).  Ezer(4)  và  Serour(15)  chỉ  ghi 

nhận có 80,6% ở dưới da, 13% xuyên qua phần  thấp nhất của cơ thắt ngoài hậu môn và 6,4% rò  cao hơn. Nói chung, dù đường rò ở dưới da hay  xuyên qua phần thấp nhất của cơ thắt ngoài hay 

rò giữa cơ thắt, kết quả của chúng tôi và nhiều  tác giả cho thấy đường rò ở trẻ em thường nông 

và ít ảnh hưởng đến cơ thắt ngoài hậu môn. Do 

Trang 8

sẽ  không  ảnh  hưởng  đến  chức  năng  của  hệ 

thống cơ thắt. 

Chúng  tôi  có  cả  2  phương  pháp  gồm  cắt 

đường  rò  và  mở  đường  rò  trong  điều  trị  phẫu 

thuật (Bảng 3). Việc lựa chọn phương pháp nào 

tùy thuộc vào phẫu thuật viên, độ nông sâu của 

đường rò và có tìm được lỗ rò trong hay không.  

Thời  gian  lành  vết  mổ  trung  bình  trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  3,3  tuần  và  không 

có  sự  khác  biệt  về  thời  gian  lành  giữa  hai 

phương  pháp  phẫu  thuật  (T;  p  =  0,256).  Thời 

Sau  mổ,  tất  cả  các  TH  đều  được  hướng  dẫn 

ngâm  hậu  môn  với  nước  ấm  pha  loãng  dung 

dịch iod‐povidine, đồng thời tách nhẹ 2 mép vết 

thương  trong  quá  trình  ngâm  để  tránh  tình 

trạng vết thương khép lại sớm, đảm bảo cho quá 

trình  lành  rò  từ  đáy  vết  mổ.  Đây  có  thể  là  một 

nguyên  nhân  khiến  thời  gian  lành  vết  mổ  của 

chúng tôi dài hơn. 

Chúng  tôi  ghi  nhận  có  đến  35,3%  TH  tái 

phát sau mổ, tỉ lệ này khá cao so với các tác giả 

khác(1,5).  Novotny(10)  nhận  thấy  những  yếu  tố  có 

ảnh hưởng đến tái phát sau mổ gồm: tuổi bệnh 

nhi lớn, có mủ lúc phẫu thuật cắt đường rò và có 

giai đoạn bị AXCHM trước đó. Chúng tôi không 

ghi nhận TH nào có mủ trong lúc phẫu thuật rò 

và đa số RHM đều bị AXCHM trước đó nhưng 

có lẽ yếu tố tuổi bệnh nhi lớn là một lí giải cho tỉ 

lệ tái phát cao trong nghiên cứu.  

Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ tái 

phát  hoặc  không  lành  vết  mổ  giữa  hai  phương 

pháp  mổ  và  kết  quả  tìm  lỗ  rò  trong.  Nhưng 

chúng tôi vẫn ghi nhận những TH này chủ yếu 

xảy  ra  sau  phẫu  thuật  cắt  đường  rò  và  những 

TH  không  được  tìm  hoặc  được  tìm  nhưng 

không thấy lỗ rò trong. Điều  này  cho  thấy  việc 

nhận  định  chính  xác  thương  tổn  rò  ảnh  hưởng 

quan trọng lên kết quả của phẫu thuật. 

Longo  thực  hiện  mở  đường  rò  ở  tất  cả  TH, 

ghi  nhận  có  4  (10%)  bệnh  nhi  bị  tái  phát  trong 

khoảng thời gian trung bình là 13,5 ngày sau mổ 

(7‐26 ngày), chỉ có 1 trường hợp cần mổ lại sau 

TH có thời gian tái phát sau mở đường rò trong  vòng  1  tháng.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tái  phát  sau  mổ  xảy  ra  muộn  hơn,  83,3% 

TH  xảy  ra  sau  mổ  2  tháng  và  16,7%  TH  xảy  ra  sau mổ 6 tháng.  

Chúng  tôi  không  ghi  nhận  các  biến  chứng  nặng sau mổ ngoại trừ 23,5% bị táo bón và phần  lớn  đều  được  cải  thiện  khi  vết  mổ  lành.  Festen  ghi nhận 1 TH táo bón nặng, 1 TH són phân lúc  ngủ  và  1  TH  than  phiền  về  sẹo  trên  trẻ  bị  mổ 

những  TH  đã  lành  sẹo  đều  cho  thấy  sẹo  mềm,  chỉ  còn  vệt  thâm,  không  gây  biến  dạng  lỗ  hậu  môn hoặc bất kì phiền toái nào. Tuy vậy, so với 

của chúng tôi còn ngắn (Bảng 3). Do đó, những  kết luận về kết quả điều trị sau mổ trong nghiên  cứu còn có những hạn chế và cần được tiếp tục  theo dõi thêm. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  kết  luận  bệnh  AXCHM/  RHM  chủ  yếu  xảy  ra  ở  bé  trai,  đa  số  bệnh  nhi  dưới 12 tháng và khởi phát bệnh trước 6 tháng  tuổi. Sang thương tập trung chủ yếu tại vị trí 3  giờ  và  hoặc  9  giờ;  đường  rò  thẳng,  nông,  đơn  giản. Khoảng 2 phần 3 các trường hợp AXCHM  hình  thành  rò.  Điều  trị  bảo  tồn  có  kết  quả  khả  quan đối với bệnh AXCHM, RHM ở trẻ em, đặc  biệt  ở  lứa  tuổi  nhũ  nhi,  do  đó  cần  nên  tránh  những can thiệp phẫu thuật ngay. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Afsarlar  CE,  Karaman  A,  Tanır  G,  et  al.  (2011).  Perianal  abscess  and  fistula‐in‐ano  in  children:  clinical  characteristic,  management  and  outcome.  Pediatr  Surg  Int,  27  (10):  1063‐

1068. 

2 Chang HK, Ryu JG, Oh JT (2010). Clinical characteristics and  treatment  of  perianal  abscess  and  fistula‐in‐ano  in  infants.  J  Pediatr Surg, 45 (9): 1832‐1836. 

3 Christison‐Lagay  ER,  Hall  JF,  Wales  PW,  et  al.  (2007).  Nonoperative  management  of  perianal  abscess  in  infants  is  associated  with  decreased  risk  for  fistula  formation.  Pediatrics, 120 (3): 548‐552. 

4 Ezer SS, Oguzkurt P, Ince E, et al. (2010). Perianal abscess and  fistula‐in‐ano  in  children:  Aetiology,  management  and  outcome. J Paediatr Child Health, 46 (3): 92‐95. 

Trang 9

5 Festen C, Van Harten H (1998). Perianal Abscess and Fistula‐

in‐Ano in Infants. J Pediatr Surg, 33 (5): 711‐713. 

6 Longo WE, Touloukian RJ, Seashore JN (1991). Fistula in Ano 

in  Infants  and  Children  ‐Implications  and  Management. 

Pediatrics, 87 (5): 737‐739. 

7 Macdonald A, Wilson‐Storey D (2003). Treatment of perianal 

abscess  and  fistula‐in‐ano  in  children.  Br  J  Surg,  90  (2):  220‐

221.  

8 Nguyễn  Bá  Sơn  (1991).  Góp  phần  nghiên  cứu  đặc  điểm 

lâm  sàng  chẩn  đoán  và  điều  trị  ngoại  khoa  rò  hậu  môn. 

Luận án phó tiến sĩ khoa học Y dược. Học viện quân y, Hà 

Nội, tr. 52‐132. 

9 Nix  P,  Stringer  MD  (1997).  Perianal  sepsis  in  children.  Br  J 

Surg, 84: 819‐821. 

10 Novotny NM, Mann MJS, Rescorla FJ (2008). Fistula in ano in 

infants: who recurs? Pediatr Surg Int, 24 (11): 1197‐1199. 

11 Oh JT, Han A, Han SJ, et al. (2001). Fistula‐in‐ano in infants: is 

nonoperative  management  effective?.  J  Pediatr  Surg,  36  (9): 

1367‐1369. 

12 Piazza  DJ,  Radhakrishnan  J  (1990).  Perianal  abscess  and 

fistula‐in‐ano in children. Dis Colon Rectum, 33:1014‐1016. 

13 Rosen  NG,  Gibbs  DL,  Soffer  SZ,  et  al.  (2000).  The  Nonoperative Management of Fistula‐in‐Ano. J Pediatr Surg, 

35 (6): 938‐939. 

14 Serour  F,  Gorenstein  A  (2006).  Characteristics  of  perianal  abscess and fistula‐in‐ano  in  healthy  children.  World  J  Surg, 

30 (3): 467‐472. 

15 Serour  F,  Somekh  E,  Gorenstein  A  (2005).  Perianal  abscess  and  fistula‐in‐ano  in  infants:  a  different  entity?  Dis  Colon  Rectum, 48 (2): 359‐364. 

16 Trịnh Hồng Sơn, Lê Nguyên Ngọc, Đỗ Đức Vân (2003). Chẩn  đoán và điều trị áp xe hậu môn tại bệnh viện Việt Đức giai  đoạn 1/1999‐6/2003. Hội thảo chuyên đề bệnh hậu môn ‐ đại  trực tràng, tr.88‐91. 

17 Watanabe  Y,  Todani  T,  Yamamoto  S  (1998).  Conservative  management of fistula in ano in infants. Pediatr Surg Int, 13  (4): 274‐276. 

  Ngày nhận bài báo:       26/10/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   26/10/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014  

  

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w