1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dân số học và biểu hiện lâm sàng bệnh tay chân miệng do enterovirus

7 120 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 432,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thiết kế nhằm mô tả đặc điểm dân số học, biểu hiện lâm sàng BTCM do Enterovirus; và xác định tỉ lệ các biến chứng thường gặp và thời điểm xuất hiện các biến chứng. Nghiên cứu tiến hành nghiên cứu 419 trường hợp BTCM do enterovirus được xác định bằng phản ứng khuếch đại chuỗi gien có sao chép ngược trực tiếp từ mẫu bệnh phẩm phết họng, dịch não tủy và bóng nước đến khám và điều trị tại BV. Nhi Đồng 1 từ tháng 4/2007 đến 3/2008.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ HỌC VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

BỆNH TAY CHÂN MIỆNG DO ENTEROVIRUS

Tăng Chí Thượng*, Nguyễn Thanh Hùng*, Đỗ Văn Niệm*, Trương Hữu Khanh*,

Bạch Văn Cam*, Nguyễn Bạch Huệ*, Lê Anh Tuấn*, Lê Phan Kim Thoa*

TÓM TẮT

Mục tiêu: mô tả đặc điểm dân số học, biểu hiện lâm sàng BTCM do Enterovirus; và xác định tỉ lệ các biến

chứng thường gặp và thời điểm xuất hiện các biến chứng

Phương pháp: nghiên cứu 419 trường hợp BTCM do enterovirus được xác định bằng phản ứng khuếch đại

chuỗi gien có sao chép ngược (RT-PCR) trực tiếp từ mẫu bệnh phẩm phết họng, dịch não tủy và bóng nước đến khám và điều trị tại BV Nhi Đồng 1 từ tháng 4/2007 đến 3/2008

Kết quả: có 163 trường hợp dương tính với EV71 chiếm tỉ lệ 38,9% Bệnh gặp ở trẻ nam (61,1%) nhiều

hơn trẻ nữ Tuổi mắc bệnh thay đổi từ 3 đến 80 tháng; trung bình là 21,19±10,08 tháng Hầu hết các trường hợp (94%) có tuổi dưới 36 tháng Bệnh phân bố rộng ở khắp các tỉnh thành, không phân biệt nông thôn và thành thị Các triệu chứng thường gặp là sốt (90,7%), phát ban (83,5%), giật mình (74,5%), loét miệng (71,6%), nổi bóng nước ở vị trí đặc hiệu (58,5%) Những biểu hiện khác ít gặp hơn như nôn ói (24,3%), run chi (22,4%), tiêu chảy (8,6%), ho (13,8%), chảy mũi (12,4%) Tỉ lệ biến chứng là 47,7% Các biến chứng thường gặp là viêm màng não

vô trùng (36,8%), viêm não (9,1%), liệt mềm cấp (8,4%), co giật (6%), sốc (2,1%), phù phổi cấp (2,1%), liệt thần kinh sọ (0,7%), viêm cơ tim (0,2%)

Kết luận: BTCM biểu hiện rất cấp tính, biến chứng có thể xuất hiện rất sớm trong ngày đầu tiên, nhưng

thường từ ngày thứ 2-5, một vài trường hợp muộn hơn vào ngày 6-8 Nhóm BTCM do EV71 thường có biến chứng nhiều hơn nhóm EV non-71 với tỉ số chênh là 1,57 (1,06-2,33)

Từ khóa: bệnh tay chân miệng, enterovirus, RT-PCR

ABSTRACT

DEMOGRAPHIC FEATURES AND CLINICAL MANIFESTAIONS OF ENTEROVIRUS-INDUCED

HAND-FOOT-MOUTH DISEASE

Tang Chi Thuong, Nguyen Thanh Hung, Do Van Niem, Truong Huu Khanh, Bach Van Cam,

Nguyen Bach Hue, Le Anh Tuan, Le Phan Kim Thoa

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 87 - 93

Study objectives: describe the demographic features and clinical manifestations of Enterovirus –induced

Hand – Foot – Mouth disease; and determine the proportion and occurring time of common complications

Methods: A prospective study of 419 Enterovirus-induced HFMD cases identified by RT-PCR directed

from pharyngeal swap, CSF and vesicular swap at Children’s hospital 1 from April 2007 to March 2008

Results: There are 163 cases positive with EV71 (38.9%) Male is more than female (61.1% vs 38.9%) Age

of patients range from 3 to 80 months with the mean age of 21.19 ± 10.08 months Most of cases (94%) are under

36 months Cases are from every province in the South of Vietnam, both urban and rural Common symptoms and signs are fever (90.7%), skin rash (83.5%), myoclonic check (74.5%), herpangina (71.6%), vesicular lesions

* Bệnh viện Nhi Đồng 1

Trang 2

(58.5%) Other signs are vomiting (24.3%), extremity myoclonus (22.4%), cough (13.8%), nose running (12.4%), diarrhea (8.6%) The proportion of complication is 47.7% Common complications are aseptic meningitis (36.8%), encephalopathy (9.1%), paresis and acute flaccid paralysis (8.4%), convulsion (6%), neurological shock (2.1%), pulmonary edema (2,1%), cranial nerve paralysis (0.7%), endocarditis (0.2%)

Conclusion: HFMD is an acute disease The complications can be detected very early in the first day,

common from day 2-5, but can be late from 6-8 days Complication occurs in EV71 group more often than in Non-EV71 group with the OR of 1.57 (CI: 1.06-2.33)

Key words: Hand-food-mouth disease (HFMD), enterovirus, RT-PCR

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tay chân miệng (BTCM) hiện đã trở

thành một bệnh lưu hành ở khu vực phía Nam

Thống kê hằng năm tại Bệnh viện Nhi đồng 1

(BVNĐ1), tổng số lượt khám và nhập viện do

BTCM tương đương với sốt xuất huyết Dengue

BTCM do vi rút đường ruột gây ra, lây lan

nhanh qua đường tiêu hóa, nguy cơ phát triển

thành dịch, đặc biệt trong môi trường chăm sóc

trẻ tập trung như nhà trẻ, mẫu giáo Biểu hiện

lâm sàng bằng vết loét ở miệng, nổi bóng nước

vùng lòng bàn tay, bàn chân, mông, gối Hai tác

nhân quan trọng là Coxaskie A 16 và

Enterovirus 71 (EV71) BTCM do EV71 có thể

gây biến chứng nguy hiểm như viêm thân não,

viêm cơ tim, phù phổi cấp; diễn tiến bệnh nặng

rất nhanh và tử vong cao Trên thế giới từ năm

1974(6), BTCM do EV71 đã xuất hiện ở hầu hết

các nước và gây ra khoảng 13 trận dịch lớn nhỏ

như năm 1973 và 1978 tại Nhật Bản; tại Bungary

và Hungary vào những năm cuối của thập kỷ 70

đã có 4 trận dịch và gây nhiều ca tử vong do

biến chứng viêm thân não; tại Mã Lai và Trung

quốc - Đài Loan năm 1997 – 1998 (7), Singapore(1)

Trong thời gian xảy ra dịch tại Trung quốc - Đài

Loan năm 1998 đã có trên 100.000 ca mắc bệnh

và 78 ca tử vong

Từ năm 2002 – 2003, tại BVNĐ1 đã xuất hiện

nhiều ca viêm não tối cấp, gây tử vong rất

nhanh ở trẻ nhỏ hơn 3 tuổi(9,5) Trong đó, một số

trẻ có biểu hiện lâm sàng điển hình của BTCM

Qua nghiên cứu tại BVNĐ1 phối hợp với Viện

Pasteur TP Hồ Chí Minh, lần đầu tiên đã phân

lập được EV71 trong phân trẻ BTCM có biến

chứng viêm não tại Việt nam vào ngày 04 tháng

8 năm 2003(5) Từ đó đến nay, số ca mắc BTCM gia tăng nhanh hàng năm Năm 2006 đã có trên

2000 trường hợp mắc mới được chẩn đoán với trên 400 ca có biến chứng thần kinh, trong đó 63% trẻ bệnh thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu về tác nhân BTCM phối hợp giữa BVNĐ1 và Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh năm 2005 bằng phương pháp nuôi cấy đã xác định được 2 tác nhân chính là Coxsaskie A 16 và EV71, trong đó EV71 chiếm tỉ lệ 46%(8)

Nhằm hiểu rõ hơn về đặc điểm dân số học, biểu hiện lâm sàng và các biến chứng của BTCM chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm dân số học, biểu hiện lâm sàng BTCM do enterovirus

Xác định tỉ lệ các biến chứng thường gặp và thời điểm xuất hiện các biến chứng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu khi có

2 tiêu chuẩn sau:

(a) Có chẩn đoán lâm sàng là BTCM: khi có một trong các dấu hiệu sau: (1) có sang thương điển hình ở miệng: vết loét đỏ hay bóng nước đường kính 2-3 mm ở vòm khẩu cái, niêm mạc

má, nướu, lưỡi; (2) bóng nước có kích thước 2-10

mm ở lòng bàn tay, bàn chân, gối, mông có tính chất: hình bầu dục, nổi cộm hay ẩn dưới da, trên nền hồng ban, không đau, khi bóng nước khô để lại vết thâm, không loét Trường hợp biến chứng nếu kèm theo một trong các biểu hiện sau: (1) run chi hoặc giật mình; (2) yếu liệt chi hay liệt thần kinh sọ, (3) co giật hoặc hôn mê; (4) phù

Trang 3

phổi hay trụy mạch; (5) dịch não tủy có số lượng

tế bào bạch cầu > 5 tế bào/mm3 Trường hợp

biến chứng nặng nếu kèm theo biểu hiện (1)

viêm cơ tim, (2) viêm não hoặc (3) phù phổi cấp

(b) Có xét nghiệm RT-PCR dương tính với

EV, EV71 trên ít nhất một mẫu bệnh phẩm phết

họng, phết trực tràng, phết bóng nước hay dịch

não tủy ở trường hợp có nghi ngờ biến chứng

thần kinh

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được loại trừ khỏi nghiên cứu

khi có một trong 2 tiêu chuẩn sau:

Gia đình bệnh nhi không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Tổn thương da do vi trùng

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến

cứu

Chọn bệnh nhân đến khám lần đầu, có biểu

hiện lâm sàng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán BTCM

Thời gian chọn ca bệnh vào nhóm nghiên cứu từ

tháng 4/2007 đến tháng 3/2008 Mỗi tuần chọn 8

ca bệnh đầu tiên Trường hợp số ca bệnh trong

tuần không đủ sẽ chọn bổ sung trong những

tuần kế tiếp

Dựa trên kết quả nghiên cứu thử nghiệm tại

BVNĐ1 với tỉ lệ phát hiện EV bằng RT-PCR là

67%; nghiên cứu hợp tác giữa BVNĐ1 và Viện

Pasteur TP Hồ Chí Minh với tỉ lệ EV71/EV là

50%; tổng số bệnh nhân BTCM đến khám trong

năm 2006 tại BV Nhi đồng 1 là 2225 bệnh nhân

Ước tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả dựa vào

chương trình Epi Info 2002 là 400 bệnh nhân

BTCM tương ứng với số bệnh nhân BTCM do

EV71 cần đạt là 125, sai số xa nhất chấp nhận ở

mức 5%, alpha 95%

Bệnh nhân chọn vào nghiên cứu sẽ được

theo dõi diễn tiến lâm sàng trong ít nhất 7

ngày đầu của bệnh, lấy mẫu phết họng, phết

bóng nước (nếu có thể), dịch não tủy khi có

biến chứng để thực hiện chẩn đoán nguyên

nhân bằng qui trình chẩn đoán 3 bước: xác

định nhiễm EV bằng RT-PCR với đoạn mồi

EV, xác định nhiễm EV71 bằng RT-PCR với đoạn mồi EV71 nếu bước 1 dương tính với

EV, định lượng nồng độ vi rút bằng Real-time RT-PCR với đoạn mồi EV nếu kết quả bước 2 dương tính với EV71 Việc điều trị theo Phác

đồ điều trị nhi khoa BVNĐ1 do NXB Y Học phát hành, xuất bản năm 2006

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Sau 12 tháng chúng tôi đã chọn được 449 bệnh nhân vào khảo sát Tất cả các bệnh nhân được lấy ít nhất 1 mẫu bệnh phẩm bao gồm phết họng, phết bóng nước, phết trực tràng và dịch não tủy khi có nghi ngờ biến chứng thần kinh

Có 419 bệnh nhân có ít nhất 1 mẫu bệnh phẩm dương tính với EV (93,3%) được đưa vào phân tích Trong đó có 163 (38,9%) trường hợp dương tính với EV71, đạt yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu 125 bệnh nhân EV71 theo thiết kế ban đầu nhằm đảm bảo các số liệu thống kê có giá trị đáng tin cậy Tỉ lệ dương tính EV71 tương tự như nghiên cứu của Phan Van Tu và cộng sự(8), nhưng thấp hơn các báo cáo tại Singapore(1) và Đài Loan(4,7)

80 60

40 20

0

Tháng tuổi

70 60 50 40 30 20 10 0

1 0 0 0 0 3 0 3 3 5 2 5 3 23 32 26 42 60

44 59 69

26 12 1

Mean = 21.19 Std Dev = 10.802

N = 419

Biểu đồ 1: Phân bố tuổi theo tháng

Tuổi trung bình là 21,19±10,80 tháng; thay đổi từ 3 đến 80 tháng Đa số trẻ dưới 36 tháng tuổi (94%) Tuổi trung vị là 19 tháng (Giá trị tứ phân vị trên và dưới là 13-27 tháng) So với nghiên cứu trước đây vào năm 2005 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, tuổi trung vị trong nghiên cứu này cao hơn (năm 2005: tuổi trung vị 14: 11-20), nhưng tương tự với nghiên cứu tại Đài Loan năm từ 1998-2005(1,3,5)

Trang 4

Có 256 trẻ nam chiếm tỉ lệ 61,1%; tỉ lệ này

tương đương với nghiên cứu năm 2005(9,5)

Phân tích theo địa phương, trẻ ở Tp Hồ Chí

Minh chiếm gần phân nửa các trường hợp Đây

là nghiên cứu các bệnh nhân đến điều trị tại một

bệnh viện nên không đại diện cho tỉ lệ phân bố

chung trong cộng đồng Tuy nhiên, dữ liệu

nghiên cứu cho thấy bệnh không còn khu trú ở

một số địa phương đặc biệt mà xuất hiện ở khắp

các tỉnh phía Nam (Bảng 1)

Bảng 1: Phân bố bệnh tay chân miệng theo địa

phương

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh xuất hiện

ở tất cả các địa phương, không thấy có sự khác

biệt lớn giữa khu vực nội thành và ngoại thành

Những quận huyện có địa bàn gần bệnh viện có

số lượng bệnh nhân nhiều hơn tương tự như tất

cả các loại bệnh lý khác

Có 82 trẻ đi học chiếm 19,6% Trong đó 6 trẻ

(1,4%) có bạn ở trường mắc bệnh tay chân

miệng Tại gia đình có 37 trường hợp có trẻ đã

từng mắc bệnh (8,8%) và bản thân trẻ có 7 trẻ đã

từng được chẩn đoán lâm sàng bệnh tay chân

miệng trong tiền sử Tỉ lệ trẻ đi học tại các trường mầm non chiếm tỉ lệ khá cao đến gần 20% là một yếu tố dịch tễ quan trọng gây nguy

cơ lây lan rộng và nhanh trong cộng đồng như

đã ghi nhận tại các nghiên cứu ở các nước(1,2) Đây là một yếu tố cần lưu ý trong chiến lược phòng bệnh Trong nghiên cứu này không phát hiện chùm ca bệnh trong trường mầm non Trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường chiếm tỉ lệ 77,1% Có 16,8% trẻ suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ đến trung bình, 1% trẻ SDD nặng và 5,1% trẻ dư cân Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng dinh dưỡng giữa nhóm EV non-71 và EV71

Về biểu hiện lâm sàng: 3 triệu chứng khởi phát thường gặp nhất chiếm đến 94,5% các trường hợp bệnh là sốt (67,8%), phát ban (19,3%)

và loét miệng (7,4%) Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về triệu chứng khởi phát giữa nhóm EV71 và EV non-71

Sốt là triệu chứng thường gặp nhất chiếm 90,7% Sốt thường xuất hiện sớm trong 3 ngày đầu của bệnh, đặc biệt là ngày đầu tiên với tỉ lệ 76,6% Thời điểm sốt cao nhất thường từ ngày thứ 2 – 5 của bệnh, thường gặp nhất là ngày 3 (31,9%) Khoảng ¾ trường hợp sốt nhẹ đến vừa, 25% có biểu hiện sốt cao trên 39oC, trong đó có 7,5% trường hợp sốt cao trên 40oC Sốt thường kéo dài trung bình là 2,6 ± 1,8 ngày Hầu hết trường hợp (85%) sốt ngưng trước ngày thứ 5 của bệnh Hầu hết (95%) các trường hợp biến chứng xảy ra ngay trong giai đoạn bệnh nhân còn sốt hoặc trong ngày cuối cùng của giai đoạn sốt Chỉ có 4 trẻ biến chứng không có sốt và 10 trẻ xuất hiện biến chứng khi đã hết sốt sau 24 giờ (1 trường hợp liệt mềm cấp, 1 trường hợp viêm não, 8 trẻ viêm màng não)

Phát ban là biểu hiện thường gặp đứng thứ hai sau sốt, chiếm 83,5% các trường hợp Hình thức phát ban có thể thay đổi từ dạng phát ban không đặc hiệu đến sẩn hồng ban, mụn nước hay bóng nước Ban có thể rải rác khắp người, nhưng thường tập trung ở các vị trí đặc biệt như lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối – cẳng

Trang 5

chân, khuỷu – cẳng tay Phát ban đặc hiệu dạng

sẩn – mụn nước trên nền hồng ban hay bóng

nước điển hình thường gặp nhất ở lòng bàn

chân (72,3%), lòng bàn tay (64,4%), mông

(45,1%), gối và cẳng chân (33,4%), khuỷu và

cẳng tay (20,3%) Sẩn và mụn nước trên nền

hồng ban kín đáo là hai dạng phát ban hay gặp

nhất Điểm đặc biệt là không đau, không ngứa,

tự khỏi rất nhanh trong vài ngày và hầu như

không gặp biến chứng loét hay bội nhiễm sau

khi xuất hiện bóng nước như những bệnh lý

khác Điều cần lưu ý là không có trường hợp

nào chỉ có phát ban không đặc hiệu đơn thuần,

không kèm theo phát ban dạng sẩn, mụn nước

hay bóng nước điển hình ở một trong các vị trí

trên Đây là một đặc điểm rất quan trọng giúp

chẩn đoán loại trừ bệnh tay chân miệng với các

bệnh lý có phát ban khác nếu thực hiện khám

lâm sàng một cách kỹ lưỡng Phát ban thường

xuất hiện sớm trong ba ngày đầu của bệnh

(92,9%), kéo dài 3,051,78 ngày, phần lớn trẻ

không còn biểu hiện phát ban sau ngày thứ 5

của bệnh (79,1%) Do đó, những trẻ đến muộn

có thể biểu hiện bằng các biến chứng nhưng

không có biểu hiện phát ban

Giật mình - hoảng hốt (myoclonic jerk) là

biểu hiện lâm sàng đứng thứ ba về xuất độ,

chiếm tỉ lệ 74,5% các trường hợp Giật mình có

thể xuất hiện rất sớm ngay từ ngày đầu tiên

(26,5%) Tập trung từ ngày thứ 2 đến 5 và phần

lớn chỉ gặp trong 5 ngày đầu tiên (98,7%) Giật

mình thường xuất hiện 1-2 ngày trước khi có

biến chứng thần kinh (40,3%); 27,2% trường hợp

giật mình xuất hiện ngay trong ngày có biến

chứng và 5,6% trường hợp biến chứng nhưng

không có triệu chứng giật mình Đây là một đặc

điểm rất quan trọng trong theo dõi và phát hiện

sớm diễn tiến nặng của bệnh để xử trí kịp thời

Loét miệng là biểu hiện thường gặp thứ tư

sau sốt, phát ban và giật mình, chiếm 71,6%

trường hợp Đây cũng là một dấu hiệu sớm của

bệnh, hầu hết xuất hiện trong 2 ngày đầu của

bệnh và rất ít khi xuất hiện sau ngày thứ 3 Loét

miệng thường kéo dài, trên ¾ còn loét miệng sau ngày 5 của bệnh và khoảng 10% trẻ còn loét miệng sau ngày thứ 7 Có 44 trường hợp (10,5%)

có biểu hiện loét miệng đơn thuần mà không kèm biểu hiện phát ban

Các biểu hiện lâm sàng được thân nhân quan tâm nhất, lí do mang trẻ đến khám thường gặp theo thứ tự là giật mình (37,9%), sốt (22%), phát ban (13,1%), loét miệng (4,1%), tiêu chảy (1,7%), biếng ăn (1%) Giật mình là một dấu hiệu biến chứng và cũng là biểu hiện được thân nhân quan tâm nhiều nhất cho thấy mức độ diễn tiến cấp tính của bệnh, cần quan tâm trong công tác truyền thông nhằm phát hiện sớm biến chứng

để điều trị kịp thời

Phân tích ngày đến khám đầu tiên của trẻ cho thấy hầu hết trẻ đến vào các ngày 2-5 của bệnh Một số ít trẻ nhập viện trễ sau 7 ngày nhưng có liên quan đến nhiều triệu chứng không đặc hiệu có thể do sự tiếp nối của 2 đợt bệnh liên tiếp, trong đó đợt bệnh đầu tiên không phải là BTCM Không có khác biệt về ngày khám đầu tiên giữa nhóm EV71 và EV non-71

Tỉ lệ xuất hiện hiện các triệu chứng lâm sàng và sự khác biệt về triệu chứng giữa nhóm EV71, EV non-71 trình bày trong bảng 2:

Trang 6

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng BTCM do EV71 và EV non-71

Nhóm Dấu hiệu

Có đến 47,4% bệnh nhân có ít nhất một biểu

hiện biến chứng từ nhẹ đến nặng Các biến

chứng thường gặp theo thứ tự là viêm màng não

(36,8%), viêm não (9,1%), yếu liệt chi (8,4%), co

giật (6%), sốc (2,1%), phù phổi (2,1%), liệt thần

kinh sọ (0,7%), viêm cơ tim (0,2%) Không ghi

nhận biến chứng cao huyết áp ở các bệnh nhân

trong nghiên cứu này như nghiên cứu của

Monto Ho và cộng sự, tỉ lệ biến chứng viêm

màng não chiếm tỉ lệ cao hơn(7)

Biến chứng có thể xuất hiện rất sớm ngay từ

ngày đầu tiên của bệnh nhưng ít gặp (0,95%)

Thường biến chứng xảy ra vào ngày thứ 2 đến

ngày 5 của bệnh (88,7%) Trong đó, ngày thứ 3

của bệnh là thường gặp nhất chiếm tỉ lệ 35%,

phù hợp với thời điểm thường sốt cao và xuất

hiện triệu chứng thở nhanh, nhịp tim nhanh

Một số ít trường hợp biến chứng viêm màng

não và liệt mềm cấp xuất hiện hơn muộn vào

ngày thứ 6 đến ngày 8

Phân tích số lượng bạch cầu trong máu nhận

thấy; số lượng bạch cầu trung bình ở nhóm có

biến chứng là 13.037±4348/mm3 cao hơn nhóm

không biến chứng là 11.553±4.114/mm3

(p=0,001); tương tự số lượng neutrophile ở

nhóm biến chứng là 6.828±3.521/mm3 so với nhóm không biến chứng 5.494±2.939/mm3

(p<0,001) Tuy nhiên, số lượng limphocyte không có sự khác biệt giữa 2 nhóm (5.046±2.287/mm3 so với 5.440±2.765/mm3) Dùng ngưỡng bạch cầu > 13.000/mm3 và neutrophile > 7.000/mm3 làm ngưỡng so sánh; nhận thấy nhóm tăng bạch cầu và neutrophile có biến chứng cao hơn với tỉ số chênh tương ứng là 1,92 (1,27-2,92) (p = 0,002) và 2,24 (1,44-3,48) (p < 0,001) Trong nghiên cứu của Luan-Yin Chang và cộng sự ghi nhận tăng bạch cầu trên 17500/mm3

liên quan với nguy cơ phù phổi cấp(2) Phân tích đặc điểm dịch não tủy của các trường hợp biến chứng thần kinh cho thấy, số lượng bạch cầu dịch não tủy tăng cao với số trung bình 161±218/mm3 (thay đổi từ 5-1.955/mm3); 48% bệnh nhân có số bạch cầu DNT trên 100/mm3; 3,5% có số bạch cầu trên 500/mm3; 50,3% bệnh nhân có tăng bạch cầu với số lượng neutrophile ưu thế Đây là những điểm cần lưu

ý để chẩn đoán phân biệt với viêm màng não

mủ trong các đợt cao điểm BTCM nhằm tránh lạm dụng kháng sinh không cần thiết

Trang 7

KẾT LUẬN

BTCM là một bệnh lưu hành ở khu vực phía

Nam, thường gặp ở trẻ dưới 36 tháng Đây là

một bệnh cấp tính, biểu hiện lâm sàng điển hình

với các triệu chứng sốt, phát ban ở các vị trí đặc

hiệu, loét miệng và giật mình; giúp chẩn đoán

chính xác trên 90% Biến chứng có thể xuất hiện

rất sớm ngay từ ngày đầu tiên, mức độ biến

chứng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng nhưng tỉ lệ

biến chứng rất cao đến gần 50% Những biến

chứng thường gặp là viêm màng não vô trùng

(36,8%), viêm não (9,1%), liệt mềm cấp (8,4%)

EV71, bạch cầu tăng trên 13.000/mm3,

neutrophile tăng trên 7.000/mm3 liên quan với

nguy cơ biến chứng với tỉ số chênh tương ứng là

1,57; 1,92 và 2,24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Caused by Human Enterovirus 71, Singgapore Emerg Infect Dis 9 (1): 78-84

2 Chang LY et al (1999) Clinical features and risk factors of pulmonary oedema after enterovirus-71 related hand, foot, and mouth disease The Lancet, 354 (13): 1682-86

and Associated Hand, Foot, and Mouth Disease/Herpangina in Children During an Epidemic in Taiwan Pediatrics 109 (6): e88

Hand-Foot-Mouth Disease and Herpangina Caused by Enterovirus 71 in Taiwan, 1998-2005 Pediatrics 120 (2): e244-52

bệnh viện: phương pháp dự báo dịch viêm não do enterovirus

71 Y học - TP.HCM, tập 9, số 3: 66-71

Mealses - A Life-threateningDisease: Case Report Pediatrics 37 (4): 644-46

Taiwan; N Eng J Med 341 (13): 929-35

Hand, Foot, and Mouth Disease, Southern Vietnam, 2005; Emerging Infectious Diseases 2007; 13 (11): 1733-41

trong chẩn đoán và xử trí nhiễm enterovirus 71 ở trẻ em Y học - TP.HCM, tập 9, số 3: 58-66

Ngày đăng: 23/01/2020, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w